KÝ HIỆU VIẾT TẮT
GCNQSDĐ
:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
TAND
:
Toà án nhân dân
TANDTC
:
Toà án nhân dân tối cao
TCĐC
:
Tổng cục Địa chính
TCĐĐ
:
Tranh chấp đất đai
3
ĐẤT ĐAI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
1.1. Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp đất đai
3
1.2. Đánh giá tình hình tranh chấp đất đai hiện nay và nguyên
5
nhân dẫn đến tranh chấp đất đai
1.2.1. Đánh giá tình hình tranh chấp đất đai hiện nay
5
1.2.2. Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp đất đai
8
1.3. Khái niệm và nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai
10
1.3.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai
10
1.3.2. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai
2.2. Các quy định cụ thể về thẩm quyền giải quyết tranh chấp
23
đất đai của Toà án nhân dân
2.2.1. Toà án nhân dân giải quyết các tranh chấp đất đai mà đương
23
sự có GCNQSDĐ hoặc các giấy tờ quy định tại khoản 1, 2 và 5
Điều 50 Luật đất đai năm 2003
2.2.2. Toà án nhân dân giải quyết các tranh chấp về tài sản gắn liền
27
với quyền sử dụng đất
2.3. Đường lối giải quyết một số loại tranh chấp đất đai
29
2.3.1. Tranh chấp đòi lại đất
29
2.3.2. Tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
32
2.3.3. Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất
44
đất đai giữa Toà dân sự và Toà hành chính
3.2. Quan điểm và định hướng hoàn thiện thẩm quyền giải quyết
45
tranh chấp đất đai của Toà án nhân dân
3.3. Một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết
47
tranh chấp đất đai của Toà án nhân dân
KẾT LUẬN
53
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
55
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Kể từ khi đất nước ta thực hiện đổi mới, chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan
liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường đã dẫn tới nhiều thay đổi trong xã hội,
trong đó có lĩnh vực đất đai. Đất đai từ chỗ đơn thuần là từ liệu sản xuất nay trở
kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế phân định thẩm quyền, nâng cao hiệu quả giải
quyết tranh chấp đất đai của Toà án nhân dân.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Việc nghiên cứu chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp duy vật biện
chứng; ngoài ra kết hợp phương pháp phân tích, so sánh với tổng hợp.
4. KẾT CẤU KHOÁ LUẬN
Về kết cấu, ngoài Lời nói đầu và Kết luận, khoá luận gồm có 3 chương:
Chương I:
Một số vấn đề lí luận về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh
chấp đất đai
Chương II: Các quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai của
Toà án nhân dân theo khoản 1 Điều 136 Luật đất đai năm 2003
Chương III: Những vướng mắc trong thẩm quyền giải quyết và một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đất đai của Toà án nhân dân
Dù đã hết sức cố gắng và được sự giúp đỡ, chỉ bảo rất tận tình của cô giáo
hướng dẫn, cũng như các thầy cô trong quá trình học tập, các cô chú công tác trong
trường, người thân và bạn bè, song do trình độ nhận thức và thời gian nghiên cứu
còn hạn chế nên khoá luận này khó tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được
những nhận xét, góp ý của các thầy cô, cũng như những ai quan tâm tới đề tài này
để khoá luận được hoàn thiện hơn.
3
CHƯƠNG I
Theo nghĩa rộng, TCĐĐ là một dạng tranh chấp dân sự, biểu hiện sự mâu
thuẫn, bất đồng trong việc xác định quyền quản lý, chiếm hữu, sử dụng đối với đất
đai khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đất đai.
Theo nghĩa hẹp, TCĐĐ là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về
quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai.
TCĐĐ có những điểm khác biệt so với vi phạm pháp luật đất đai. Ở vi phạm
pháp luật đất đai, đó là hành vi trái pháp luật, được thực hiện một cách cố ý hoặc
vô ý, xâm phạm các quy định về quản lý và sử dụng đất đai, thí dụ như: giao đất,
cho thuê đất không đúng thẩm quyền, lấn chiếm đất đai, chuyển quyền sử dụng đất
trái phép…TCĐĐ nảy sinh khi có những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa
vụ giữa các chủ thể nhưng nó nhiều khi lại không vi phạm nghĩa vụ của người sử
dụng đất. Còn vi phạm pháp luật đất đai thì luôn có sự vi phạm các quy định của
pháp luật đất đai.
So với các tranh chấp dân sự khác, TCĐĐ có một số đặc điểm riêng như sau:
Thứ nhất, đối tượng của TCĐĐ là quyền quản lý, quyền sử dụng và những lợi
ích phát sinh từ quá trình sử dụng một loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở
hữu của các bên tranh chấp.
Thứ hai, các chủ thể TCĐĐ chỉ là chủ thể quản lý và sử dụng đất, không có
quyền sở hữu đối với đất đai. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước làm
người đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Quyền sử dụng đất của các chủ
thể phát sinh trên cơ sở quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nước. Nhà nước
cho phép nhận chuyển nhượng từ các chủ thể khác hay công nhận quyền sử dụng
đất với đất đang sử dụng ổn định, lâu dài.
Thứ ba, TCĐĐ luôn gắn liền với qua trình sử dụng đất của các chủ thể nên
không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia tranh chấp mà còn
5
ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước vì khi xảy ra tranh chấp, một bên không thực
hiện được những quyền của mình, do đó ảnh hưởng đến việc thực hiện các nghĩa
Nhiều khi tranh chấp về quyền sử dụng đất dẫn đến những tranh chấp về địa
giới hành chính. Loại tranh chấp này thường xảy ra giữa hai tỉnh, hai huyện, hai xã
với nhau, nơi tập trung các nguồn thổ sản quý, có vai trò quan trọng trong việc phát
triển kinh tế, văn hoá, ở vị trí dọc theo các triền sông lớn, những vùng có địa giới
không rõ ràng, không có mốc giới nhưng lại có vị trí quan trọng.
1.2.2. Nguyên nhân dẫn đến tranh chấp đất đai
Mỗi TCĐĐ xảy ra đều do những nguyên nhân nhất định, cần được nghiên cứu
thận trọng và xử lý một cách kịp thời. Trong những năm vừa qua, TCĐĐ diễn ra ở
hầu hết các địa phương trong cả nước. Tuy mức độ, tính chất và phạm vi khác nhau
nhưng nhìn chung TCĐĐ đã gây ra những hậu quả nặng nề, ảnh hưởng đến trật tự,
an toàn xã hội. Từ thực tế của hiện tượng TCĐĐ có thể rút ra một số nguyên nhân
chủ yếu sau:
- Nguyên nhân khách quan
Chiến tranh kéo dài đã để lại hậu quả khác nhau trên cả hai miền. Ở miền Bắc,
sau Cách mạnh tháng Tám và sau năm 1953, Đảng và Chính phủ đã tiến hành cải
cách ruộng đất, xoá bỏ chế độ chiếm hữu ruộng đất của thực dân, phong kiến, xác
lập quyền sở hữu ruộng đất cho người nông dân. Năm 1960, thông qua con đường
hợp tác hoá nông nghiệp, ruộng đất của người nông dân được đưa vào làm tư liệu
sản xuất chung, thuộc sở hữu tập thể, do đó tình hình sử dụng đất đai khá ổn định.
Ở miền Nam, sau hai cuộc kháng chiến, tình hình sử dụng đất đai có nhiều
diễn biến phức tạp hơn. Trong 9 năm kháng chiến từ 1945 đến 1954, Chính phủ đã
tiến hành chia cấp ruộng đất cho người nông dân hai lần vào các năm 1949 – 1950
và năm 1954. Nhưng đến cuối năm 1957, ngụy quyền Sài Gòn đã tiến hành cải
cách điền địa, thực hiện việc “truất hữu” nhằm xoá bỏ thành quả của cách mạng,
gây ra những xáo trộn lớn về quyền sở hữu ruộng đất của người nông dân. Cộng
thêm vào đó là tình hình chiến tranh khiến cho cư dân phân tán, rời bỏ ruộng đất đi
lánh nạn nên quan hệ đất đai biến động thường xuyên.
9
có đầy đủ cơ sở khoa học và phương pháp quản lý cần thiết để xác định quyền sử
dụng đất cho các chủ thể. Chính sách đền bù giải phóng mặt bằng còn nhiều bất
cập, đời sống của người sử dụng đất bị thu hồi chưa được quan tâm thoả đáng.
Những điều đó đã làm giảm hiệu lực của Nhà nước trong việc giải quyết TCĐĐ.
+ Về chính sách, pháp luật đất đai chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, có mặt
không rõ ràng và đang còn nhiều biến động. Thực tế áp dụng các chính sách còn
nhiều tuỳ tiện, người có khả năng sản xuất nông nghiệp thì thiếu ruộng, người
không có khả năng thì lại được chia ruộng, đất được sử dụng kém hiệu quả. Bên
cạnh đó, các văn bản hướng dẫn thi hành những điều luật đã quy định chậm được
ban hành làm cho các cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết các vụ việc gặp nhiều
khó khăn, khiến cho việc áp dụng pháp luật thiếu hiệu quả.
+ Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai chưa thật sự được coi
trọng, vì thế trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp luật trong nhân
dân còn hạn chế. Nhiều văn bản pháp luật đất đai chưa thực sự đi vào cuộc sống.
+ Về nhân sự: một bộ phận cán bộ, công chức còn thiếu gương mẫu, tùy tiện
trong khi thực hiện nhiệm vụ, vi phạm chế độ quản lý và sử dụng đất đai. Một số
cán bộ còn có tư tưởng đặc quyền đặc lợi, chỉ lo cho lợi ích của mình; năng lực cán
bộ, công chức thực hiện công vụ quản lý đất đai còn có phần hạn chế.
Ngoài ra, việc TCĐĐ ở mỗi địa phương khác nhau còn có những nguyên nhân
đặc thù. Việc tìm ra những nguyên nhân cụ thể của tranh chấp phải căn cứ vào thực
tế sử dụng đất, phong tục tập quán của từng địa phương để có được những giải
pháp tốt nhất cho từng vụ việc.
1.3. KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN TẮC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
ĐẤT ĐAI
1.3.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai
Giải quyết TCĐĐ là hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
nhằm tìm ra giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật để giải quyết các bất đồng,
12
của mình. Bởi vậy, cùng với việc ban hành pháp luật, Nhà nước còn đảm bảo cho
pháp luật được thi hành.
Hoạt động giải quyết TCĐĐ có tầm quan trọng rất lớn bởi TCĐĐ gây ra nhiều
ảnh hưởng xấu đến chính trị, an ninh xã hội. Thông qua việc giải quyết TCĐĐ mà
các quan hệ đất đai được điều chỉnh cho phù hợp với lợi ích của Nhà nước, của xã
hội và của người sử dụng đất, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sử
dụng đất tránh sự xâm hại từ các chủ thể khác, giáo dục ý thức pháp luật cho công
dân, ngăn ngừa những vi phạm pháp luật khác có thể xảy ra. Phục hồi số quyền lợi
hợp pháp cho bên bị xâm hại, đồng thời bắt buộc bên vi phạm phải gánh chịu
những hậu quả pháp lý do hành vi của họ gây ra. Đó cũng là công việc có ý nghĩa
quan trọng để tăng cường pháp chế trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai.
Mặt khác, từ hoạt động giải quyết TCĐĐ mà các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền thấy được những điểm không phù hợp với thực tiễn của pháp luật, để từ đó
có thể nghiên cứu sửa đổi, bổ sung.
1.3.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai
Các nguyên tắc giải quyết TCĐĐ được hiểu là những tư tưởng chỉ đạo, là nền
tảng xuyên suốt trong toàn bộ quá trình thực hiện việc giải quyết TCĐĐ.
Hoạt động giải quyết TCĐĐ có vai trò vô cùng quan trọng, không chỉ ảnh
hưởng trực tiếp đến lợi ích của các bên tranh chấp mà còn tác động đến sự ổn định
xã hội và phát triển đất nước. Do đó, việc giải quyết TCĐĐ cần phải tuân theo
những nguyên tắc nhất định.
- Đảm bảo đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu
Điều 17 Hiến pháp 1992 khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
nước thống nhất quản lý”, Điều 5 Luật Đất đai 2003 quy định: “Đất đai thuộc sở
hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Đây là nguyên tắc cơ bản trong
hoạt động giải quyết TCĐĐ, đòi hỏi khi xem xét giải quyết mọi vấn đề phát sinh
trong quan hệ pháp luật đất đai đều phải thực hiện trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu
TCĐĐ là một hiện tượng phức tạp, thế nên nếu giải quyết không tốt sẽ dễ dẫn
đến nhiều hậu quả tai hại. Việc giải quyết TCĐĐ phải đảm bảo ổn định tình hình
kinh tế xã hội, không để xảy ra những xáo trộn lớn trong việc sử dụng đất, gây mất
ổn định an ninh chính trị, xã hội. Khi giải quyết TCĐĐ cần căn cứ vào hiện trạng
sử dụng đất, bảo vệ quyền lợi cho người sử dụng đất ổn định, lâu dài. Nguyên tắc
này còn đòi hỏi việc giải quyết TCĐĐ phải gắn với tổ chức lại sản xuất, tạo điều
kiện cho lao động ở nông thôn có việc làm phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ
cấu sử dụng đất. Do đó, cần chú ý đến đặc điểm từng vùng mà có những biện pháp
giải quyết khác nhau, thí dụ như ở nhiều tỉnh phía Nam có diện tích trồng lúa nước
không mang lại hiệu quả kinh tế cao, trong khi đó nếu để nuôi trồng thủy sản thì
mang lại lợi nhuận lớn; hay việc nhiều người đổ xô lên miền núi, cao nguyên mua
đất sản xuất kinh doanh trồng cà phê, cao su trong khi một bộ phận dân tộc thiếu số
không còn đất phải vào rừng sâu làm rẫy, trở lại cuộc sống du canh du cư…
- Đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa
Khi giải quyết TCĐĐ phải chú ý và tuân thủ nguyên tắc, trình tự, thủ tục,
thẩm quyền mà pháp luật đã quy định. Phát hiện và giải quyết kịp thời các vi phạm
pháp luật về đất đai, tránh tình trạng để TCĐĐ kéo dài làm ảnh hưởng tới tâm lý và
lợi ích của người dân, của Nhà nước. Đảm bảo cho pháp luật đất đai được thực
hiện một cách công bằng, nghiêm minh, nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước
bằng pháp luật trong đời sống nhân dân.
1.4. KHÁI QUÁT CÁC BƯỚC PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ
THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TCĐĐ CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN
Kể từ khi dành được độc lập, Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống văn bản
pháp luật về đất đai để đáp ứng nhu cầu quản lý và sử dụng đất đai qua các thời kỳ,
trong đó có các quy định về giải quyết TCĐĐ. Do sự thay đổi của các chính sách
pháp luật về đất đai, cùng với quá trình phát triển, đổi mới của đất nước mà các
quan hệ đất đai ngày càng đa dạng, các tranh chấp cũng ngày càng gia tăng cả về
16
mang nặng các dấu ấn của cơ chế cũ và chưa xác định được đầy đủ các quan hệ đất
đai theo cơ chế mới, chưa thừa nhận vấn đề giá đất.
Đến Luật đất đai năm 1993 đã có một bước tiến quan trọng: đó là xu hướng
mở rộng thẩm quyền của TAND trong việc giải quyết các TCĐĐ. Khoản 3 Điều 38
Luật đất đai năm 1993 quy định: “Các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà người
sử dụng đất đã có giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và tranh
chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất đó thì do Toà án giải quyết.”
Như vậy, tiêu chí để xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của UBND
hay của TAND là: có hay không giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền, có tranh chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất hay không? Tuy
nhiên, việc không xác định rõ thuật ngữ “giấy chứng nhận của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền” ở khoản 3 Điều 38 đã dẫn đến những nhận thức khác nhau của cơ
quan giải quyết tranh chấp trong quá trình áp dụng pháp luật. Để khắc phục tình
trạng này, ngày 28/7/1997 TANDTC, VKSNDTC, TCĐC đã ban hành Thông tư
liên tịch số 02/TTLT hướng dẫn: GCNQSDĐ phải là giấy do cơ quan quản lý đất
đai ở trung ương (cụ thể là TCĐC) phát hành theo Luật đất đai năm 1993 và do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất.
Với mục đích xác định rõ hơn thẩm quyền của TAND, nhưng Thông tư số
02/TTLT lại gây ra sự không thống nhất về cách hiểu GCNQSDĐ của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền. Nếu theo quy định của Thông tư thì những GCNQSDĐ do
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp trong các thời kì khác nhau như: Giấy
chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất của Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh
hoặc cấp tương đương trong thời kì cải cách ruộng đất, GCNQSDĐ theo quy định
của Luật đất đai năm 1987…sẽ do cơ quan nào giải quyết? Bởi vậy, trong quá trình
thực hiện, Thông tư liên tịch số 02/TTLT đã gây nên nhiều vướng mắc trong việc
xác định thẩm quyền giải quyết TCĐĐ, gây ra sự đùn đẩy trách nhiệm giữa TAND
và UBND, tạo ra sự ách tắc trong quá trình giải quyết TCĐĐ.
18
Bước sang thời kì đổi mới, các quan hệ đất đai không chỉ còn là các quan hệ
mang tính chất quản lý hành chính giữa Nhà nước với công dân mà còn là các quan
hệ dân sự giữa công dân với nhau thông qua việc xác lập các giao dịch dân sự về
đất đai như chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Luật đất đai năm 1987
đã quy định thẩm quyền giải quyết TCĐĐ của TAND, tuy vẫn chỉ hạn chế trong
việc giải quyết các tranh chấp về tài sản gắn liền với việc sử dụng đất đó.
Luật đất đai năm 1993 đã mở rộng thẩm quyền giải quyết TCĐĐ của TAND.
Theo đó, TAND không chỉ có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về tài sản gắn
liền với quyền sử dụng đất mà còn có thẩm quyền giải quyết các TCĐĐ khi người
sử dụng đất đã có GCNQSDĐ của cơ quan nhà nước. Sự phân định thẩm quyền
giải quyết TCĐĐ giữa hệ thống cơ quan hành chính (UBND các cấp) và cơ quan tư
pháp (hệ thống TAND) đã rành mạch và rõ ràng hơn.
Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh chóng của tình hình kinh tế - xã hội, các
TCĐĐ ngày càng gia tăng. Pháp luật về giải quyết TCĐĐ, trong đó có thẩm quyền
về giải quyết TCĐĐ của TAND còn nhiều hạn chế, bất cập, không theo kịp đòi hỏi
thực tế. Để khắc phục tình trạng đó, ngày 26/11/2003 Quốc hội khoá XI kì họp thứ
4 của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam đã thông qua toàn văn Luật đất đai mới,
gọi là Luật đất đai năm 2003 với nhiều nội dung tiến bộ, trong đó có các quy định
về thẩm quyền giải quyết TCĐĐ của TAND.
Tóm lại, TCĐĐ hiện đang là tranh chấp chủ yếu trong giai đoạn hiện nay, với
nhiều hình thức và thường phức tạp, xuất phát từ nhiều nguyên nhân. TCĐĐ gây ra
nhiều ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, phát triển kinh tế, đến sự đoàn kết trong
nội bộ nhân dân nên công tác giải quyết TCĐĐ cần đảm bảo các nguyên tắc đã
được đề ra. Qua thời gian, vấn đề giải quyết TCĐĐ ngày càng được chú trọng và
quan tâm đúng mức hơn, phần nào đáp ứng được đòi hỏi của thực tế.
20
Chính vì vậy, Luật đất đai năm 1993 lần đầu tiên đã thể hiện thái độ của Nhà
nước trong việc khuyến khích hoà giải các TCĐĐ. Và nếu như trong Luật đất đai
năm 1993, hoà giải mới chỉ được khuyến khích thì trong Luật đất đai năm 2003,
hoà giải TCĐĐ là một bước bắt buộc, là thủ tục đầu tiên của quá trình giải quyết
TCĐĐ (Điều 135, 136 Luật đất đai năm 2003).
Công văn số 116/2004/KHXX ngày 22/7/2004 của TANDTC về thực hiện
thẩm quyền của TAND theo quy định của Luật đất đai năm 2003 có hướng dẫn:
+ Kể từ ngày 1/7/2004 trở đi, TAND chỉ thụ lý, giải quyết các TCĐĐ nếu
TCĐĐ đó đã được hoà giải tại UBND cấp xã mà một bên hoặc cả hai bên đương
sự không nhất trí và khởi kiện đến TAND. Trong trường hợp đương sự nộp đơn
khởi kiện yêu cầu TAND thụ lý, giải quyết TCĐĐ mà tranh chấp đó chưa được
hoà giải tại UBND cấp xã, thì TAND trả lại đơn khởi kiện cho đương sự và hướng
dẫn họ thực hiện theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 Luật đất đai năm 2003.
+ Đối với các TCĐĐ mà TAND thụ lý trước ngày 1/7/2004 thì TAND tiếp tục
giải quyết mà không trả lại đơn khởi kiện cho đương sự để tiến hành việc hoà giải
tại UBND cấp xã.
Như vậy, hoà giải TCĐĐ tại UBND cấp xã trở thành một thủ tục bắt buộc, và
TAND không có thẩm quyền đương nhiên trong việc giải quyết các TCĐĐ thuộc
thẩm quyền của mình. TAND chỉ thụ lý giải quyết các TCĐĐ thuộc thẩm quyền
của mình nếu TCĐĐ đã được hoà giải tại UBND cấp xã mà một bên hoặc các bên
đương sự không nhất trí. Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là có phải tất cả các TCĐĐ
đều phải qua thủ tục hoà giải hay không? Vấn đề này hiện có hai ý kiến khác nhau:
Ý kiến thứ nhất cho rằng Điều 135, 136 Luật đất đai năm 2003 và Nghị định
số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất
đai không chỉ rõ loại tranh chấp nào phải qua hoà giải, hơn nữa hoà giải là cơ hội
tốt để các bên tranh chấp có điều kiện thoả thuận tự giải quyết tranh chấp, đảm bảo
được đoàn kết, góp phần gìn giữ trật tự an ninh xã hội nên tất cả các TCĐĐ đều