ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
[\
NGUYỄN VĂN ĐỨC
PHONG CÁCH NGÔN NGỮ THƠ CA VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 : SO SÁNH PHƯƠNG THỨC
ẨN DỤ TRONG THƠ XUÂN DIỆU,
HUY CẬN, HÀN MẶC TỬ VÀ CHẾ LAN VIÊN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Chuyên ngành
: NGÔN NGỮ HỌC SO SÁNH
Mã số
: 5.04.27
Người hướng dẫn khoa học : TS. HUỲNH BÁ LÂN
TS. NGUYỄN KIÊN TRƯỜNG
TP. HỒ CHÍ MINH – 2007
PHONG CÁCH NGÔN NGỮ THƠ CA VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 : SO SÁNH PHƯƠNG THỨC
ẨN DỤ TRONG THƠ XUÂN DIỆU,
HUY CẬN, HÀN MẶC TỬ VÀ CHẾ LAN VIÊN
LỜI CAM ĐOAN
Xin cảm ơn tất cả thầy cô đã tận tình giảng dạy trong suốt khóa học.
Xin cảm ơn Quận ủy, UBND Quận Thủ Đức, Phòng Giáo dục Quận
Thủ Đức đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận án. Cảm ơn tất cả
những bạn hữu gần xa đã động viên giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài này.
Xin cảm ơn tập thể giáo viên – công nhân viên Trường Bồi dưỡng Giáo
dục Quận Thủ Đức đã tạo điều kiện về thời gian, các tư liệu cần thiết giúp
tôi nghiên cứu đề tài “Phong cách ngôn ngữ thơ ca Việt Nam giai đoạn
1930 – 1945 : So sánh phương thức ẩn dụ trong thơ Xuân Diệu, Huy Cận,
Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên”.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 01 năm 2007
Người thực hiện luận án: Nguyễn Văn Đức
1
MỤC LỤC
^]
Trang
MỞ ĐẦU
I. Lý do và mục đích nghiên cứu ........................................................................................4
II. Đối tượng, nội dung và phạm vi nghiên cứu ..................................................................5
III. Lòch sử nghiên cứu .......................................................................................................7
IV. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................................11
V. Đóng góp mới của luận án ...........................................................................................13
VI. Bố cục của luận án......................................................................................................14
Chương một
1.3. Nét mới trong các kết hợp ngôn từ ẩn dụ trong thơ Xuân Diệu ................. 72
1.4. Phong cách ngôn ngữ thơ Xuân Diệu .......................................................... 77
2. Huy Cận ............................................................................................................... 88
2.1. Tiếp cận thơ Huy Cận theo con đường mã hoá ngôn ngữ ........................... 88
2.2. Phong cách ngôn ngữ thơ Huy Cận ............................................................. 95
3. Hàn Mặc Tử ......................................................................................................... 96
3.1. Khảo sát thơ Hàn Mặc Tử từ góc độ ẩn dụ khái niệm ................................ 96
3.2. Đóng góp của Hàn Măïc Tử về cách kết hợp ngôn ngữ ẩn dụ trong thơ.... 102
3.3. Phong cách ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử ..................................................... 108
4. Chế Lan Viên .................................................................................................... 110
4.1. Cấu trúc ngôn ngữ ẩn dụ theo con đường chuyển nghóa liên tưởng .......... 111
4.2. Ẩn dụ ngôn ngữ theo chiều liên tưởng trên trục đối vò và kết hợp............ 116
4.3. Mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong thơ
Chế Lan Viên ................................................................................................... 120
4.4 Phong cách ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên ................................................... 127
3
Chương ba
SO SÁNH CÁC LỚP TỪ ẨN DỤ GIỮA XUÂN DIỆU, HUY CẬN,
HÀN MẶC TỬ VÀ CHẾ LAN VIÊN
Trang
I. Thống kê số liệu các lớp từ ngữ ưa dùng – nhận diện phong cách ngôn ngữ từ
góc độ ẩn dụ khái niệm ..................................................................................................139
1. Thống kê từ, ngữ ưa dùng trong thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử và
Chế Lan Viên .....................................................................................................139
2. Nhận diện phong cách ngôn ngữ từ góc độ ẩn dụ khái niệm ...............................152
II. Cách tri nhận thế giới qua các lớp từ ẩn dụ là cơ sở hình thành phong cách
ngôn ngữ tác giả............................................................................................................169
rõ nét.
- Giới thiệu một cách nhìn mới về tiếp xúc phong cách ngôn ngữ thơ ca.
Trước đây, khi nhận đònh phân tích phong cách một nhà thơ, các nhà phê bình
văn học thường dựa trên cơ sở các hình ảnh, hình tượng, cảm xúc… của văn bản thơ
để bình giá. Và cách bình giá như thế thường không dựa trên những tư liệu khách
quan. Ví dụ: Có tác giả kết luận thơ Hàn Mặc Tử thuộc trường thơ điên loạn, hay
Huy Cận là nhà thơ của nỗi buồn thế kỷ, Chế Lan Viên là nhà thơ suy tưởng (thơ
theo khuynh hướng triết lý cuộc đời). Để có một cách nhìn mới, bao quát và trung
thực về các tác giả thơ, chúng tôi khảo sát thống kê các lớp từ ngữ ẩn dụ, từ đó rút ra
những nhận đònh khái quát dựa trên hệ thống ẩn dụ khái niệm của từng nhà thơ.
Việc nghiên cứu phong cách ngôn ngữ bốn tác giả thơ Việt Nam ở giai đoạn
1930 – 1945, ngoài việc khẳng đònh con đường phát triển của ngôn ngữ và văn học,
còn giúp người đọc hiểu được đặc trưng và tiến trình biến đổi của nền văn hóa, văn
học và tiếng Việt. Sự tìm hiểu về phong cách ngôn ngữ thơ ca của bốn tác giả vừa
nêu có ý nghóa cần thiết và cấp bách là ở chỗ: Góp phần nhận diện phong cách ngôn
ngữ thơ giai đoạn này như là một bước ngoặt quan trọng, một móc bản lề khẳng đònh
sự chuyển mình của ngôn ngữ và văn học ở Việt Nam.
5
Nghiên cứu phong cách ngôn ngữ các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận,
Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên là để góp thêm cứ liệu về cơ sở đònh vò sự chuyển mình
và phát triển của tiếng Việt ở giai đoạn tiếp xúc giữa văn hoá Việt Nam và văn hoá
phương Tây. Kết quả so sánh đối chiếu sẽ khẳng đònh sự khác biệt về lớp từ, về cấu
trúc các kết hợp ngôn ngữ. Cũng chính qua sự so sánh đó, chúng tôi nhằm nói lên
rằng, tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập và có một quá trình phát triển rõ rệt.
Sự tìm hiểu từ ngữ ẩn dụ trong thơ khẳng đònh được sự phát triển của hệ thống từ
vựng giao tiếp nói chung và vốn từ ngữ thơ ca nói riêng có nét đặc trưng riêng của
người Việt, đó là ngôn ngữ được hình thành và phát triển của dân tộc Việt trên cơ sở
nền văn hoá nông nghiệp Nam Á.
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay.
(Đây thôn Vó Dạ)
“Gió”, “Mây” trong câu thơ trên đã được nhà thơ lồng vào ý nghóa của cảm xúc
trữ tình. Và các từ ngữ ấy đã được tác giả quy chiếu thành những hành ảnh riêng tư
thuộc hệ thống khái niệm ngôn ngữ có tính cá nhân.
Để xác đònh phong cách ngôn ngữ thơ giai đoạn 1930 – 1945 một cách tập trung,
tiêu biểu, chúng tôi chọn bốn tác giả: Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử,
Chế Lan Viên để nghiên cứu (Những tác giả khác như : Nguyễn Bính, Tố Hữu chúng
tôi cũng thực hiện thống kê đầy đủ, và chỉ sử dụng để so sánh đối chiếu về mặt lý
luận). Ở mỗi tác giả, chúng tôi thống kê phân loại vốn từ ẩn dụ theo bảng, để từ cơ
sở đó, nêu lên phong cách ngôn ngữ riêng của từng nhà thơ. Thật vậy, đường kênh
chuyển nghóa ngôn từ theo con đường ẩn dụ luôn luôn thể hiện nét liên tưởng theo
từng cách cảm nhận riêng. Đây là cơ sở vững chắc nhất để nhận ra phong cách khác
nhau của Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên.
Bốn nhà thơ giai đoạn 1930 – 1945 vừa nêu trên, đã có nhiều đóng góp cho sự
phát triển ngôn ngữ thơ ca và cho tiếng Việt. Sự đổi mới và phát triển mạnh về cách
dùng từ, về cấu trúc, cách kết hợp từ ở giai đoạn này, là khá phong phú và đa dạng.
Chính sự phát triển của ngôn ngữ theo chiều quan hệ kết hợp và quan hệ liên tưởng,
trong hầu hết các văn bản thơ giai đoạn 1930 – 1945, đã khẳng đònh, đây là một lónh
vực rất cần nghiên cứu, làm rõ chức năng, đặc trưng của từ ngữ ẩn dụ.
Sự thay đổi về hình ảnh chung của tiếng Việt giai đoạn 1930 – 1945: từ chữ viết,
cấu trúc ngôn ngữ, đến tư tưởng, tình cảm… đã tạo nên một sự dung hợp của nền thơ
ca tiếng Việt. Một thời đại tự hào khi mà tiếng Việt đã chứng tỏ có đủ khả năng diễn
đạt những tình cảm sâu kín nhất của con người. Đây cũng là giai đoạn mà các nhà
thơ mới vận dụng nhiều thành tựu từ tiếp xúc ngôn ngữ và văn hoá.
7
III. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
rộng không bờ . . .
8
Nguyễn Tấn Long, Nguyễn Hữu Trọng trong “Việt Nam thi nhân tiền chiến” đã
phân tích khá sâu sắc sự đổi mới về phong cách diễn đạt của các nhà thơ mới trên
nhiều bình diện : từ cảm nhận trong suy tưởng, cái nhìn về hiện thực khách quan . . .
đến các bước lựa chọn ngôn từ . . . Nói chung, những nhà thơ mới tiêu biểu như
Xuân Diệu, Huy Cận được các tác giả “Việt Nam thi nhân tiền chiến” đánh giá cao
trên bình diện đổi mới về hình thức và tư tưởng trong sáng tác thơ.
Đỗ Lai Thuý trong “Con mắt thơ” đã nhận diện Xuân Diệu, Huy Cận,
Hàn Mặc Tử . . . một cách rõ nét từng vấn đề trong lónh vực sáng tác thơ.
Đỗ Lai Thuý đã nêu lên được từng phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của từng tác giả.
Đây là sự đóng góp lớn trên lónh vực nghiên cứu ngôn ngữ thi ca tiếng Việt. Có điều
tác giả Đỗ Lai Thuý chưa thực hiện một cách đầy đủ theo từng bước nghiên cứu
chuyên sâu trên một lónh vực, trên những tiêu chí nhất đònh để có được một cái nhìn
đầy đủ toàn diện về từng nhà thơ của phong trào thơ mới. Dù sao đây là bước đầu có
tính đột phá về mặt tìm hiểu phong cách học, nên đây cũng là sự đóng góp quan
trọng giúp cho những người đi sau có nguyện vọng nghiên cứu về phong cách ngôn
ngữ thơ.
Mã Giang Lân trong “Quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam” đã khẳng đònh
các tác giả phong trào thơ mới, mỗi người đều có một phong cách ngôn ngữ rất
riêng, từ cách sử dụng từ ngữ cho đến cách thể hiện miêu tả các mặt đời sống trong
thơ. Có thể nói, qua thơ, người đọc có thể nắm bắt được hình ảnh, diện mạo từng nhà
thơ cụ thể. Mã Giang Lân cũng đã nêu lên được những khác biệt rất rõ từng khuôn
mặt nhà thơ trong giai đoạn này như : Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử và
Chế Lan Viên …
Trần Đình Sử trong “Những thế giới nghệ thuật thơ” đã nêu ý niệm về cái “Tôi”
trong cảm xúc sáng tác thơ. Đây là kết quả của quá trình giao lưu tiếp xúc giữa nền
thi ca Việt Nam và nền thi ca phương Tây. Sự tác động về tiếp xúc văn hoá, chính
được các nhà thơ mới vận dụng theo cái nhìn rất khác xưa. Điều đó dẫn đến sự đổi
mới về cấu tạo các nhóm từ, ngữ, câu thơ, dòng thơ và bài thơ. Khi tiếp xúc với nền
văn hoá phương Tây, các tác giả thơ giai đoạn 1930 – 1945, đã chuyển hướng bộc lộ
từ cảm xúc về thiên nhiên trữ tình sang miêu tả những trạng thái suy nghó, tâm lý
bên trong của cái tôi cá nhân. Những từ, ngữ nghệ thuật giai đoạn này tỏ ra mới lạ
trên bình diện cấu trúc lẫn bình diện miêu tả của ngôn từ.
Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên… là những nhà thơ tiêu biểu
của phong trào thơ mới. Có thể nói, tất cả những tác phẩm của họ trong giai đoạn
10
này là kết quả tinh túy nhất của quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật. Họ đã để lại
cho nền văn thơ dân tộc nhiều tác phẩm có giá trò. Vì vậy, có thể nói các nhà thơ giai
đoạn này được giới nghiên cứu quan tâm chú ý.
Các lớp từ mà các nhà thơ sử dụng trong quá trình sáng tác có quy mô lớn về số
lượng, có sự đổi mới về cách liên tưởng độc đáo và có quan hệ kết hợp bất ngờ, gây
thích thú nơi người đọc. Mỗi nhà thơ mỗi vẻ, và ai cũng thể hiện được phong cách
ngôn ngữ thơ ca một cách rõ nét.
Những tác giả khác như Nguyễn Xuân Nam, Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Bá Thành,
Lý Hoài Thu, Thế Phong… có nhiều công trình chú ý thể tài, thể loại, tư duy, hình
ảnh ngôn ngữ về các nhà thơ mới nhưng đa số các tác giả nêu trên không đi vào
khảo sát các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên… theo một
đònh hướng nhất đònh.
Nếu như trước Cách mạng Tháng Tám, Hoài Thanh đã có nhận xét một cách khái
quát về các nhà thơ mới : “Đã thế, không thể xem phong trào thơ mới là một chuyện
lập dò do một bọn dốt nát bày ra để kiếm chỗ ngồi trong làng thơ. Nó là kết quả
không thể không có của một cuộc biến thiên vó đại bắt đầu từ hồi nước ta sáp nhập
đế quốc Pháp, và xa hơn nữa, từ hồi Nguyễn Trònh phân tranh, lúc người Âu mới
đến. Cái ngày người lái buôn phương Tây thứ nhất đặt chân lên xứ ta, người ấy đã
đem theo cùng với hàng hóa phương Tây, cái mầm mống sau này sẽ nảy nở thành
theo một hệ thống, theo một quá trình, nó sẽ là cơ sở khách quan cho việc nhận diện
phong cách ngôn ngữ riêng của nhà thơ. Và tiếp theo, sự tương hợp phong cách ngôn
ngữ thơ giữa các tác giả, sẽ là kết quả của việc hình thành phong cách ngôn ngữ
chung của một thời đại thi ca.
Khẳng đònh các lớp từ ẩn dụ được hình thành theo đường kênh chuyển nghóa theo
cảm quan của từng cá nhân, từng thời đại, và nó chòu ảnh hưởng rất nhiều yếu tố như
phong tục, tập quán, cách sống… Những yếu tố cơ bản như vừa nêu trên, bao giờ
cũng có liên quan đến sự lựa chọn ngôn ngữ trong quá trình sáng tác, là cơ sở tìm
đến một cách nhìn mới về ẩn dụ.
Ẩn dụ là phương thức chuyển nghóa theo cách lựa chọn của từng cộng đồng ngôn
ngữ, theo cảm nhận của từng dân tộc, theo từng nền văn hoá khác nhau. Trên cái
nền chung của các lớp từ ẩn dụ là sự chuyển nghóa dựa trên sự liên tưởng những nét
tương đồng giữa một thuộc tính nào đó, mà người sáng tác bắt gặp trong một cảm
nhận về hiện thực, con đường chuyển nghóa của ngôn ngữ theo cách này xuất hiện
trong thơ thường xuyên đến mức dường như đã trở thành một đặc trưng của nghệ
thuật sáng tác.
12
Ẩn dụ tạo nên khả năng diễn đạt của từ đa dạng, tinh tế, làm cho các đơn vò từ
vựng có nhiều chức năng biểu hiện và biểu cảm.
Khi xác đònh được yêu cầu của phương pháp nghiên cứu, chúng tôi tập trung thể
hiện bằng các phương pháp như : thống kê, so sánh đối chiếu, phân tích tác phẩm...
nhằm thể hiện nội dung chính của luận án.
1. Thống kê
Thống kê phân loại các lớp từ là cơ sở hình thành số liệu nghiên cứu khoa học
một cách chính xác. Dựa vào các số liệu thống kê chúng tôi bình giá xác đònh phong
cách ngôn ngữ một cách khái quát, khách quan.
Thống kê theo số lần xuất hiện các lớp từ, ngữ ưa dùng của một tác giả là cách
nhận diện phong cách ngôn ngữ tác giả đó. Các lớp từ ưa dùng của các nhà thơ cùng
phân tích các văn bản thơ theo con đường ẩn dụ của ngôn ngữ.
Trong toàn bộ các sáng tác của các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử,
Chế Lan Viên…, các tác giả đã đem đến cho công chúng biết bao hình ảnh vừa mới
lạ, vừa sinh động. Qua thơ ca của các tác giả này, cuộc sống được mô tả, được nắm
bắt bằng nhiều hình ảnh, bằng nhiều khái niệm khác nhau. Thế giới khách quan
được miêu tả bằng thế giới ngôn ngữ. Phương pháp phân tích tác phẩm theo con
đường ẩn dụ ngôn ngữ sẽ tạo nhòp cầu thông cảm, tạo nên sự thông cảm gần gũi giữa
người đọc và tác giả.
V. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Về so sánh đối chiếu, chúng tôi cố gắng so sánh đối chiếu các lớp từ ưa dùng
giữa các tác giả, đồng thời nhận diện phong cách ngôn ngữ riêng.
Phong cách học là một chuyên ngành quan trọng của ngôn ngữ học. Nó giúp
người đọc nhận diện tác giả, tác phẩm dựa trên những số liệu khoa học của
ngôn ngữ : Phong cách học được soi rọi bằng lý thuyết ngôn ngữ học của
Ferdinand de Saussure, Roman Jakobson, IU. M. Lotman, giúp chúng ta tránh khỏi
những kết luận hàm hồ về tác phẩm văn chương, không còn bình giá một nhà văn,
nhà thơ theo cảm tính tuỳ thích. Phong cách học sẽ giúp người đọc tiếp nhận những
nét thẩm mỹ của văn bản thơ trên cơ sở các phương thức chuyển nghóa của ngôn từ,
trong đó, phương thức ẩn dụ là tiêu biểu.
Đóng góp của luận án có thể là tài liệu tham khảo cho học sinh, sinh viên, bạn
đọc cảm nhận tác phẩm thơ theo cách nhìn mới. Hơn nữa, với cách tiếp cận văn bản
thơ, bằng con đường chuyển nghóa ẩn dụ, người đọc cảm nhận văn bản thơ từ nhiều
chức năng biểu hiện và biểu cảm của ngôn ngữ.
14
VI. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Luận án này được trình bày trong 200 trang, cùng với 83 trang phụ lục, ngoài
phần Dẫn nhập (gồm 14 trang) và Kết luận (3 trang), luận án gồm có 3 chương :
Chương một: Ẩn dụ là phương thức chuyển nghóa tiêu biểu của ngôn ngữ thơ ca
Ẩn dụ từ vựng tạo ra một vốn từ hoà nhập vào hệ thống ngôn ngữ chung
của cộng đồng, có tính chất chung ai ai cũng có thể hiểu một cách dễ dàng. Trong
khi đó ẩn dụ trong thơ, được chuyển nghóa theo cách cảm nhận riêng của từng nhà
thơ, và mức độ tinh tế của các lớp từ ẩn dụ này tuỳ thuộc rất lớn vào tài năng sáng
tạo của tác giả.
Trên cơ sở thống kê các lớp từ ẩn dụ của bốn tác giả Xuân Diệu, Huy Cận,
Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ở chương hai, chúng tôi có thể hình dung ẩn dụ dựa
trên những phát hiện mới của các tác giả thơ. Các lớp từ, ngữ ẩn dụ cũng chòu sự tác
động rất lớn từ cách nhận diện thế giới khách quan qua bức tranh ngôn ngữ của chủ
thể sáng tác.
Ẩn dụ tu từ là phương thức chuyển nghóa được hình thành
trên cơ sở nền văn hoá dân tộc, có thể được quy chiếu trên các lớp từ
tiêu biểu ở một thời đại thi ca nhất đònh. Những từ ngữ ẩn dụ được
hình thành trong quá trình sáng tác nghệ thuật. Những lớp từ sau đây chúng tôi
16
nhận thấy thường xuất hiện trong thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử,
Chế Lan Viên :
1. Bến, bãi, biển, bờ…
2. Hoa, hương…
3. Mùa, mùi, mưa, nắng…
4. Non, nước, núi, nguồn, đồi…
5. Ráng, rừng, rượu…
6. Sông, sóng, sương, suối…
7. Thu, thuyền, trăng, trái, trời…
8. Vườn, vắng, xứ, xuân…
9. Buồn, chiều, cõi, lòng, mây, mộng, mơ, nẻo, ngậm, niềm, nỗi, nhớ, mong,
sầu, say, tơ, tưởng, yêu…
Những lớp từ này khi vào văn bản thơ, chúng chòu tác động chuyển nghóa theo
thơ ca, có rất nhiều khả năng chuyển nghóa nên các yếu tố riêng thuộc về phong
cách cá nhân có ảnh hưởng rất lớn trong các thao tác lựa chọn ngôn từ, cấu trúc…
Một điều rất rõ là các lớp từ được lựa chọn đưa vào tác phẩm cụ thể bao giờ cũng
chòu ảnh hưởng rất lớn từ nếp nghó, cách cảm xúc, phong tục tập quán của nhà văn,
nhà thơ. Đặc biệt, mỗi nhà thơ có một cách nhìn khác nhau về thế giới, và dó nhiên ở
họ có một thế giới ngôn ngữ riêng tư mang luôn trong bản thân nó tính sáng tạo cá
nhân. Nói cách khác, các lớp từ nghệ thuật ở từng nhà thơ thường có sắc thái ngữ
nghóa riêng, có tính chất lâm thời trong văn bản thơ. Đây là yếu tố góp phần tạo nên
sự diễn đạt đa dạng, phong phú của vốn từ nghệ thuật. Rõ ràng, với cách hiểu này,
muốn nắm bắt được nội dung, cảm xúc trong thơ, người đọc phải xác đònh con đường
chuyển nghóa ẩn dụ ngôn ngữ ở từng tác giả.
Nói về tình yêu, người Việt vốn được hình thành từ cái nôi của nền văn hóa sông
nước, nên những từ, ngữ sau đây thường được sử dụng : sông, nước, bến, thuyền,
mận, đào, giếng, trúc… Những từ “thuyền”, “bến” được lặp đi lặp lại rất nhiều trong
các văn bản thơ. Trong luận án: “Phong cách ngôn ngữ thơ ca Việt Nam giai đoạn
1930 – 1945 : So sánh phương thức ẩn dụ trong thơ Xuân Diệu, Huy Cận,
Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên”, chúng tôi thống kê tần số của các lớp từ, ngữ
chuyển nghóa theo con đường ẩn dụ ở từng tác giả, với mục đích khái quát, đònh hình
thế giới ngôn ngữ riêng của mỗi nhà thơ. Và chúng tôi chọn cách chuyển nghóa theo
con đường ẩn dụ là cách tiếp cận những văn bản thơ có thể miêu tả những hình tượng
nghệ thuật thơ ca ở mỗi chủ thể sáng tác : “Nếu trước đây ngôn ngữ học truyền
thống quan niệm rằng ngôn ngữ mở ra cho ta cánh cửa đi vào thế giới khách quan
quanh ta thì bây giờ ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ngôn ngữ – đó là cánh cửa sổ để
đi vào thế giới tinh thần của con người, đi vào trí tuệ của nó, là phương tiện để đạt
đến những bí mật của các quá trình tư duy” [144;20].
Rõ ràng, bằng cách tri nhận ngôn ngữ theo chiều ẩn dụ, chúng ta có đủ cơ sở xác
lập các mối quan hệ giữa thế giới ngôn ngữ tác giả và phong cách ngôn ngữ của họ.
18
trình khái quát hoá, trong quá trình suy tưởng của tác giả. Chính vì thế, mối liên hệ
giữa hai thế giới ấy thường do chủ thể sáng tác quy chiếu theo cảm nhận riêng.
Trong thơ Hàn Mặc Tử, “bến sông trăng” vừa là một không gian trữ tình, vừa là
cách mang hình ảnh thế giới khách quan ấy vào trong thế giới ngôn ngữ có tính tâm
lý cá nhân của nhà thơ (thế giới ngôn ngữ Hàn Mặc Tử ).
19
Qua những điều trình bày trên, muốn cảm nhận được nội dung, ý nghóa văn bản
thơ, người phân tích phải nhận diện được mối quan hệ chặt chẽ giữa đối tượng miêu
tả và thế giới ngôn ngữ của nhà thơ, người đọc mới nắm bắt được cách thức tri nhận
của tác giả ảnh hưởng từ các đặc trưng văn hoá dân tộc, và đặc biệt phải xác đònh
được những thói quen tiềm ẩn hình thành thế giới ngôn ngữ. Có thể nói, “từ”, “ngữ”
thơ ca tuỳ thuộc rất lớn vào các yếu tố như:
• Truyền thống văn hoá
• Phong tục, tập quán của cộng đồng ngôn ngữ
• Hoàn cảnh lòch sử
• Quan niệm, cái nhìn thế giới bằng ngôn ngữ
• Những đặc điểm ngôn ngữ
• Sở thích cá nhân trong việc lựa chọn ngôn từ
• Tài năng sáng tạo
Về truyền thống văn hoá, chúng tôi nhận thấy : đây là một tiêu chí cơ bản làm
nên những đặc điểm hình thành phong cách ngôn ngữ thi ca. Những lớp từ, ngữ đi
vào ngôn ngữ nghệ thuật trong tiếng Việt như : Bến, bãi, biển, buổi, chiều, đồng, gió,
hoa, hương, khói , lạnh, làn, lớp, mây, mùa, nắng, ngọn, nguyệt, non, nước, ráng,
sông, sóng, sương, suối, thu, thuyền, trăng, trời, vườn, xuân . . . , rõ ràng chúng đã
chòu áp lực, chòu ảnh hưởng đậm nét từ nền văn hoá sông nước của người Việt.
Những quan niệm về tình yêu theo phong tục của người Việt cũng ảnh hưởng rất
lớn đến cảm quan sáng tác của các nhà thơ mới:
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la
Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nặng nặng nghe ta buồn buồn
Nghe đi rời rạc trong hồn
Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi.
(Buồn đêm mưa – Huy Cận)
Trên cái nền chung của các yếu tố dung hợp do tiếp xúc giữa văn hoá Việt Nam
và văn hoá phương Tây, cộng với tài năng sáng tạo của Huy Cận, bài thơ
“Buồn đêm mưa” là một kết quả sáng tác tiêu biểu giai đoạn 1930 – 1945.
Vấn đề còn lại ở đây, và qua nghiên cứu chúng tôi sẽ nêu lên từng phong cách
ngôn ngữ một cách trung thực và đầy đủ nhất ở từng tác giả thơ.
II. NGÔN NGỮ VÀ NGÔN NGỮ THƠ CA
Phân biệt sự khác nhau giữa cấu trúc ngôn ngữ giao tiếp thông thường và cấu trúc
ngôn ngữ nghệ thuật là yêu cầu cần thiết cho loại đề tài “Phong cách ngôn ngữ thơ ca
Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 : So sánh phương thức ẩn dụ trong thơ Xuân Diệu,
Huy Cận, Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên”. Thật vậy, ngôn ngữ nói năng có tính chất
trao đổi giữa các con người trong một cộng đồng, là thường được cấu tạo trên cơ sở
đơn nghóa, dễ hiểu. Trong khi đó, ngôn ngữ nghệ thuật thường xuyên thay đổi về nội
dung ngữ nghóa: có tính chất lâm thời và nó còn tuỳ thuộc rất nhiều vào cái nhìn cá
nhân của chủ thể sáng tác về thế giới.