ý thức về nghề của các nhà văn việt nam giai đoạn 1930 – 1945 - Pdf 14

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Nguyễn Thò Thanh Hằng
Ý THỨC VỀ NGHỀ CỦA CÁC NHÀ VĂN
VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 1930 – 1945

(QUA MỘT SỐ TUYÊN NGÔN NGHỆ THUẬT VÀ SÁNG TÁC TIÊU BIỂU) Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THÀNH THI

Thành phố Hồ Chí Minh - 2006


1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 có một diện mạo mới mẻ, đầy khởi sắc. Sinh
hoạt văn học trở nên sôi động, hào hứng đặc biệt so với các thời kỳ trước. Trong khoảng mười
lăm năm, với sự xuất hiện của nhóm Tự Lực Văn Đoàn và phong trào Thơ Mới, văn học nước
nhà đã phát triển mạnh, có chất lượng cao. Thành tựu gặt hái được của văn học mười lăm năm
ấy thật là to lớn trên mọi trào lưu, mọi thể loại.
Mười lăm năm, văn học Việt Nam đã bước hết chặng đường dài hàng thế kỷ. Nguyên nhân
và động lực nào đã thúc đẩy văn học phát triển mạnh như thế ? Có thể kể đến nhiều nguyên
nhân, nhưng không thể không nói đến một động lực nội tại: sự trưởng thành trong ý thức về
nghề cũng như về cá tính sáng tạo của nhà văn. Đó cũng là lý do lựa chọn đề tài: “Ý thức về
nghề của các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 (qua một số tuyên ngôn nghệ thuật và
sáng tác tiêu biểu)” của tác giả luận văn.
2.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Thực tế cho thấy, những tác phẩm được tuyển chọn thuộc văn học Việt Nam giai đoạn 1930
– 1945 chiếm một số lượng không nhỏ trong chương trình phổ thông trung học. Là một giáo viên
dạy Văn rất tâm huyết với nghề, tôi không những khao khát chiếm lónh được một cách đầy đủ,
trọn vẹn toàn bộ kiến thức văn học giai đoạn này để truyền thụ tốt cho học sinh, mà còn muốn
thông qua việc tìm hiểu những tuyên ngôn nghệ thuật và các sáng tác tiêu biểu của một số nhà
văn lúc bấy giờ nhằm:
1. Thấy được sáng tạo văn chương nghệ thuật là một nghề lao động nghiêm túc đòi hỏi nhà
văn phải có ý thức, trách nhiệm cao.
2. Thấy được vai trò quan trọng của ý thức về nghề của các nhà văn để có thể lý giải nhiều
thành tựu vượt bậc cũng như sự đa dạng, phong phú và phức tạp của văn học thời kỳ 1930 –
1945.
3. Làm sáng tỏ những đóng góp tích cực, quý báu của các nhà văn giai đoạn này đối với
quá trình hiện đại hóa văn học cùng sự phát triển của nền văn học nước ta, từ đó, giúp độc giả
có sự hiểu biết sâu sắc hơn về họ.
3.
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

phong. Bao giờ nhà văn cũng vui vẻ, hăng hái giữ nhiệm vụ tên lính cảm tử phất cao ngọn cờ
tranh đấu, dắt xã hội chạy tìm những chân trời mới và đẹp trên con đường gay go của hạnh phúc”
(Trương Tửu, 143, tr. 422), “Chúng tôi biết rằng nhà văn có một cái thiên chức trọng đại: đánh
thức quần chúng và kích thích tranh đấu, bao giờ nghệ thuật cũng là một cái lợi khí tranh đấu
Nhà văn của các giai cấp nghèo phải sống cuộc đời của người nghèo khổ” (Cao Văn Chánh,
143, tr.478).
Thế nhưng, cho đến khi cuộc tranh luận trên kết thúc, vẫn không có nhà phê bình nào trực
tiếp đề cập đến vấn đề ý thức về nghề của các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945.
Năm 1942, tác giả của Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh – Hoài Chân đã bày tỏ quan điểm,
nhận đònh của mình về phong trào Thơ Mới. Tuy nhiên, trên cơ sở tổng kết phong trào Thơ Mới,
cùng với việc chọn lọc và nêu ra những giá trò tích cực của nó, hai ông chỉ dừng lại ở chỗ phát
hiện ra những phong cách tiêu biểu, độc đáo của mỗi thi nhân, vấn đề lao động nghệ thuật vẫn
chưa được bàn luận.
Góp vào diễn đàn tranh luận về văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945, với công trình
“Nhà văn hiện đại” (hai tập), nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã điểm qua 79 nhà văn, nhà thơ tiêu
biểu của giai đoạn này. Sau khi phân tích những đặc trưng nổi trội của các “thi gia”, các “tiểu
thuyết gia” để bạn đọc biết qua về “sự tiến hóa của văn học hiện đại” (111, tr.6), ông khẳng
đònh: “Văn chương cũng chẳng khác nào các loài động vật, thực vật, văn chương cũng chòu chung
một luật tiến hóa như muôn loài, các loại văn nẩy nở, tự cấu tạo, chòu sự đào thải, biến đổi sinh
sinh hóa hóa như vạn vật” (111, tr. 1167 – 1168). Theo đó, Vũ Ngọc Phan vẫn chưa nhìn nhận
vấn đề lao động nghệ thuật của nhà văn. Ông cho là quá trình phát triển ấy tất yếu phải diễn
ra, do sự vận động nội tại của văn chương, mà chưa hề chú ý đến vai trò quan trọng của ý thức
về nghề của các nhà văn.
Đến năm 1944, Đặng Thai Mai, người được tiếp xúc với lý luận Mác – Lê Nin sớm, có lập
trường vững, yêu mến văn học và có một nền học vấn căn bản, đã cho ra đời cuốn Văn học khái
luận. Đây là tác phẩm lý luận văn học đầu tiên trình bày quan điểm văn học mác xít có hệ
thống. Khi bàn về vấn đề sáng tác, ông viết: “Ý thức rõ rệt về tính cách biến thiên của xã hội là
nguyên lý sáng tác của văn nghệ … Nếu khối óc của nhà văn không có những luồng sóng bất
bình, nếu như tâm hồn kẻ cầm bút không cảm thấy những nỗi đau đớn thiếu thốn của kiếp người,
những điều mong mỏi thiết tha của thời đại, nếu không lónh hội được tính cách luôn luôn biến

đề ý thức của nhà văn: “… Lòch sử phong trào “Thơ Mới” cũng chứng minh rằng, bất cứ một nhà
thơ nào chạy theo ý thức hệ cá nhân tư sản, thì tài năng của người đó thế nào cũng bò thui chột đi
và anh ta chỉ có thể ngày càng đi vào ngõ cụt tối om. Con đường sáng tác ngày càng đi xuống của
Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử … trước 1945 đã nói lên
rất rõ điều đó. Một số thi só khi đã gắn liền với ý thức hệ cá nhân tư sản, khi đã thoát ly khỏi
quần chúng và thu mình vào cái “tôi” cô đơn, nhỏ bé, thì không thể nào trở thành một nhà thơ lớn
được. Một nhà thơ trữ tình lớn phải nói lên được nguyện vọng của quần chúng, phải là phát ngôn
nhân của thời đại …”(29, tr 484). Để lập luận của mình tăng sức thuyết phục hơn, ông đã dẫn lời
nói của nhà phê bình người Nga Biêlinxki: “Không một nhà thơ nào có thể trở thành vó đại do tự
thân mình, và qua tự thân mình, qua những đau khổ riêng, sướng vui riêng của mình, bất kỳ nhà
thơ lớn nào sở dó được xem là vó đại, là nguồn gốc những niềm đau khổ và vui sướng của họ đã
bắt rễ sâu vào mảnh đất xã hội và lòch sử, và do đó mà họ là một cơ quan và một đại biểu của xã
hội, của thời đại, của nhân loại” (29, tr.484 – 485 ). Như vậy, Phan Cự Đệ đã thừa nhận việc
xác đònh ý thức hệ của các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945 là rất quan trọng vì nó là
cơ sở để nhà văn xây dựng cho mình ý thức về nghề và cũng chính nó chứ không phải nhân tố
nào khác sẽ quyết đònh sự thành công hay thất bại của nhà văn.
Gần đây hơn, Hà Minh Đức với công trình Khảo luận văn chương (2003) đã chỉ ra sự khác
nhau về quan điểm nghệ thuật giữa các nhà văn lãng mạn và các nhà văn hiện thực giai đoạn
1930 – 1945: “Nếu quan điểm nghệ thuật lãng mạn chỉ nghó đến việc viết cho riêng mình, thỏa
mãn ý thích của riêng mình thì các nhà văn hiện thực lại luôn nghó đến người đọc”. Ông đặc biệt
nhấn mạnh: “Tác phẩm văn chương phải hoàn thiện với tài năng sáng tạo của người viết, không
thể tùy tiện, thiếu trách nhiệm với sản phẩm tinh thần của mình. Không thể đem đến cho người
đọc một cái gì thiếu chuẩn mực và chưa hoàn chỉnh (…). Nhà văn phải hiểu thiên chức của ngòi
bút” (35, tr.108). Sau khi đã đưa dẫn chứng chứng minh điều mình nói, ông đề cao các nhà văn
hiện thực và những sản phẩm tinh thần của họ: “Rõ ràng các nhà văn hiện thực đều rất có ý thức
về trách nhiệm, về nghề văn và họ cùng có quan điểm sáng tác gần gũi. Suốt trong hơn một thập
kỷ phát triển của văn học, dòng văn học hiện thực với tư cách chính thống của một dòng văn học
công khai đã làm hết sức mình, vừa đảm nhiệm phản ánh chân thực bộ mặt thật của xã hội thực
dân phong kiến lại vừa có tác dụng thức tỉnh ý thức đổi thay hoàn cảnh xã hội để hướng tới một
cuộc sống tốt đẹp hơn”(35, tr.109). Xét kỹ ra, Hà Minh Đức dẫu có nói đến quan điểm nghệ

văn đã được giới thiệu ở trên, người viết sẽ giúp độc giả:
a. Phát hiện ra ý thức về nghề của các nhà văn tiêu biểu và vai trò của nó trong sự phát
triển của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945.
b. Khẳng đònh viết văn là một nghề lao động nghiêm túc, đầy sáng tạo, đòi hỏi nhà văn
không chỉ có khả năng thiên phú mà còn phải có tâm, có tài, có sự cố gắng nỗ lực cao.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Kết hợp sử dụng các phương pháp:
5.1.
Phương pháp hệ thống
Trong quá trình tìm hiểu quan niệm sáng tác của các nhà văn Việt Nam giai đoạn 1930 –
1945, người viết sẽ tiến hành khảo sát, hệ thống các quan niệm có tính chất “tuyên ngôn nghệ
thuật” của họ lại. Phương pháp này giúp cho người nghiên cứu chỉ ra được mối quan hệ giữa các
yếu tố bộ phận của đối tượng nghiên cứu.
5.2. Phương pháp so sánh
Để thấy được những nét mới mẻ trong ý thức về nghề của các nhà văn thế hệ 1930 – 1945,
người viết sẽ so sánh quan niệm sáng tác giữa các nhà văn cùng thời và cũng đối chiếu cả với
quan niệm sáng tác của các nhà văn trước đó. Phương pháp này sẽ giúp cho người viết vừa khái
quát hóa được sự phát triển trong quan niệm sáng tác của các nhà văn, vừa chỉ ra được những
đóng góp mới của các nhà văn giai đoạn này đối với tiến trình phát triển của văn học.
5.3.
Phương pháp loại hình
Phương pháp này sẽ giúp cho người viết hiểu biết sâu sắc hơn ý thức về nghề của các nhà
văn giai đoạn 1930 – 1945 thông qua việc tập hợp, tìm hiểu - theo thể loại – một số tác phẩm
tiêu biểu của các nhà văn đại diện (đã được giới thiệu ở trên), phát hiện ra giá triï của chúng
cũng như sự thống nhất hay không thống nhất giữa chúng với tuyên ngôn nghệ thuật của những
người sáng tác.
6. KẾT CẤU LUẬN VĂN
Bố cục của luận văn được chia làm 3 phần:

Phần I: MỞ ĐẦU

triển của văn học luôn gắn liền với sự phát triển của lòch sử xã hội, mà lòch sử xã hội Việt Nam
giai đoạn 1930 – 1945 lại có nhiều biến động lớn. Cái mới hình thành và lấn dần cái cũ, cái cũ
sắp sụp đổ nhưng cái mới chưa đủ mạnh để thay thế. Con người thế hệ mới ra đời, với “khát
vọng được thành thực”, luôn cố gắng vươn lên nhằm tự khẳng đònh mình. Văn học bắt nguồn từ
đời sống và phản ánh đời sống, do đó, cũng biến đổi theo và trở thành hàng hóa. Nhiều khuynh
hướng, trường phái văn học lần lượt ra đời. Mỗi trường phái có quan điểm nghệ thuật, có tôn chỉ
hành động riêng. Ý thức về nghề của các nhà văn, vì vậy, cũng ngày càng phát triển và được
xem là kim chỉ nam cho mọi hoạt động sáng tác.
Không đồng nhất với quan điểm sáng tác hay quan niệm nghệ thuật (về con người trong
văn học), ý thức về nghề là sự nhận thức tự giác của nhà văn về nghề viết văn, được thể hiện
qua tuyên ngôn (quan niệm) nghệ thuật và thực tế sáng tác của chính nhà văn đó.
Hầu hết các nhà văn Việt Nam thế hệ 1930 – 1945 đều có ý thức sâu sắc về nghề. Họ vừa
am hiểu kỹ thuật sáng tác, vừa rất quý trọng văn chương, luôn xác đònh rõ phẩm chất cần có để
hành nghề, tác nghiệp. Nghó rằng sự thành thực là cái then chốt của người nghệ só, Nam Cao
khảng khái: “Cái nghề văn, kò nhất cái lối thấy người ăn khoai cũng vác mai đi đào” (84, tr.53);
Thạch Lam càng mạnh mẽ: “Một nhà văn không thành thực, không bao giờ trở nên một nhà văn
giá trò (…). Và không có gì đáng bỉ cho một nhà văn hơn là mình tự dối mình” (12, tr.575). Tha
thiết yêu nghề, cảm thấy hạnh phúc vô biên khi được sáng tác: “Mỗi khi cầm bút ướm thử nó lên
tờ giấy trắng trong, tinh khiết, tôi thấy sung sướng vô vàn, sung sướng đến chảy nước mắt ra, đến
nỗi có thể tưởng rằng mình sẽ chết ngay nếu bò mất quyền viết” (Nguyễn Tuân, 72, tập 8, tr.262),
các nhà văn hiện đại thời bấy giờ đã đặt hết tâm huyết vào văn chương, xem văn chương là cái
nghiệp, là duyên nợ của mình: “Người viết văn với văn chương hình như có một mối duyên nợ gì
ngấm ngầm với nhau ấy, rứt không ra” (Nguyễn Công Hoan, 55, tr.113).
Hơn nữa, với tinh thần trách nhiệm cao: “Cái thiên chức của nhà văn cũng như những chức
vụ cao quý khác là phải nâng đỡ những cái tốt, để trong đời có nhiều công bằng, nhiều thương
yêu hơn” (Thạch Lam, 12, tr.591), càng ý thức rõ sức mạnh của công cụ: “Văn chương là một thứ
khí giới thanh cao và đắc lực” (Thạch Lam, 12, tr.62) góp phần đấu tranh và cải tạo xã hội, các
nhà văn Việt Nam thế hệ 1930 – 1945 càng hiểu thấu cả sự bất lực trong sáng tác: “Cái gì nhà
văn không cảm thấy mà bòa ra, nó vẫn có vẻ một vật thừa, một vật vô ích” (Thạch Lam, 12,
tr.574). Nam Cao cương quyết không chấp nhận sự cẩu thả trong văn chương: “Sự cẩu thả trong

viên, khích lệ sự sáng tạo của nhà văn. Tuy nhiên, đôi lúc sự cổ vũ đó có thể khiến cho nhà văn
ỷ lại, không chòu làm việc hết mình. Vì vậy, trên cơ sở nhận rõ tình hình xã hội, phân biệt rạch
ròi hai loại độc giả: “Hạng độc giả chỉ cốt xem truyện và hạng độc giả thích suy nghó, thích tìm
những trạng thái tâm lý giống tâm hồn mình” (12, tr.592), qua truyện ngắn này, Thạch Lam
nhằm muốn nhắn nhủ tất cả nhà văn: cần “có cái tự kiêu của người độc lập và tâm hồn thanh
cao” (12, tr.587), phải thành thật với mình, phải phản ánh đúng điều mình cảm nhận, bởi “chỉ có
những tác phẩm nào có nghệ thuật chắc chắn, trong đó nhà văn biết đi qua những phong trào
nhất thời để suy xét đến những tính tình bất diệt của loài người, chỉ những tác phẩm đó mới vững
bền mãi mãi” (12, tr.577), còn “những nhà văn nào ồ ạt theo thời chỉ tạo ra được những tác phẩm
số phận mỏng manh” (12, tr.577).
Càng gắn bó với nghề văn, các nhà văn Việt Nam thế hệ 1930 – 1945 càng ý thức rõ vai
trò của đam mê và khát vọng. Nhờ có đam mê và khát vọng, họ mới có thể “sinh ư nghệ, tử ư
nghệ” với văn chương, “một nghề bạc bẽo nhất đời mà những phút vinh quang làm rạng rỡ
thoáng qua không an ủi nổi một đời đau buồn khổ nhục” (72, tr.356). Nhân vật Hộ (Đời thừa)
của Nam Cao đã thấy rằng: “Tôi mê văn quá nên mới khổ” (84, tr.145). Nhưng cũng như Hộ,
Nam Cao và các nhà văn khác dù “biết đa mang là khổ” (168, tr.26) vẫn trọn một lòng sống chết
với nghiệp văn: “Ấy thế, mà tuy khổ thì khổ thật, nhưng thử có người giàu bạc vạn nào thuận đổi
lấy cái đòa vò của tôi, chưa chắc tôi đã đổi” (84, tr.145). Hơn nữa, họ còn “nguyện sẽ cam chòu tất
cả những thiếu thốn, đọa đày mà văn nhân nước mình phải chòu (…), sẵn lòng từ chối một chỗ làm
kiếm nổi mỗi tháng hàng trăm bạc, nếu có thể kiếm được năm đồng bạc về nghề văn …” (84,
tr.64).
Thêm vào đó, với sự bừng tỉnh sâu sắc về ý thức cá nhân, các nhà văn hiện đại thời bấy giờ
rất có ý thức về kế thừa và cách tân; về dân tộc và nhân loại. Họ không chỉ biết tiếp thu thành
tựu văn học của bao thời đại trước, mà còn tích cực góp phần làm thay đổi diện mạo văn học,
giúp văn học phát triển mạnh mẽ cả về nghệ thuật lẫn nội dung. Càng hăm hở đem đến cho văn
học nhiều sự cách tân, văn nghệ só giai đoạn này càng chú tâm đến vấn đề dân tộc và nhân loại.
Qua Tiên (Những ngày vui), Khái Hưng mong muốn: “Nghề báo phải là một nghề tự do để có thể
bênh vực được những người yếu hèn, khổ sở. Chứ viết báo để làm quảng cáo cho một hãng ô tô,
hay để nêu lên những bài viển vông thì viết báo để làm gì !” (59, tr.163). Vũ Trọng Phụng khao
khát: “Tiểu thuyết là sự thực ở đời” (130, tr.284). Thể trạng yếu đuối không cản trở được ước

về trình độ và thò hiếu của công chúng đòi hỏi sự đa dạng trong sáng tác. Nhưng cơ bản họ có
một nét chung: nhu cầu tìm đến văn học như một phương tiện giải trí, một công cụ nhận thức về
thực tại cuộc sống đang biến đổi xung quanh, hay là những bí ẩn trong thế giới nội tâm con
người hơn là những lời giáo huấn đạo đức. Khác với độc giả thời trước, “công chúng văn học giai
đoạn này đã thể hiện tính chủ động trong tiếp nhận bằng sự tham gia phát biểu trên báo chí, bằng
khả năng tiêu thụ sách báo của mình. Trong thực tế, khi tác phẩm văn học phần nào mang ý
nghóa là một sản phẩm hàng hóa thì vai trò chi phối của độc giả đối với thò trường chữ nghóa
không nhỏ” (173, tr.53). Nhà văn nào muốn gầy dựng được tên tuổi thì phải không ngừng đổi
mới đề tài, nâng cao chất lượng sáng tác, trình độ tay nghề, phải có ý thức về nghề.
1.1.1.2.
Điều kiện văn hóa – giáo dục
Năm 1919, thi cử Nho học bò chế độ thực dân bãi bỏ. Hệ thống giáo dục Hán học bò triệt
tiêu. Hệ thống nhà trường Pháp – Việt, dù chưa được phát triển mạnh mẽ nhưng cũng đã đủ để
hình thành một lực lượng trí thức mới – lực lượng trí thức Tây học. Lực lượng này, đến năm
1930, theo thống kê niên giám của Đông Dương, đã xấp xỉ ba trăm ngàn người. Họ là những
công chúng mới, những người đọc mới, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, đã quen với
những điều mới mẻ của văn học phương Tây, từ thể loại đến bút pháp, từ phong cách đến ngôn
ngữ. Cũng từ trong hàng ngũ công chúng mới ấy, một lớp nhà văn mới đã xuất hiện. Cùng với
số nhà nho “phá nghiệp” ra phố phường kiếm sống bằng nghề làm báo, viết văn, do sự phân
công xã hội thoát khỏi tình trạng kiêm nhiệm, họ dần dần đi vào con đường chuyên môn hóa.
Lớp nhà văn chuyên nghiệp này ngày càng đông đảo, đa dạng, với nhiều sở trường và xu hướng
khác nhau. Họ đã cho ra đời nhiều sáng tác mới trên tất cả các thể loại: tiểu thuyết, truyện
ngắn, tùy bút, phóng sự, thơ, kòch, lý luận, phê bình, nghiên cứu v.v… và cũng chính họ đã khởi
xướng nhiều cuộc tranh luận về các vấn đề văn học trên báo chí. Dù xuất thân từ Hán học hay
Tây học, để đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội, các nhà văn thời bấy giờ đều tự trang bò thêm cho
mình kiến thức từ nhiều nguồn, bởi họ đã đến với văn chương bằng tất cả sự lựa chọn có ý thức.
Ở vào cảnh ngộ mất nước, chưa thể làm gì để biến đổi xã hội, những nhà văn giàu nhiệt huyết
này đã cầm bút tái hiện lại thực trạng xã hội, dồn cả tâm sức vào việc xây dựng, hoàn thiện và
phát triển tiếng Việt, văn chương, nhằm vun đắp cho tinh thần dân tộc, với công cụ đắc lực là
chữ quốc ngữ. Đây là phương tiện giao tiếp tiện lợi và hiện đại, “là hệ thống ngôn ngữ – văn tự

mục sinh hoạt văn học thường xuyên như: văn uyển, điểm sách, tin văn, giới thiệu sách mới, sưu
tầm văn học, giới thiệu các truyện ngắn và tiểu thuyết đăng nhiều kỳ … Chính nơi đây là diễn
đàn để các trí thức Việt Nam trao đổi về các vấn đề văn hóa, ngôn ngữ, nghệ thuật, văn chương;
đồng thời cũng là nơi tạo ra một không khí kích thích sự sáng tạo, sự thể nghiệm và những tìm
tòi, học hỏi của các nhà văn trên con đường cầm bút. Không những thế, báo chí còn dần dần trở
thành một món ăn tinh thần không thể thiếu được của quần chúng ở đô thò và những người có
học ở nông thôn. Cho nên, dù muốn hay không, các nhà văn cũng phải phát huy tối đa tinh thần
sáng tạo cùng với ý thức trách nhiệm của người cầm bút. Điều đó cũng có ý nghóa là báo chí đã
góp phần đắc lực trong việc khơi dậy và phát triển ý thức cá nhân.
1.1.2.
Sự phát triển của ý thức cá nhân
Những biến động mạnh mẽ của xã hội Việt Nam từ đầu những năm 30 đã làm bừng tỉnh và
phát triển ý thức cá nhân. Đây là một nét mới trong ý thức xã hội có ý nghóa tiên quyết cho
công cuộc cách tân văn học thời kỳ này. Nói đến ý thức cá nhân là nói đến cái Tôi. Cái Tôi
(Individu) là một khái niệm triết học nhằm chỉ tính độc đáo, cá biệt của nhân cách cá nhân,
đánh dấu sự tự ý thức đầu tiên của con người về chính mình với tư cách là một cá thể khác với
tha nhân. Từ đây ý thức về sự hiện hữu, về bản thể, sinh tồn cũng như về sứ mệnh và bổn phận
làm người đã khẳng đònh vò thế mới của cái Tôi cá nhân. Nó không còn là “những yếu tố đồng
tính của đám đông là xã hội hay cái tôi chìm đắm trong cái ta vô ngã” (166, tr.76).
Ở Việt Nam, trong xã hội phong kiến trung cổ, giáo lý phong kiến không công nhận cá
nhân. Cá nhân không có quyền sống riêng. Mỗi người chỉ là một phần tử trong cộng đồng giữa
bao nhiêu quan hệ cộng sinh chồng chéo chứ không bao giờ là một nhân cách độc lập. Tính chất
đặc đònh của quan hệ cộng đồng làng xã, quan hệ gia tộc, huyết hệ đòi hỏi con người phải quên
phần cá nhân của mình để sống đúng với chính danh, phận vò, đúng với cái khuôn cứng của trật
tự xã hội. Nghó về điều này, Xuân Diệu đã từng kêu lên: “Lễ nghi, đạo đức trói buộc con người
Việt Nam trong bao nhiêu lâu ? Hồn thơ bò ngạt giữa gông cùm, trái tim bò đè không dám đập,
cuộc sống thu chặt lại giữa khuôn phép bất nhân” (72, tr.18).
Trong văn học viết từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX đã xuất hiện con
người cá nhân với nhu cầu được giải thoát khỏi xiềng xích phong kiến, được tự do hưởng hạnh
phúc lứa đôi. Nhưng đó chỉ là những ước ao trong khuôn khổ xã hội mà thôi. Thế nên, dè dặt

đó, có thể nói rằng Thơ Mới đã đi trọn vẹn, tận cùng hành trình của cái “tôi” cá nhân.
Cùng với phong trào Thơ Mới, tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn (1932 – 1944) cũng luôn xoay
quanh một vấn đề cơ bản, cốt lõi: vấn đề con người cá nhân. “Con người trong Tự Lực văn đoàn
luôn luôn được đặt trong sự thử thách của hoàn cảnh nhưng họ đã không cam chòu để hoàn cảnh
bóp chết như những con người trong tác phẩm của Hồ Dzếnh, Nam Cao. Họ cũng không buông
xuôi, không khóc than ủy mò như Đạm Thủy, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách. Họ cũng không
ngồi để chán nản với toàn thế giới, để gặm nhấm “nỗi buồn cô đơn”, “nỗi sầu vạn kiếp” như con
người trong Thơ Mới …” (167, tr. 44) mà thường đấu tranh để giành thế chủ động dù thắng lợi
nửa chừng như Mai (Nửa chừng xuân - Khái Hưng), Loan (Đoạn tuyệt – Nhất Linh) v.v… Chính
sự khẳng đònh ý thức cá nhân trong quan hệ xung đột, đối kháng với tập tục, quan niệm, đạo đức
truyền thống, lên tiếng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc, yêu đương tiến bộ là nét mới trong
cấu trúc nhân cách nhân vật ở tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn. Sự bung phá này là cấp độ quan
trọng đầu tiên trong hành trình của ý thức cá nhân và nó có ý nghóa là “bản tuyên ngôn nhân
quyền bằng nghệ thuật” (167, tr.40).
Thêm vào đó, ở tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn , các nhà văn đã đi sâu khám phá thế giới
tinh thần, cảm xúc của nhân vật, mà cái “tôi” chính là phương diện trung tâm tinh thần của con
người, là cốt lõi của ý thức. Vì vậy, khả năng tự ý thức, đòi hỏi tự do cá nhân trong sự đối kháng
với tập tục cổ truyền đã đánh dấu sự lên ngôi của ý thức cá nhân.
Tuy nhiên, ý thức cá nhân trong văn học lãng mạn nói chung đã bò tách khỏi con người xã
hội sinh động. Ýù thức cá nhân, về bản thể, phải luôn luôn gắn liền với tư cách con người xã hội
bởi quá trình hình thành nhân cách và ý thức cá nhân, về bản chất, phải là quá trình xã hội hóa
cá nhân để phát triển năng lực tự đánh giá, tự ý thức. Nếu cắt bỏ mối quan hệ này, ý thức cá
nhân dễ phát triển thành chủ nghóa cá nhân cực đoan và sẽ dẫn đến hậu quả của sự sụp đổ chính
bản chất con người.
Do đó, có thể nói, sự thức tỉnh của ý thức cá nhân với khát vọng “mình được là mình” là
điểm khởi xuất, đồng thời cũng là điểm hội tụ của văn học Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945.
Các nhà văn thế hệ 1930 – 1945 được thừa hưởng những gì mà bao người đi trước hoặc cùng
thời tạo ra và họ đã tiếp tục đưa ý thức ấy của thời đại vươn lên một tầm cao, một chiều sâu
mới. Với tư cách là chủ thể của quá trình sáng tạo văn học, sự bừng tỉnh về ý thức cá nhân đã
hình thành ở họ nguồn năng lượng tinh thần phong phú, kích thích họ sáng tác, tạo nên nhiều

Thái bình nghi nỗ lực
Vạn cổ thử giang san.
(Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm Tử bắt quân thù.
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy ngàn thu).
(Tụng giá hoàn kinh sư ) (15, tr.94)
hay có thể như Lê Thánh Tông viết văn lúc thảnh thơi, nhàn nhã, nhằm kể lại hứng thú sáng tác
của mình:
“Ta nhân lúc muôn việc được rỗi, nửa ngày được nhàn, thường xem các sách, vui thích lục
nghệ, mọi sự huyên náo lắng xuống, một ngọn đèn sáng thơm tho, thi dục ít, tinh thần trong sáng,
ở yên, hứng cao, mới phấn khởi nghó đến khuôn phép lớn của thánh đế minh vương, lòng cẩn thận
của trung thần lương bật. Gọi chàng giấy, họ bút, thượng khách mực, trọng thần nghiên đá, bảo
đi bảo lại rằng: chân tình ta phát ra, có anh khí dào dạt, thành cách ngôn hay”.
(Tựa Quỳnh uyển cửu ca) (88, tr.12)
hoặc cũng có thể bắt chước Nguyễn Du làm thơ bày tỏ nỗi bất bình trước thế sự đảo điên, tóc đã
bạc rồi mà vẫn chưa lập nên danh phận, cứ phải bôn ba, lận đận nơi xứ lạ, quê người:
Tráng só bạch đầu bi hướng thiên,
Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên.
Xuân lan, thu cúc thành hư sự
Hạ thử, đông hàn đoạt thiếu niên.
(Tráng só đầu bạc ngửng nhìn trời, lòng bi đát
Hùng tâm, sinh kế cả hai đều mờ mòt.
Xuân lan, thu cúc đều thành chuyện hão
Đông rét, hè nóng, cướp cả tuổi xuân).
(Tạp thi I ) (45, tr. 611)
v.v…
Một số nhà văn, nhà thơ thế hệ 1930 – 1945 thuộc xu hướng lãng mạn như: Khái Hưng,
Thế Lữ, Xuân Diệu … đã gặp gỡ tiền nhân ở quan niệm này.
Là cây bút chủ chốt của Tự Lực Văn Đoàn, Khái Hưng từng cho rằng sáng tác văn chương

mình ra dâng tặng lại cuộc đời như có lần ông đã viết: “Đây là lòng tôi đang thời sôi nổi, đây là
hồn tôi vừa lúc ngân vang và đây là tuổi xuân và đây là sự sống của đời tôi nữa. Tôi đem tặng
người mấy vần thơ” (7, tập 1, tr.9). Nếu mấy vần thơ có thể giúp cho Xuân Diệu giao cảm được
với cuộc đời, với thiên nhiên thì cũng có nghóa là văn chương đã giúp cho tâm hồn con người
thêm phong phú. Con người cảm thấy yêu đời và cuộc sống bớt phần tẻ nhạt chính là nhờ có
văn chương. Thế nên, dù không thể làm được điều gì lớn lao cho xã hội thì văn chương vẫn thực
sự có ích cho đời, giống như tác dụng của phấn thông vàng, dẫu “không gặp hoa cái chăng thì
phấn cũng làm lộng lẫy không gian trong một buổi chiều nọ”(7, tập 2,tr.17). Suy rộng ra, người
nghệ só, nhà thơ không nhất thiết phải là nhà cải cách xã hội, chỉ cần họ là người có tâm hồn
phong phú, biết chia sẻ và chòu chia sẻ thì sẽ giúp cho nhân loại thấy đời vui và đáng yêu hơn.
Như vậy, các nhà văn, nhà thơ lãng mạn giai đoạn 1930 –1945 không chỉ biết kế thừa quan
niệm truyền thống (văn chương làm phong phú tâm hồn con người), mà còn biết bổ sung, mang
đến cho văn chương nét nghóa mới: văn chương có thể giúp con người trao đổi tình cảm với
nhau, giúp con người bày tỏ những rung động từ trong tâm hồn và phát hiện ra vẻ đẹp thiên hình
vạn trạng của con người, của cuộc đời, của thiên nhiên, cỏ cây, hoa lá … Nhờ có nó, con người
sẽ cảm thấy tâm hồn mình nhẹ nhàng, thư thái hơn, người với người gần gũi nhau hơn …
Nhưng tác dụng của văn chương đâu chỉ có thế. Tiến thêm một bước, các nhà văn, nhà thơ
thế hệ này còn nhấn mạnh đến vai trò là công cụ và phương tiện giáo huấn của văn chương.
1.2.1.2.
Văn chương là công cụ, phương tiện giáo huấn
Quan niệm xem văn chương là công cụ, phương tiện giáo huấn tư tưởng, đạo đức đã có
truyền thống khá lâu đời. Từ thế kỷ XV, trong bài tựa Lónh Nam chích quái, Vũ Quỳnh và Kiều
Phú đã viết: “Việc tuy kỳ dò mà không quái đản, văn tuy thần bí nhưng không nhảm nhí, tuy nói
những chuyện hoang đường mà tung tích vẫn có bằng cứ, há chẳng phải là khuyên điều thiện,
trừng điều ác, bỏ giả theo thật để khuyến khích phong tục đó ru ?”(133, tr.31). Lê Quý Đôn
(1726 – 1784) cũng nói: “Văn chương là gốc lớn của sự lập thân, là việc lớn của sự kinh thế”
(133, tr.92). Do đó, các nhà nho xưa đã rất chú ý trong việc sử dụng văn chương như một hình
thức giáo dục đạo đức, tu dưỡng tính tình. Một trong những tác phẩm tiêu biểu cho loại văn học
này là Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu.
Tuy nhiên, do đặc điểm lòch sử của nước ta mà văn chương được huy động tối đa vào cuộc

Là một nhà văn lãng mạn, nhưng Thạch Lam không đi theo khuynh hướng thoát ly như các
cây bút trong Tự Lực Văn Đoàn vì ông đã nhận ra giá trò của văn chương. Ông nói: “Đối với tôi,
văn chương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên; trái lại, văn
chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một
cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người được thêm trong sạch và phong phú hơn”
(Thạch Lam, 12, tr.62).
Cùng quan điểm với Thạch Lam, Nam Cao – nhà văn hiện thực xuất sắc _ nhấn mạnh: văn
chương “phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng
lòng thương, tình bác ái, sự công bình … Nó làm cho người gần người hơn” (1, tr.76). Trên báo
Tương lai, số ra ngày 25 tháng 3 năm 1937, với bài viết Để đáp lời báo Ngày nay: Dâm hay là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status