1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do thực hiện đề tài:
Những năm gần đây, các nhà quản lý doanh nghiệp ngày càng quan tâm
nhiều hơn đến kế toán quản trị, mục đích nhằm nâng cao chất lƣợng quản lý, tăng
cƣờng khả năng thích ứng và cạnh tranh trong nền kinh tế thị trƣờng của Việt Nam
nói riêng và nền kinh tế toàn cầu hóa nói chung, chính vấn đề này làm nổi bật ý
nghĩa của kế toán quản trị, tối ƣu hóa hiệu quả việc sử dụng vốn, thông tin do kế
toán quản trị cung cấp mang tính linh hoạt, phản ảnh xu hƣớng biến động, có tính
dự báo, có thể phục vụ cho việc đánh giá và xây dựng kế hoạch tài chính phù hợp
với mục tiêu đã đƣợc xác lập.
Trên thế giới kế toán quản trị tồn tại rất lâu trong hệ thống kế toán doanh
nghiệp, tuy nhiên nó mới đƣợc phát triển một cách có hệ thống về lý luận và thực
tiễn ở những năm gần đây, đặc biệt ở các doanh nghiệp có quy mô lớn, có trình độ
nhất định về khoa học kỹ thuật cũng nhƣ trình độ quản lý, điều kiện xử lý thông tin.
Ở tại Việt Nam, trong điều kiện ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế
thế giới và khu vực, kế toán quản trị đã xuất hiện phát triển gắn liền với chính sách,
chế độ kế toán áp dụng ở các doanh nghiệp. Tuy nhiên vào đầu những năm 1990 kế
toán quản trị mới đƣợc đề cập một cách có hệ thống và trở thành yêu cầu cấp bách
trong việc xây dựng hệ thống thông tin kế toán vào đầu những năm 2000, khi yêu
cầu nâng cao chất lƣợng quản lý để tăng năng lực cạnh tranh trên thị trƣờng Việt
Nam và mở rộng ra thị trƣờng khu vực và thế giới.
Tuy nhiên việc vận dụng kế toán quản trị vào các tổ chức không vì lợi nhuận
là một vấn đề còn nhiều quan điểm khác nhau, đặc biệt với các doanh nghiệp Nhà
nƣớc hoạt động trong lĩnh vực công ích. Đây là một vấn đề mang tính bổ sung lý
luận và vận dụng trong thực tiễn trong giai đoạn hiện nay ở các công ty hoạt động
công ích. Chính vì thế tác giả chọn đề tài: " Tổ chức hệ thống kế toán quản trị tại
Công Ty TNHH MTV Khai Thác Công Trình Thủy Lợi Bình Thuận" với hy vọng
đề tài sẽ giúp cho ban giám đốc của Công ty quan tâm và ứng dụng của kế toán
quản trị, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh
5. Các nghiên cứu có liên quan:
Trong thời gian qua, các đề tài nghiên cứu về công tác tổ chức và vận dụng
KTQT cho các loại hình DN nhỏ và vừa, DN lớn, vận dụng KTQT cho từng phần
hoặc ứng dụng toàn bộ nội dung KTQT. Vận dụng trong SXKD và kể cả trong các
đơn vị hành chính sự nghiệp là khá nhiều, rất khó nêu hết các đề tài nghiên cứu liên
quan đến KTQT. Trong luận văn này tác giả sẽ nêu một số đề tài qua các năm đã
bảo vệ thành công tại Trƣờng Đại học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh.
3
Trong năm 2013 có nhiều đề tài liên quan nhƣ: Tác giả Nguyễn Thành Kim
Dung (2013) đã nghiên cứu về “ Tổ chức công tác KTQT tại các doanh nghiệp vận
tải thủy nội địa Logistics trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”; Tác giả Nguyễn Thị
Phúc Loan (2013) đã nghiên cứu về “Ứng dụng kế toán quản trị tại các doanh
nghiệp xẻ và kinh doanh gỗ tròn ở tỉnh Phú Yên”; Tác giả Nguyễn Thị Thi Thơ
(2013) đã nghiên cứu về “Tổ chức công tác KTQT tại Công ty TNHH giống cây
trồng Long Hoàng Gia”;
Tác giả Nguyễn Văn Hải (2012), luận văn thạc sỹ Trƣờng Đại học Kinh Tế
Thành Phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu :" Tổ chức công tác kế toán quản trị tại
Công ty TNHH Chí Hùng". Công ty thuộc hiệp hội da giày Việt Nam, có vai trò
quan trọng trong việc nâng cao kim ngạch xuất khẩu cho ngành giày da. Công ty
thực hiện phân tích, đánh giá kết quả hoạt động SXKD sau mỗi kỳ kinh doanh
nhƣng vẫn chƣa thực hiện tổ chức công tác kế toán quản trị một cách đầy đủ và có
hiệu quả.
Tác giả Phạm Ngọc Toàn (2010) đã nghiên cứu về : " Xây dựng hệ thống
KTQT trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ". Trong công trình này, tác giả chủ yếu
nghiên cứu các lý luận về khoa học kế toán, thực trạng áp dụng nội dung KTQT và
tình hình thực hiện việc tổ chức công tác KTQT trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa
ở Việt Nam.
6. Đóng góp mới của đề tài:
- Đánh giá thực trạng hệ thống kế toán tại Công ty TNHH MTV khai thác
công trình Thủy lợi Bình Thuận.
- Tổ chức hệ thống kế toán quản trị tại Công ty TNHH MTV khai thác công
trình Thủy lợi Bình Thuận.
7. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu 3 chƣơng cơ bản:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị DN SXKD
Chƣơng 2: Thực trạng về tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty TNHH
MTV khai thác công trình Thủy lợi Bình Thuận.
Chƣơng 3: Tổ chức hệ thống kế toán quản trị Công ty TNHH MTV khai thác
công trình Thủy lợi Bình Thuận.
Kết luận
Tài liệu tham khảo
5
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP
SẢN XUẤT KINH DOANH
1.1. Tổng quan về kế toán quản trị
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán quản trị
* Trên thế giới
Kế toán quản trị đã từng xuất hiện rất lâu trong hệ thống kế toán doanh
nghiệp ở các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển vào những năm cuối thế kỷ
18 và đầu thế kỷ 19. Nhƣng do nhu cầu sử dụng thông tin thời đó rất đơn giản, hệ
thống kế toán còn rất sơ khai.
Kế toán quản trị xuất hiện dƣới hình thức kế toán chi phí trong doanh nghiệp
sản xuất nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin chủ yếu cho những nhà quản trị trong
cấp.
Tƣơng lai, kế toán quản trị chuyển sang một kỷ nguyên mới, rất gần với quản
trị, là một công cụ hợp nhất giữa chiến lƣợc kinh doanh với thị trƣờng, hợp nhất
giữa kiểm soát, thông tin phản hồi với thông tin định hƣớng, và là một bộ phận thiết
yếu của quản trị, kế toán chiến lƣợc (H.Thomas and S.Kaplan, 1987).
Quá trình hình thành và phát triển của kế toán quản trị trải qua 4 giai đoạn cơ
bản với các trọng tâm thông tin khác nhau:
Giai đoạn 1: Trƣớc năm 1950:
Từ sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất cuối thế kỷ XVIII đầu thế
kỷ XIX đã đặt ra nhiều thách thức lớn đối với nghề kế toán. Lúc này hoạt động của
kế toán không đơn thuần là ghi bút toán kép nữa mà phải làm sao để đơn giản hóa
thông tin, cung cấp thông tin để có thể kiểm soát đƣợc chi phí và định giá bán sản
phẩm. Các hoạt động kế toán quản trị trong giai đoạn này chỉ mang tính nghiệp vụ,
kỹ thuật. Mặc dù kế toán quản trị chƣa đƣợc ghi nhận nhƣng công việc thu thập, xử
lý các thông tin kinh tế tài chính đã có và những ngƣời chủ kinh doanh đã biết sử
dụng những số liệu thông tin kinh tế trong quá khứ để lập dự toán cho kì hoạt động
kế tiếp. Trọng tâm của kế toán quản trị ở giai đoạn này là xác định chi phí và kiểm
soát tài chính thông qua việc sử dụng các kỹ thuật dự toán và kế toán chi phí. Đỉnh
cao là vào năm 1920, ông Donaldson Brown, giám đốc tài chính của công ty
Dupont đã giới thiệu công thức tính toán tỷ lệ ROI. Sau đó, các công ty Dupont và
General Motor đã tuyên bố là ngƣời tiên phong trong việc áp dụng một số kỹ thuật
phân tích trong công tác quả trị của mình.
Giai đoạn 2: Từ năm 1956 đến 1980:
Trọng tâm kế toán quản trị ở giai đoạn này là lợi nhuận. Kế toán quản trị lúc
này là cung cấp thông tin cho hoạt động lập kế hoạch và kiểm soát của nhà quản trị
7
thông qua việc sử dụng các kỹ thuật nhƣ phân tích các quyết định, thiết kế và vận
8
Để phục vụ cho các mục tiêu của nhà quản lý, kế toán quản trị hiện đại đã
phát triển các công cụ và kỹ thuật phù hợp. Theo đó, các công cụ này bao gồm:
công cụ hỗ trợ cho việc hiểu biết thị trƣờng; công cụ cho kế hoạch chiến lƣợc; công
cụ đánh giá kết quả; công cụ quản lý và phát triển tri thức.
Nhƣ vậy, có thể thấy hiện nay kế toán quản trị ở các nƣớc tiên tiến đã phát
triển vƣợt xa khỏi hình thái ban đầu của nó là hệ thống dự toán ngân sách nhằm
phục vụ cho việc kiểm soát chi phí. Kế toán quản trị ngày nay đã có những bƣớc
tiến rất xa để trở thành một bộ phận không thể tách rời của quản trị doanh nghiệp.
Sử dụng các mô hình kế toán quản trị để phân bổ kinh phí thúc đẩy hoạt
động sản xuất có hiệu quả hơn.
Đảm bảo chất lƣợng của quá trình phát triển của Ngành Thủy lợi.
Kế toán quản trị hiện đại đã chuyển sang một hình thái mới, hình thái phát
triển tầm nhìn chiến lƣợc đi kèm với sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ thông tin.
Tại Việt Nam:
Cũng theo xu thế tiến hoá chung, kế toán quản trị vào Việt Nam ban đầu với
hình thái hệ thống dự toán ngân sách và quản trị chi phí. Phƣơng pháp lập kế hoạch
đã bắt đầu sơ khai từ sau những năm 1985, tuy nhiên bƣớc đầu còn đơn giản và
thiếu chính xác. Sau khi kinh tế tƣ nhân phát triển thì việc lập kế hoạch phục vụ cho
nhu cầu hoạch định của doanh nghiệp mới đƣợc phát triển rầm rộ.
Thông qua kết quả nghiên cứ KTQT của Phạm Ngọc Toàn (2010) và các
luận văn thạc sĩ đã công bố, sự ra đời của kế toán quản trị đƣợc đánh dấu khi Luật
Kế toán Việt Nam có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2004 đã quy định về kế toán quản
trị ở các đơn vị nhƣ sau: kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý và cung cấp thông
tin tài chính theo yêu cầu và quyết định kế toán trong nội bộ đơn vị.
Ngày 16/01/2006, Bộ tài chính tổ chức lấy ý kiến về việc ban hành thông tƣ
hƣớng dẫn về thực hiện kế toán quản trị tại trƣờng Đại học Kinh tế TP.HCM. Có
tin của một tổ chức. Các nhà quản lý dựa vào thông tin kế toán quản trị để hoạch
định và kiểm soát hoạt động của tổ chức”
Theo Edmonds et al (2003), “Kế toán quản trị là một lĩnh vực kế toán đƣợc
thiết kế để thỏa mãn nhu cầu thông tin của các nhà quản lý và các cá nhân khác làm
việc trong cùng một tổ chức”
Theo Ủy ban thuật ngữ của Học viện kế toán công chứng Mỹ, “Kế toán quản
trị là một lĩnh vực kế toán liên quan đến việc định lƣợng các thông tin kinh tế và hỗ
trợ các nhà quản trị trong việc đƣa ra các quyết định tài chính, đặc biệt trong việc
hoạch định kế hoạch và quản lý giá thành”
Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC) công bố trong tài liệu tổng kết các khái
niệm kế toán quản trị trên thế giới năm (1998), “ Kế toán quản trị đƣợc xem nhƣ là
10
một quy trình định dạng, kiểm soát, đo lƣờng, tổng hợp, phân tích, trình bày, giải
thích và truyền đạt thông tin tài chính, thông tin phi tài chính liên quan đến hoạt
động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị thực hiện hoạch định, đánh giá,
kiểm soát, điều hành hoạt động tổ chức nhằm đảm bảo sử dụng có trách nhiệm, hiệu
quả nguồn lực kinh tế của doanh nghiệp.”
Qua các khái niệm, định nghĩa trên, theo tác giả có thể phân tích khái niệm
tổng quát về kế toán quản trị gồm một số ý sau:
+ Kế toán quản trị là một khoa học thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp
thông tin kinh tế, tài chính về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp một cách rõ
ràng cụ thể.
+ Thông tin KTQT phục vụ nội bộ cho các nhà quản trị doanh nghiệp trong
việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện kế
hoạch các hoạt động của doanh nghiệp.
1.1.3 So sánh giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị
1.1.3.1 Những điểm giống nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản
Kế toán quản trị có mục đích cung cấp thông tin phục vụ cho điều hành hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Kế toán tài chính cung cấp thông tin phục vụ cho việc lập các báo cáo tài
chính tại công ty.
Thông tin của kế toán quản trị chủ yếu đặt trọng tâm hƣớng đến tƣơng lai.
Phần lớn công việc, nhiệm vụ của nhà quản trị phải làm là chủ trƣơng, hoạch định,
định hƣớng, do vậy nhu cầu thông tin của kế toán quản trị cũng gắn liền với những
yêu cầu này. Ví dụ nhƣ khi lập một kế hoạch nào đó nhà quản trị phải tiên liệu, dự
đoán, ƣớc tính các vấn đề liên quan nên cần một lƣợng thông tin dự báo khoa học.
Ngƣợc lại thông tin của kế toán tài chính chủ yếu hƣớng về quá khứ, phản
ánh những sự việc đã xảy ra và tuân thủ theo các nguyên tắc kế toán. Phần lớn công
việc và nhiệm vụ của kế toán tài chính là hƣớng đến việc cung cấp thông tin về
những gì đã xảy ra trong quá trình, kết quả hoạt động của doanh nghiệp và tổ chức
giám sát các hành vi, kết quả đó.
Thông tin do kế toán quản trị cung cấp thƣờng mang tính linh hoạt, kịp thời
và thích hợp với từng quyết định của nhà quản trị, không tuân thủ theo những
nguyên tắc kế toán và không yêu cầu có độ chính xác tuyệt đối.
Thông tin của kế toán tài chính đòi hỏi phải phản ánh một cách trung thực
các sự kiện kinh tế, tài chính đã diễn ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, do đó
12
các thông tin của kế toán tài chính cung cấp phải tuân thủ theo nguyên tắc, phải
mang tính khách quan và yêu cầu có độ chính xác cao.
Thông tin của kế toán quản trị ở phạm vi từng bộ phận, từng khâu công việc,
nhƣng chủ yếu liên quan đến việc quản lý trên từng bộ phận (phân xƣởng, phòng
ban) cho đến từng cá nhân có liên quan.
Phạm vi thông tin của kế toán tài chính liên quan đến việc quản lý tài chính
trên quy mô toàn doanh nghiệp.
quản lý khác nhau nên phụ thuộc vào yêu cầu quản lý trong từng doanh nghiệp mà
báo cáo kế toán quản trị đƣợc lập và thiết kế riêng để cung cấp các thông tin hữu ích
phục vụ cho việc ra quyết định của nhà quản trị.
Báo cáo của kế toán tài chính mang tính bắt buộc vì các báo cáo tài chính
phải đƣợc lập theo quy định của chế độ kế toán thống nhất.
1.1.4 Mục tiêu của kế toán quản trị
Ngày nay, thông tin phân tích của kế toán quản trị đƣợc xem là rất quan
trọng cho quá trình quản lý doanh nghiệp, nhân viên kế toán quản trị làm tăng giá trị
của đơn vị bằng cách xây dựng và thực hiện các mục tiêu:
Cung cấp thông tin cho quá trình ra quyết định và lập kế hoạch, tham gia một
cách tích cực vào các quá trình ra quyết định và lập kế hoạch.
Hỗ trợ các nhà quản trị trong việc định hƣớng và kiểm soát các mặt hoạt
động kinh doanh.
Đo lƣờng kết quả của các mặt hoạt động, các đơn vị, các nhà quả trị và nhân
viên trong tổ chức.
Đánh giá vị trí cạnh tranh của tổ chức, làm việc cùng với các nhà quản trị để
đảm bảo tính cạnh tranh lâu dài của tổ chức.
1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của kế toán quản trị:
Kế toán quản trị ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin để nhà quản trị thực
hiện toàn diện các chức năng quản trị.
Kế toán quản trị giúp nhà quản trị có đầy đủ các tài liệu cần thiết về mục tiêu
hoạt động sản xuất kinh doanh của từng bộ phận, của doanh nghiệp trong từng thời
kỳ. Từ đó, nhà quản trị thiết lập định hƣớng cho sản xuất kinh doanh để khai thác
một cách hiệu quả các nguồn lực kinh tế của đơn vị.
Kế toán quản trị giúp nhà quản trị nắm chắc tình hình tổ chức, thực hiện ở
từng bộ phận trong đơn vị để kịp thời bổ sung, điều chỉnh những vấn đề cần thiết
cho bộ phận hoạt động hiệu quả.
Kế toán quản trị giúp nhà quản trị nắm đƣợc tình hình thực hiện, từng sự
biến động trong quá trình thực hiện ở các bộ phận trong đơn vị để đƣa ra phƣơng
án tối ƣu nhất.
1.2 Nội dung cơ bản của kế toán quản trị:
Theo giáo trình KTQT của Bộ Môn KTQT – Trƣờng Đại Học Kinh Tế
TP.HCM (2013) thì nội dung của KTQT rộng, tuỳ thuộc vào quy mô, tính hiện đại
15
quản trị DN và trình độ nhà quản trị, đặc điệm SXKD, ... mà có thể ứng dụng toàn
bộ hoặc một phần cơ bản của KTQT.
Theo mục tiêu của luận văn, tác giả chọn một số nội dung cơ bản phù hợp
với trình độ vận dụng tại công ty TNHH MTV khai thác công trình Thủy lợi Bình
Thuận, các nội dung gồm:
- Hệ thống chi phí linh hoạt
- Lập dự toán ngân sách
- Kế toán trung tâm trách nhiệm
1.2.1 Phân loại chi phí
Một trong bƣớc đầu tiên để ứng dụng KTQT là phân lọai chi phí phục vụ ra
quyết định, khác với kế toán tài chính phân lọai chi phí theo chức năng.
Chi phí có thể đƣợc hiểu là giá trị của một nguồn lực bị tiêu dùng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của tổ chức để đạt đƣợc một mục đích nào đó.
Đối với nhà quản lý, chi phí là mối quan tâm hàng đầu vì chi phí ảnh hƣởng
trực tiếp đến lợi nhuận. Bên cạnh đó, hầu nhƣ quyết định nào của nhà quản trị cũng
liên quan đến chi phí. Do đó, chi phí phải đƣợc đo lƣờng và nhận diện theo nhiều
cách khác nhau để phù hợp với từng loại quyết định của nhà quản trị.
Phân loại chi phí thành chi phí thời kỳ và chi phí sản phẩm
Chi phí thời kỳ: Là những chi phí phát sinh ở kỳ nào thì có thể đƣa hết vào
trong chi phí của kỳ đó, để xác định kết quả sản xuất kinh doanh của đơn vị. Chi phí
bán hàng và chi phí quản lý của công ty là những chi phí thời kỳ. Những chi phí
thời kỳ sẽ đƣợc tính đầy đủ trên các báo cáo kết quả kinh doanh của công ty cho dù
trị các khoản giảm lợi ích kinh tế của doanh nghiệp mà nhà quản trị không có quyền
quyết định, không xác định đƣợc mức phát sinh.
Chi phí cơ hội: chi phí cơ hội là những thu nhập bị mất đi khi bỏ qua
phƣơng án kinh doanh này để lựa chọn phƣơng án kinh doanh khác. Chi phí cơ hội
có ý nghĩa quan trọng trong việc tính toán chi phí, giá thành và lợi nhuận của doanh
nghiệp. Khái niệm này đƣợc vận dụng vào việc dự toán chi phí và đánh giá chi phí
qua các giai đoạn. Khi so sánh chi phí của các phƣơng án khác nhau, các lĩnh vực
kinh doanh khác nhau mà không tính đến chi phí cơ hội sẽ dẫn tới nhận định sai
lầm.
Chi phí chìm: là những chi phí đã bỏ ra trong quá khứ và nó không thể tránh
đƣợc dù lựa chọn bất kỳ phƣơng án nào. Tổng giá trị các khoản giảm lợi ích kinh tế
của doanh nghiệp đã phát sinh, sẽ chắc chắn phát sinh và luôn tồn tại trong tất cả
các sự lựa chọn, tình huống, phƣơng án hoạt động sản xuất kinh doanh.
Phân loại chi phí theo cách ứng xử
17
Việc phân loại chi phí theo cách ứng xử có ý nghĩa lớn trong việc xây dựng
gần nhƣ toàn bộ nội dung của kế toán quản trị. Chi phí đƣợc chia thành 3 loại; biến
phí, định phí và chi phí hỗn hợp.
Biến phí (chi phí khả biến): Là chi phí biến đổi tỷ lệ thuận với biến đổi của
mức độ hoạt động, tuy nhiên biến phí tính trên một đơn vị hoạt động tƣơng đối
không thay đổi, biến phí chỉ phát sinh khi có hoạt động. Có ba dạng biến phí :
Biến phí tuyến tính : là những biến phí có sự biến động tăng giảm tỷ lệ thuận
với mức độ họat động
Biến phí phi tuyến : là những biến phí tăng giảm theo tỷ lệ thuận nhƣng
không cùng tỷ lệ tăng giảm của mức độ họat động
Biến phí cấp bậc : trong một phạm vi phù hợp thì những loại biến phí không
biến động liên tục so với sự biến động liên tục của mức độ hoạt động, nhƣng khi
phí linh hoạt, kịp thời. Điểm khác với kế toán tài chính về tính giá thành sản phẩm,
dịch vụ dựa trên ba khoản mục nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và chi
phí sản xuất chung, thì kế toán quản trị về tính giá thành sản phẩm, dịch vụ dựa trên
hai loại chi phí là biến phí và định phí. Từ đây khái niệm xác định chi phí linh hoạt,
giá thành biến phí hay giá thành khách hàng thay cho khái niệm giá thành sản phẩm,
đƣợc vận dụng thƣờng xuyên trong mọi tình huống để nhà quản trị đƣa ra giá bán
linh hoạt, kịp thời. Hệ thống chi phí linh hoạt không phân biệt chi phí trong sản xuất
và ngoài sản xuất, ngƣợc lại tổng chi phí đƣợc phân chia theo biến phí và định phí.
Với cách xác định này, giá thành sản phẩm dịch vụ đƣợc tính nhƣ sau:
Giá thành sản phẩm dịch vụ = biến phí SX + biến phí ngoài SX
Nhƣ vậy toàn bộ định phí trong kỳ là chi phí thời kỳ không phân bổ cho hàng
tồn kho mà tính trừ hết khi xác định kết quả kinh doanh, điều này khác với kế toán
tài chính, định phí trong kỳ phân bổ một phần cho hàng tồn kho. Kết quả lợi nhuận
theo hai cách tính khác nhau. Nếu trong kỳ đơn vị tăng mức sản xuất và tiêu thụ cao
hơn mức bình thƣờng thì kết quả kinh doanh sẽ cao và ngƣợc lại với kết quả kinh
doanh xác định theo kế toán tài chính.
1.2.3. Lập dự toán ngân sách
Dự toán là một kế hoạch mà trong đó thể hiện những mục tiêu tổ chức cần
phải đạt đƣợc đồng thời chỉ rõ cách thức huy động những nguồn lực để thực hiện
các mục tiêu mà tổ chức đặt ra.
Dự toán là tập hợp các chỉ tiêu đƣợc biểu diễn một cách có hệ thống dƣới
dạng số lƣợng và giá trị.
Dự toán ngân sách: Là sự tính toán, dự kiến một cách toàn diện mục tiêu
kinh tế, tài chính mà doanh nghiệp cần đạt đƣợc trong kỳ hoạt động, đồng thời chỉ
rõ cách thức huy động, sử dụng vốn và các nguồn lực khác để thực hiện mục tiêu
của doanh nghiệp. Thông tin trên dự toán ngân sách là cơ sở để đánh giá kết quả
19
làm cơ sở để lập dự toán chi phí sản xuất nhƣ chi phí nguyên vật liệu, chi phí nhân
công, chi phí sản xuất chung... dự toán chi phí bán hàng và quản lý nhằm dự toán
20
cho các hoạt động bán hàng và quản lý trong doanh nghiệp, dự toán báo cáo kết quả
kinh doanh là dự toán tổng hợp từ các dự toán trên nhằm dự toán tình hình hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Dự toán tài chính: là các dự toán cho các hoạt động tài chính và đầu tƣ của
doanh nghiệp. Là các dự toán liên quan đến vốn đầu tƣ, bảng cân đối kế toán, tiền
tệ… Dự toán tiền tệ là kế hoạch chi tiết cho việc thu và chi tiền. Dự toán vốn đầu tƣ
trình bày dự toán các tài sản dài hạn và vốn cần thiết cho hoạt động kinh doanh ở
những năm tiếp theo. Dự toán bảng cân đối kế toán trình bày tình hình tài sản và
nguồn vốn của doanh nghiệp ở thời điểm cố định trong kỳ dự toán.
Phân loại theo thời gian:
Theo cách phân loại này thì dự toán đƣợc chia thành dự toán ngắn hạn và dự
toán dài hạn.
- Dự toán ngắn hạn: thƣờng đƣợc lập cho kỳ kế hoạch là một năm và đƣợc
chia ra nhiều kỳ ngắn hơn là hàng quí và hàng tháng. Dự toán này thƣờng liên quan
đến việc mua hàng, bán hàng, doanh thu, chi phí bao gồm các dự toán chức năng
nhƣ dự toán doanh thu, dự toán sản xuất, dự toán tiền... Dự toán ngắn hạn đƣợc lập
hàng năm trƣớc khi niên độ kế toán kết thúc.
- Dự toán dài hạn: có thời hạn trên một năm còn đƣợc gọi là dự toán vốn, đây
là dự toán đƣợc lập liên quan đến tài sản dài hạn. Dự toán dài hạn thƣờng bao gồm
việc dự toán cho các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp nhƣ các chiến lƣợc kinh
doanh. Đặc điểm cơ bản của dự toán dài hạn là rủi ro cao, thời gian từ lúc đƣa vốn
vào đến lúc thu đƣợc lợi nhuận là một khoảng thời gian dài và định hƣớng mục tiêu
chiến lƣợc của doanh nghiệp.
- Phân loại theo phƣơng pháp lập: có 2 loại dự toán là dự toán linh hoạt và dự
sáng tạo của bộ phận lập dự toán. Quan điểm của các bộ phận lập dự toán không bị
ảnh hƣởng, chi phối bởi những quan điểm sai lầm của những ngƣời đi trƣớc. Thông
thƣờng thì các bộ phận lập dự toán có khuynh hƣớng dựa vào ý định của ngƣời
quản lý cùng với các quy định có sẵn để lập dự toán, thiếu chủ động suy nghĩ về
tình hình tƣơng lai, không mạnh dạn khai thác cơ hội phát triển công việc. Vì vậy
làm cho công tác dự toán chỉ mang tính hình thức, mất đi tính hiệu quả thực sự.
+ Dự toán cuốn chiếu còn gọi là dự toán nối mạch. Dự toán theo phƣơng
pháp này là các bộ phận lập dự toán sẽ dựa vào các báo cáo dự toán cũ của doanh
nghiệp và điều chỉnh với những thay đổi trong thực tế để lập các báo cáo dự toán
mới. Lập dự toán theo phƣơng pháp này có ƣu điểm là các báo cáo dự toán đƣợc
sọan thảo, theo dõi và cập nhật một cách liên tục, không ngừng. Dự toán cuốn chiếu
giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp có thể kế hoạch hóa liên tục các hoạt động
kinh doanh của các năm một cách liên tục mà không đợi kết thúc việc thực hiện dự
toán năm cũ mới có thể lập dự toán cho năm mới.
22
1.2.4. Kế toán trung tâm trách nhiệm
Kế toán trung tâm trách nhiệm nhằm ghi nhận, đo lƣờng kết quả hoạt động
của từng bộ phận trong tổ chức, đồng thời lập các báo cáo thực hiện, thông qua đó
đo lƣờng và đánh giá đƣợc trách nhiệm quản lý và kết quả hoạt động của từng bộ
phận trong việc thực hiện mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp.
Xác lập các trung tâm trách nhiệm:
Để đánh giá trách nhiệm của các nhà quản lý các cấp; KTQT chia tổ chức
doanh nghiệp thành bốn trung tâm trách nhiệm chính. Đó là, Trung tâm chi phí,
trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tƣ.
Các chỉ tiêu để đo lƣờng thành quả thực hiện của mỗi trung tâm.
Hoạt động của các trung tâm trách nhiệm thƣờng đƣợc đánh giá bằng các chỉ
tiêu định tính và định lƣợng. Để đo lƣờng và đánh giá thành quả hoạt động của các
phƣơng pháp kế toán chi phí, tính giá thành sản phẩm theo công việc và phƣơng
pháp kế toán chi phí, tính giá thành theo quá trình hoạt động.
Kế toán quản trị không sử dụng chế độ kế toán riêng, tách rời với kế toán tài
chính mà sử dụng các tài khoản kế toán chi tiết, hệ thống sổ kế toán và báo cáo kế
toán quản trị kết hợp chung trong một hệ thống kế toán thống nhất với kế toán tài
chính. Hệ thống kế toán quản trị đƣợc tổ chức kết hợp với hệ thống kế toán tài
chính. Kế toán tài chính và kế toán quản trị đƣợc tổ chức thành một bộ máy thống
nhất trong cùng một bộ máy kế toán. Kế toán tài chính sử dụng các tài khoản kế
toán tổng hợp còn kế toán quản trị sử dụng các tài khoản chi tiết, sổ kế toán chi tiết
phù hợp, báo cáo kế toán nội bộ và còn sử dụng thêm các phƣơng pháp khác nhƣ
phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp toán...để hệ thống hóa và xử lý thông tin. Việc
ghi chép, phản ánh, xử lý và truyền đạt thông tin đƣợc tính đến cả mục đích của kế
toán tài chính và kế toán quản trị nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin kế toán cho cả
đối tƣợng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Mỗi bộ phận kế toán có chức năng
thu thập, cung cấp thông tin kế toán vừa ở dạng tổng hợp, vừa ở dạng chi tiết theo
yêu cầu quản lý. Bộ phận kế toán quản trị chi phí sử dụng báo cáo bộ phận để cung
cấp thông tin cho nội bộ doanh nghiệp, bộ phận kế toán tài chính sử dụng hệ thống
báo cáo tài chính để cung cấp thông tin cho các đối tƣợng bên ngoài doanh nghiệp.
H NH IỂU
BAN LÃNH ĐẠO
B PHẬN
UẢN L
ẾT
N
UẢN T Ị
B PHẬN
UẢN L
Về chứng từ kế toán: ngoài việc sử dụng hệ thống chứng từ chung, KTQT
chi phí còn sử dụng rộng rãi hệ thống chứng từ nội bộ trong doanh nghiệp.
Về tài khoản kế toán: các tài khoản KTQT chi phí đƣợc xây dựng thành hệ
thống riêng, có ký hiệu riêng, nội dung ghi chép cũng có những đặc điểm khác với
KTTC .
Về sổ kế toán: KTQT chi phí xây dựng hệ thống sổ kế toán riêng phục vụ
cho việc ghi chép các nghiệp vụ thuộc KTQT.
Về báo cáo kế toán: các báo cáo KTQT đƣợc lập riêng dƣới dạng báo cáo dự
toán sản xuất, báo cáo lỗ lãi từng bộ phận…Ngoài các chỉ tiêu quá khứ, các chỉ tiêu
thực hiện kế toán quản trị còn thiết lập các cân đối dự toán, kế hoạch.
25
H NH IỂU PH P
BAN
GI
Đ C
B PHẬN
UẢN L
B PHẬN
T I CH NH
B PHẬN
T I CH NH
B
PHẬN
ẾT
những thông tin thật sự hữu ích cho nhà quản trị với chi phí phù hợp.
+ Lựa chọn mô hình KTQT kết hợp hay độc lập sao cho chi phí ít tốn kém
nhất nhƣng thông tin cung cấp hữu ích nhất.