Một số vấn đề về quản lý quỹ bảo hiểm xã hội - Pdf 34

BÀI TẬP NHÓM
Đề tài
Một số vấn đề về quản lý quỹ BHXH
I. Quỹ Bảo hiểm xã hội
1.1. Khái niệm và vai trò của quỹ BHXH đối với hệ thống BHXH.
1.1.1. Khái niệm
Trong đời sống kinh tế- xã hội người ta thường nói đến rất nhiều loại quỹ khác nhau.
Tất cả các loại quỹ này đều có điểm chung đó là tập hợp các phương tiện tài chính hay vật
chất khác cho những hoạt động nào đó theo những mục tiêu và định hướng trước. Quỹ lớn hay
nhỏ biểu thị khả năng và điều kiện vật chất để thực hiện các hoạt động BHXH.
Theo những quan điểm nói trên về quỹ nói chung thì quỹ BHXH là tập hợp những
đóng góp bằng tiền của những người tham gia BHXH hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để
chi trả cho những người được BHXH khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm, mất khả
năng lao động hoặc bị mất việc làm.
Như vậy, Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách
nhà nước, mang bản chất vừa là một quỹ tiêu dùng vừa là một quỹ dự phòng.Điều kiện quyết
định để một hệ thống BHXH hoạt động được là phải hình thành được nguồn quỹ tiền tệ tập
trung để rồi nguồn quỹ này được dùng để chi trả trợ cấp cho các chế độ BHXH.
1.1.2. Vai trò của quỹ BHXH đối với hệ thống BHXH.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, người lao động luôn phải gánh chịu, đương đầu
với vô vàn các rủi ro. Những rủi ro đó có thể làm cho người lao động mất khả năng lao động
tạm thời hay vĩnh viễn, mất nguồn sống hay chết người, con cái mất nơi nương tựa, hoặc lúc
về già không còn khả năng lao động để có thu nhập đảm bảo cuộc sống. Vì vậy, để có nguồn
thu nhập duy trì, ổn định cuộc sống của bản thân và gia đình họ trong lúc gặp rủi ro hoặc tuổi
già thì tất yếu phải lập quỹ dự trữ bảo hiểm thích hợp, đủ lớn để có thu nhập ổn định đảm bảo
cuộc sống cho bản thân và gia đình trong tương lai.
Mặt khác do quy luật bảo toàn nòi giống, duy trì lức lượng lao động cho tương lai của
xã hội, những người lao động nữ họ còn phải làm nghĩa vụ sinh con, nuôi con và chăm sóc khi
con ốm đau ... cũng đòi hỏi phải có quỹ bảo hiẻm giúp đỡ... Việc tạo lập quỹ BHXH cho

1

Người sử dụng lao động đóng góp cho quỹ BHXH để bảo hiểm cho người lao động mà
mình thuê mướn. Sự đóng góp này thể hiện trách nhiệm của họ đối với người lao động.Và vì

2


quá trình sản xuất kinh doanh của họ không bị ảnh hưởng khi người lao động có nhu cầu
BHXH.
1.2.1.3. Nhà nước đóng góp và hỗ trợ.
Sự tham gia của Nhà nước thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với các thành viên
trong xã hội.
1.2.1.4. Các nguồn thu khác.
Bao gồm các nguồn thu chủ yếu sau:
-

Tiền lãi, tiền lời từ các hoạt động đầu tư nhằm bảo toàn và phát triển quỹ BHXH.

-

Các nguồn tài trợ và viện trợ khác ở trong nước, ngoài nước và cộng đồng quốc tế,
kể cả các tổ chức phi Chính phủ và các cá nhân hảo tâm ...

- Giá trị các tài sản cố định của BHXH được đánh giá lại theo các quy
Nhà nước.

định của

- Các nguồn thu khác: Tiền phạt do nộp chậm BHXH so với thời gian quy định, tiền
truy thu khi các đơn vị sử dụng lao động và người lao động đóng thiếu tiền BHXH hoặc nhận
thừa so với chế độ được hưởng thụ.

- Quỹ thất nghiệp.
- Quỹ ốm đau, thai sản.
* Phân loại theo đối tượng.
- Quỹ cho công chức.
- Quỹ cho lực lượng vũ trang.
- Quỹ cho người lao động trong các doanh nghiệp.
- Quỹ cho các loại lao động khác.
1.4. Quản lý quỹ BHXH.
Chính sách BHXH không phải là hoạt động tinh thần mà nó phải giải quyết quan hệ xã
hội cụ thể. Quản lý BHXH bao gồm hai phần khăng khít:
* Quản lý Nhà nước về BHXH (mặt vĩ mô)
* Quản lý BHXH về mặt nghiệp vụ (về mặt thu chi tài chính, quản lý và sử dụng quỹ).
Đứng trước thực trạng về quản lý quỹ BHXH như vậy nên ngày 16/2/1995 Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Nghị định 19/CP về việc thành lập BHXH Việt nam.

II. Thực trạng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
2.1. Quá trình hình thành và phát triển
Trải qua một giai đoạn dài hình thành và phát triẻn quỹ BHXH ở việt nam đã từng bước ngày
càng phù hợp hơn với xu thế của xãhội.Ngay Điều lệ tạm thời về các chế độ bảo hiểm xã hội
đối công nhân viên chức Nhà nước ban hành kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/11/1961
của Chính phủ, quản lý bảo hiểm xã hội được giao cho Tổng Công đoàn Việt Nam cả về quản

4


lý quỹ và toàn bộ sự nghiệp bảo hiểm xã hội. Đây là thời kỳ hết sức khó khăn của đất nước, do
đó trong thời kì này BHXH chỉ là hình thức trợ cấp đối với công nhân viên chức nhà nước và
lưcl lượng vũ trang quân đội.Còn lực lượng khác chưa được hưởng các chính sách của
BHXH .Và tiền chi trả chủ yếu do ngân sách nhà nước , sự đóng góp của các đối tượng được
hưởng hầu như là không có.Nhưng chính nó lại làm tiền đề cho các giai đoạn sau ,theo quyết

5


dụng lao động phải đóng 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; 1% vào quỹ tai nạn lao động, bệnh
nghề nghiệp;11% vào quỹ hưu trí vào tử tuất, cứ 2 năm một lần lại đóng them 1% cho đến khi
đạt mức đóng là 14%.
Từ khi có cơ chế mới này, nguồn thu của quỹ bảo hiểm xã hội đã không ngừng tăng lên và có
thể đáp ứng được nhu cầu chi phí bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên nguồn thu quỹ này tăng là do
hiện nay những người phải đóng góp bảo hiểm xã hội lớn trong khi những đối tượng hưởng
mới chưa nhiều, số đang hưởng thì vẫn do ngân sách Nhà nước đảm nhận. quỹ bảo hiểm xã
hội mặc dù đã trở thành" xương sống" của hệ thống bảo hiểm xã hội, nhưng chưa thật sự vững
chắc nếu không có sự điều chỉnh hợp lý của chính sách ngay từ bây giờ.
2.2. Đánh giá thực trạng thu chi bảo hiểm xã hội Việt Nam
Từ ngày BHXH Việt Nam ra đời đến nay, quỹ BHXH đã đạt được những kết quả rất đáng
mừng, số thu BHXH năm sau luôn cao hơn năm trước, công tác thu chi BHXH đáp ứng được
yêu cầu, nguyện vọng của người tham gia BHXH là chi đúng, chi đủ và kịp thời không còn
tình trạng nợ đọng kéo dài như một số năm trước. Công tác đầu tư để duy trì và phát triển quỹ
được thực hiện một cách có hiệu quả đảm bảo được các nguyên tắc đầu tư. Song bên cạnh quỹ
BHXH vẫn còn một số điểm cần được khắc phục và giải quyết kịp thời để ngày một hoàn
thiện, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong thời đại mới. Sau đây ta đi xét cụ thể từng
khâu trong qúa trình quản lý duy trì và tăng trưởng quỹ BHXH để thấy được thực trạng quỹ
BHXH Việt Nam.
2.2.1. Đánh giá thực trạng thu BHXH
Bảo hiểm xã hội Việt Nam là cơ quan chỉ đạo công tác quản lý bảo hiểm xã hội và thực hiện
chính sách, chế độ trợ cấp bảo hiểm xã hội theo Điều lệ bảo hiểm xã hội hiện hành.
Bảng 1:Kết quả công tác thu bảo hiểm xã hội từ năm 2009 đến năm 2012 thể hiện ở bảng sau.
Chỉ tiêu

Đơn vị 2009
tính

4.89

4.60

4.37

Số Lao động tham Triệu
gia BHXH
người

8.86

9.1

9.86

10.6

(Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam)
Từ bảng trên ta thấy số thu của quỹ bảo hiểm xã hội tăng nhanh qua các năm. Tính tháng

6


cuối năm 2009 số tiền thu bảo hiểm xã hội chỉ thu được 2093.8 tỷ đồng, nhưng từ năm 2009
trở đi thì số thu này bắt đầu tăng lên qua các năm và cho tới năm 2012 thì số thu BHXH đã đạt
97623.5 tỷ đồng. Sự tăng lên của con số đó là do các nguyên nhân sau:
- Do số người tham gia BHXH tăng từ 8.86 triệu người (cuối năm 2009) lên 10.6 triệu
người (năm 2012).
- Công tác thu BHXH đạt hiệu quả cao được thể hiện ở tỷ lệ nợ đọng/số tiền bảo hiểm


Năm 2009

Năm 2010

Tổng chi BHXH

46.122,607

56.312,816

68.601,490

Chi trả các chế độ

44.870,742

54.880,846

66.427,216

7


1

Chi nguồn NSNN đảm bảo

23.510,793



180,517

246,711

-

Chi quỹ hưu trí, tử tuất

18.235,887

24.522,145

31.701,227

2.2

Chi quỹ BHXH tự nguyện

0,003

0,598

36,755

2.3

Chi quỹ bảo hiểm thất nghiệp

II

đến khi đạt mức đóng là 14%.
Số tiền chi cho nguồn quỹ đảm bảo tăng qua các năm từ 21.359,949 tỷ đồng năm 2008 lên
37.293,881 tỷ đồng năm 2010. Trong đó chiếm tỷ trọng lớn nhất là nguồn chi cho quỹ hưu trí
tử tuất chiếm khoảng 41,33% vào năm 2008 và 46,21% vào năm 2010 trong tổng số tiền chi
của quỹ bảo hiểm xã hội. Nguyên nhân do:
-

Tình hình giá hóa dân số, số lượng người tham gia BHXH nghỉ hưu qua các năm
tăng cao

-

Số tuổi nghỉ hưu của nước ta còn thấp, đặc biệt là đối với nữ.

2.2.3. Tình hình duy trì và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội đã và đang được phát triển ở hầu khắp các nước trên thế giới, không chỉ

8


bởi mục đích an sinh xã hội mà còn có vai trò quan trọng trong việc góp phần phát triển, ổn
định nền tài chính - tiền tệ quốc gia. Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, thị trường vốn
ngày càng được mở rộng, phát triển mạnh mẽ cả về quy mô hình thức và chất lượng, đòi hỏi
Bảo hiểm xã hội Việt Nam phải có những cố gắng vượt bậc để tham gia hoạt động đầu tư quỹ
một cách có hiệu quả cao nhất nhằm bảo tồn và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
Hoạt động của bảo hiểm xã hội xét về khía cạnh nguồn lực tài chính thì được coi là một
quỹ tiền tệ lớn của nền kinh tế, thường xuyên có khối lượng tiền vốn lớn tạm thời nhàn rỗi
trong khoảng thời gian dài; lượng tiền này phải được đưa vào để đầu tư để bảo tồn và tăng
trưởng quỹ bảo hiểm xã hội.


Bảng trên cho thấy vào năm 2008, quỹ BHXH chỉ thu về gần 9000 tỷ tiền lãi với tỷ lệ
lãi/vốn = 11.76%, số kết dư quỹ BHXH đạt 83973 tỷ đồng, số kết dư năm 2009 là 95163 tỷ
đồng ( cộng dồn từ năm 2008) và thu được nguồn lãi khoảng 8400 tỷ đồng.Điều đó cũng phản
ánh quỹ bảo hiểm xã hội là một tiềm năng tài chính không nhỏ; tiềm năng này nếu không sử
dụng triệt để hoặc sử dụng không hiệu quả là một sự lãng phí, là chưa phát huy hết nguồn nội
lực về tiền vốn, đặt biệt trong điều kiện đất nước ta còn thiếu vốn trầm trọng. Xét về mặt kinh

9


tế thì việc đem phần quỹ nhàn rỗi để đầu tư là hoàn toàn hợp lý. Nhiều nước, vốn đầu tư là
nhu cầu rất cần thiết đối với nền kinh tế. Nếu việc đầu tư có hiệu quả thì cả nền kinh tế và quỹ
bảo hiểm xã hội đều được lợi.
Trong 4 nguyên tắc về đầu tư là an toàn, có hiệu quả, tính dễ lưu chuyển và có lợi cho xã
hội, thì nguyên tắc an toàn luôn được đặt lên hàng đầu. Điều này vô cùng quan trọng vì hậu
quả của việc mất quỹ bảo hiểm xã hội là vô cùng nghiêm trọng. Ngược lại, nếu quá thận trọng
mà không cho phép đầu tư hoặc không dám đầu tư thì cũng là một sai lầm. Cái lợi thế của quỹ
bảo hiểm xã hội là nguồn vốn cần được khai thác triệt để.
Bên cạnh những thành tự nói trên thì hoạt động quản lý quỹ BHXH vẫn còn những hạn chế
cần khắc phục.

III. Những thuận lợi và tồn tại của việc quản lỹ Bảo hiểm xã hội
3.1. Thuận lợi.
- Số đối tượng áp dụng BHXH được mở rộng đến những người làm công ăn lương trong
các thành phần kinh tế theo nguyên tắc có đóng góp có hưởng thụ.Nhờ mở rộng được đối
tượng tham gia BHXH và tăng mức phí BHXH nên các nguồn huy động quỹ BHXH không
ngừng tăng lên và có thể đáp ứng nhu cầu chi phí BHXH.
- Thành lập được quỹ BHXH độc lập với ngân sách Nhà nước và hình thành từ 3 nguồn
(đóng góp của người của người lao động, người sử dụng lao động, hỗ trợ của Nhà nước) đã

đóng và mức hưởng như hiện nay thì đến năm 2021 quỹ BHXH bắt đầu bị thâm hụt và hoàn
toàn bị cạn kiệt năm 2034.
- Số tiền nhàn rỗi ở quỹ BHXH hiện nay tất lớn, nhưng việc đầu tư chưa đạt hiệu quả cao
mới chỉ đầu tư vào những nơi theo chỉ đạo của Nhà nước như: cho ngân hàng vay, mua công
trái, trái phiếu mà những nơi này lãi suất rất thấp. Do vậy mà không phát huy hết nội lực của
ngành.
- Vẫn chưa có một hành lang pháp lý có hiệu lực để buộc các chủ sử dụng lao động đóng
BHXH cho người lao động một cách đầy đủ. Tình trạng nợ đọng tiền BHXH cũng như trốn
tránh nghĩa vụ đóng BHXH vẫn còn nhưng
- Tình trạng nợ đọng tiền BHXH còn lớn, tính đến thời điểm tháng 6/2013 đạt gần 6
nghìn tỷ đồng, chiếm 6,43% tổng số tiền bảo hiểm phải thu. Nếu để kéo dài tình trạng này sẽ
làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp và khó khăn; trước hết là thiếu nguồn chi trả cho người
hưởng BHXH, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động.
- Công tác bàn giao nhiệm vụ thu bảo hiểm xã hội giữa các ngành tài chính, Liên đoàn
Lao động địa phương, Công đoàn ngành chưa cụ thể như: không nắm đầy đủ số lượng đơn vị
và số lượng người tham gia đóng bảo hiểm xã hội, số tiền bảo hiểm xã hội phải thu và đã thu.
Việc tổ chức bộ máy thu ở nhiều tỉnh, thành phố chưa được bố trí hợp lý: thiếu cán bộ, yếu
nghiệp vụ. Công tác quản lý còn nhiều thiếu sót nhất là việc nắm danh sách tiền người lao
động đóng hàng tháng.
- Trong quản lý nhà nước còn một số vấn đề bất cập như: chưa nắm được số lượng đối
tượng thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc; công tác thông tin, tuyên truyền chưa thật
sâu rộng (đặc biệt là chính sách BHXH tự nguyện) nên người lao động và người dân biết, hiểu
về quyền lợi, nghĩa vụ về BHXH của mình chưa rõ ràng dẫn đến đối tượng tham gia BHXH
còn chưa đầy đủ; công tác thanh tra, kiểm tra về BHXH còn ít và chưa hiệu quả, còn lồng
ghép trong các cuộc thanh tra, kiểm tra về thực hiện pháp luật lao động nói chung nên tính
hiệu quả không cao; chế tài xử phạt các vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH với mức xử

11



quốc tế với các nước trên thế giới đã tạo nên một số lượng lớn lao động trong lĩnh vực làm
công ăn lương, kéo theo sự tăng lên của các đối tượng tham gia và hưởng bảo hiểm xã hội.

12


Hiện nay số người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc mà Bảo hiểm xã hội Việt
Nam hiện đang quản lý khoảng gần 10 triệu người (tính đến hết năm 2012) thì số lao động
chưa tham gia bảo hiểm xã hội còn qúa lớn, đối tượng tham gia theo quy định chỉ chiếm một
phần trong tổng số lao động, số lao động còn lại thuộc thành phần kinh tế khác.
Đối với người tham gia bảo hiểm xã hội là doanh nghiệp, hiện nay số lượng doanh nghiệp
có quy mô nhỏ và rất nhỏ ở nước ta chiếm tỷ trọng lớn. Vì thế nên quy định doanh nghiệp có
từ 5 lao động trở lên tham gia bảo hiểm xã hội.
Đối với lao động tự do, lao động cá thể mà hiện nay chưa đủ điều kiện tham gia bảo hiểm
xã hội theo luật thì cần áp dụng hình thức bảo hiểm xã hội tự nguyện cho những đối tượng này
và nên quy định nhiều mức đóng góp bảo hiểm xã hội khác nhau cho phù hợp với từng loại
đối tượng, không nên quy định mức đóng góp bình quân cho mọi đối tượng.

3.3.2. Bảo đảm sự hỗ trợ của Nhà nước đối với quỹ bảo hiểm xã hội.
Như đã biết quy định mức đóng bảo hiểm xã hội và mức hưởng bảo hiểm xã hội chưa phù
hợp, chưa tính đến cân bằng thu chi cho quỹ bảo hiểm xã hội. Việc xác định chính xác mức
thu bảo hiểm xã hội cho quỹ bảo hiểm xã hội và mức hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội là
một việc rất khó khăn và phức tạp, nó đòi hỏi phải được xây dựng trên những cơ sở, những
căn cứ khoa học rất chặt chẽ. Nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, mà các yếu tố ảnh
hưởng đến việc xác định các mức này lại luôn biến động theo không gian và thời gian. Thu ít
hưởng nhiều dẫn đến quỹ bảo hiểm xã hội bị thâm hụt, ngân sách nhà nước phải gánh chịu
phần thâm hụt này.
Ngân sách nhà nước cần phải hỗ trợ ban đầu để đảm bảo cho các hoạt động bảo hiểm xã
hội. Nhà nước phải mở các lớp đào tạo cán bộ, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các cán bộ bảo hiểm
xã hội. Việc tuyển chọn cán bộ phải được thực hiện nghiêm túc, có quy chế thi tuyển rõ ràng.

nhận đối với danh mục từng thời kỳ xác định; linh hoạt sẽ cho phép phát huy tính năng động
hiệu quả trong đầu tư.
- Trước mắt để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế đất nước, hoạt động đầu tư chú trọng
vầo đối tượng trong lãnh thổ Việt nam. Chương trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước,
chương trình cổ phần hoá doanh nghiệp và các chương trình phát triển kinh tế xã hội khác của
Chính phủ được xem là một trong những trọng tâm tham gia đầu tư của Bảo hiểm xã hội Việt
Nam.
- Tỷ suất hay mức sinh lời dự kiến của danh mục đầu tư và mức sinh lời làm cơ sở so sánh
phải được tính toán và phân định rõ ràng; có thể chọn tỷ lệ lạm phát là mức tối thiểu để so
sánh mức bảo toàn vốn.
Để có một chiến lược phát triển hoạt động đầu tư bảo tồn và tăng trưởng quỹ bảo hiểm
xã hội và đưa hoạt động này thực sự đi vào cuộc sống, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước, cần phải có sự quan tâm chỉ đạo của Nhà nước, sự giúp đỡ
của các cơ quan hữu quan, đặc biệt là sự phối hợp với các tổ chức tài chính tiền tệ của Nhà
nước…
3.3.4. Tổ chức thực hiện quản lý quỹ bảo hiểm xã hội.
Bảo hiểm xã hội là một tổ chức thống nhất, nhưng quỹ bảo hiểm xã hội phải được quản lý
theo cơ chế phân loại quỹ cho đúng tính chất của nó như quỹ tự nguyên và bắt buộc. Làm như
vậy là để chúng ta dễ quản lý, dễ hoạch định các biện pháp đầu tư tăng trưởng cũng như xác
định mức thu, chi cho hợp lý từng chế độ. Công tác thu phải được hoàn chỉnh từng bước bằng

14


việc theo dõi danh sách tham gia đóng bảo hiểm xã hội, biến động của đối tượng và mức đóng
góp. Cần có các biện pháp đóng góp để khai thác nguồn thu, thu đủ và tập trung kịp thời số
thu vào quỹ bảo hiểm xã hội, không để đọng ở các địa phương.
Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện nếu xem xét về mặt tài chính thì đó là cơ chế tự cân đối
thu chi. Hiện nay, bảo hiểm xã hội theo cơ chế tự nguyện còn rất khiêm tốn, nhưng về lâu dài
cần có cơ chế chính sách phát triển mạnh loại hình này. Nên đa dạng hoá quỹ bảo hiểm xã hội

15


sách thực hiẹn BHXH ), phát hiện 81/90 DN nợ BHXH từ tháng 9 trở lên với số tiền 46,3 tỷ
đồng ( trong đó 1 công ty liên doanh có số nợ lớn nhất trên 1tỷ đồng ).
Nguyên nhân là do từ tất cả các phía tham gia : Từ phía người sử dụng lao động thì không
muốn đóng BHXH cho người sử lao động họ thường khai giảm số lao đọng so với thực tế
hoặc khai giảm tiền lương ,tiền công thực tế .Bên cạnh đó người sử dụng lao động, người lao
động lẩn trốn không đóng bảo hiểm xã hội, hoặc có hành vi gian lận trong việc khai tăng về
tuổi hưu, khai tăng số năm công tác ... để được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội. Còn về
phía tổ chức bảo hiểm xã hội cũng có một số tiêu cực như chi trả các đối tượng hưởng bảo
hiểm xã hội không đúng quy định, thông đồng với người tham gia bảo hiểm xã hội để man trá
vi phạm các qui định về quy chế và tổ chức hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội.
3.3.6. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong cơ quan BHXH
Để việc quản lý bảo hiểm xã hội được thực hiện tốt và đạt kết quả cao thì việc đào tạo lại
cán bộ nhân viên trong toàn hệ thống, trang bị phương tiện làm việc thích hợp với tính phức
tạp về chuyên môn là không thể trì hoãn, chậm trễ. Sự nghiệp bảo hiểm xã hội đòi hỏi có một
đội ngũ nhân viên thông thạo nghiệp vụ, nắm vững các quy định của pháp luật về bảo hiểm xã
hội và pháp luật có liên quan, cởi mở tiếp xúc với những người được bảo hiểm, có quan hệ
chặt trẽ với cơ sở sử dụng lao động, hợp tác tốt với các bộ phận trong cùng cơ quan và các cơ
quan khác. Người lãnh đạo cơ quan bảo hiểm xã hội trung ương phải có chương trình kế
hoạch đào tạo, huấn luyện và bồi dưỡng về các nguyên tắc quản lý và nghiệp vụ cho đội ngũ
nhân viên, quy định nghiêm ngặt chế độ báo cáo thống kê, định kỳ tiếp xúc trực tiếp với các
cơ quan bảo hiểm xã hội địa phương, mở các cuộc hội thảo về những vướng mắc trong việc
thực hiện mục tiêu, trong tổ chức cơ quan và về nghiệp vụ thu chi tài chính để có quyết định
xử lý kịp thời.
3.3.7. Xây dựng hệ thống thống kê cho bảo hiểm xã hội.
Để hệ thống bảo hiểm xã hội hoạt động một cách tự chủ có hiệu quả cần thiết phải xây
dựng một hệ thống thống kê, hệ thống này có thể tập trung được các số liệu có liên quan đến
toàn bộ sự tham gia của các thành viên như: số lượng đơn vị, người lao động tham gia bảo

nữa vào công cuộc phát triển kinh tế xã hội bên cạnh những đổi mới chung về chính sách
BHXH thì quỹ BHXH cũng phải không ngừng được nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện hơn
nữa. Đề tài :“ Một số vấn đề về quản lý quỹ bảo hiểm xã hội Việt nam ” .đưa ra một số kiến
nghị nhằm hoàn thiện đổi mới hơn nữa cơ chế quản lý quỹ BHXH.

17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status