TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN ĐỀ NGÂN HÀNG
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NỢ XẤU
CỦA CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2010-2012
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện
ThS. NGUYỄN THỊ LƯƠNG BÙI HẢI ĐĂNG
Mã số SV: 1081553
Lớp: Tài Chính K34
Cần Thơ - 2013
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết
quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa
học nào.
Cần Thơ, ngày 27 tháng 06 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Bùi Hải Đăng
iii
LỜI CẢM TẠ
Trong quá trình học tập và nghiên cứu em được quý thầy cô trường Đại Học Cần Thơ
nói chung và Khoa kinh tế - Quản trị kinh doanh nói riêng, đã tận tình truyền đạt những kiến
thức quý báu, giúp em có đủ kiến thức và tự tin để thực hiện chuyên đề này.
Để hoàn thành tốt chuyên đề này, ngoài sự cố gắng của bản thân, em xin chân thành
cảm ơn Cô Nguyễn Thị Lương vì những kinh nghiệm quý bào mà Cô đã truyền đạt cũng
như sự hướng dẫn tận tình của Cô trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu chuyên đề này.
Tuy nhiên, do hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên kết quả cuối cùng sẽ không
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2013
Giáo viên hướng dẫn
Nguyễn Thị Lương
v
MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 1
2.1. Mục tiêu chung 1
2.2. Mục tiêu cụ thể 2
3. Phương pháp nghiên cứu 2
3.1. Phương pháp thu thập số liệu 2
3.2. Phương pháp xử lý số liệu 2
4. Phạm vi nghiên cứu 2
4.1. Phạm vi không gian 2
4.2. Phạm vi thời gian 2
1.1. Tình hình nợ xấu của hệ thống NHTM trong giai đoạn 2010-2011 4
1.2. Tình hình nợ xấu của hệ thống NHTM trong giai đoạn 2011-2012 5
1.3. Tỷ lệ nợ xấu theo lĩnh vực cho vay và đối tượng vay 8
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc gia tăng tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam
trong giai đoạn 2010-2012 11
1.5. Tác động của việc gia tăng nợ xấu đối với ngân hàng và nền kinh tế 13
2.1. Giải pháp đối với bản thân các ngân hàng 15
2.2. Giải pháp đối với nhà nước 15
1. Kết luận 17
2. Kiến nghị 17
vi
Chuyên đề ngân hàng GVHD: Nguyễn Thị Lương
PHẦN GIỚI THIỆU
1. Lý do chọn đề tài
2.2. Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng nợ xấu của hệ thống các ngân hàng Việt Nam giai
đoạn 2010- 2012.
Mục tiêu 2: Đánh giá thực trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng Viêt Nam giai đoạn
2010- 2012. Từ đó rút ra được những tồn tại và nguyên nhân tồn tại của thực trạng nợ xấu.
Mục tiêu 3: Dựa vào những tồn tại gặp phải, đề ra định hướng khắc phục và các giải
pháp nhằm làm giảm tỷ lệ nợ xấu ở các ngân hàng thưong mại trong thời gian tới.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp thu thập số liệu
Các số liệu là số liệu thứ cấp được thu thập từ các website của Ngân hàng, qua các
bài báo, tạp chí có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
3.2. Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp suy luận, phương pháp so sánh
số tương đối và so sánh số tuyệt đối để phân tích số liệu cần nghiên cứu.
Phân tích số liệu dựa trên lý thuyết, sử dụng phương pháp mô tả để giải thích, nhận
xét và đánh giá các vấn đề liên quan đến tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ.
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Phạm vi không gian
Đề tài được thực hiện ở Việt Nam.
4.2. Phạm vi thời gian
Số liệu được thu thập từ 2010-2012.
Thời gian thực hiện đề tài 17/05/2013 đến 6/2013.
SVTH: Bùi Hải Đăng Trang 2
Chuyên đề ngân hàng GVHD: Nguyễn Thị Lương
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NỢ XẤU
CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2010-2012
Nợ xấu ở các ngân hàng là khoảng nợ mà ngân hàng cho khách hàng vay, nhưng
tổng nợ xấu của 8 NHTM niêm yết là 15.018 tỷ đồng, trong đó nợ có khả năng mất vốn (nợ
nhóm 5) chiếm 55,22% tương ứng với số tiền cụ thể là 8.293 tỷ đồng. Tình hình gia tăng tỷ
lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của 8 ngân hàng niêm yết được thể hiện qua biểu đồ sau:
Hình 1: Biểu đồ tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của các NHTM tại 30/09/2011
(Nguồn: Theo CafeF/TTVN/BCTC các NHTM)
CTG: Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
VCB: Ngân Hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam
SVTH: Bùi Hải Đăng Trang 4
Chuyên đề ngân hàng GVHD: Nguyễn Thị Lương
STB: Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín
EIB: Ngân Hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam
ACB: Ngân Hàng TMCP Á Châu
SHB: Ngân Hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội
HBB: Ngân Hàng TMCP Nhà Hà Nội
NVB: Ngân Hàng TMCP Nam Việt
Biểu đồ trên cho thấy tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng nêu trên đều tăng trong giai
đoạn 2010-2011. Trong năm 2011, phần lớn các ngân hàng trên có tỷ lệ nợ nhóm 5 (nợ có
khả năng mất vốn) chiếm tỷ trọng cao nhất trong 3 nhóm nợ thuộc nợ xấu. Cũng trong năm
2011, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của Ngân Hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (VCB)
là cao nhất (3,4%), cao hơn cả tỷ lệ nợ xấu bình quân của cả hệ thống ngân hàng (3,3%) ở
cùng thời điểm. Bên cạnh đó, Ngân Hàng TMCP Nhà Hà Nội, Ngân Hàng TMCP Nam Việt
cũng có tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ khá cao (2,8%). Bên cạnh những ngân hàng đang lo
ngại về tỷ lệ nợ xấu khá cao, thì cũng có những ngân hàng với tỷ lệ nợ xấu thấp như Ngân
Hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (0,6%). Dù tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng năm 2011
không đồng đều nhau, nhưng nhìn chung các tỷ lệ nợ xấu đều tăng so với năm 2010.
1.2. Tình hình nợ xấu của hệ thống NHTM trong giai đoạn 2011-2012
Ngân hàng Nhà nước cho biết, đến thời điểm cuối tháng 10, nợ xấu của toàn hệ thống
chiếm khoảng 8,8 - 10% trên tổng dư nợ và tốc độ tăng nợ xấu đã chậm lại kể từ sau tháng
6. Còn theo báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại, tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng
đều tăng trong 9 tháng qua. Nợ xấu đặc biệt tăng mạnh tại các ngân hàng như Vietcombank
Vietinbank 1,82 lần Ngân hàng Vietcombank tăng nợ nhóm 5 thêm 41%; của MB tăng
33,5%; của Navibank tăng 79%.
Qua đó cho thấy tốc độ nợ xấu vẫn tăng chóng mặt so với các năm trước, khi năm
2008 tỷ lệ nợ xấu chỉ là 2,17%; năm 2009 là 2,2%; 2010 là 2,14% và 2011 là 3,3% trên tổng
dư nợ thì đến năm 2012 tỷ lệ này đã tăng gần gấp đôi và hiện đạt mức 6% (theo công bố của
Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Bình tại thời điểm đầu năm 2013).
SVTH: Bùi Hải Đăng Trang 7
Chuyên đề ngân hàng GVHD: Nguyễn Thị Lương
Hình 4: Biểu đồ thể hiện sự tăng trưởng của tỷ lệ nợ xấu tính đến cuối năm 2012
(Nguồn: Theo TTVN/BCTC các NHTM)
Trong đó, tồn tại những ngân hàng có nợ xấu rất cao, điển hình như Agribank với nợ
xấu chiếm 5,8% trên tổng dư nợ và con số tuyệt đối là 27.803 tỷ đồng. Nợ xấu của Agribank
cũng tương đương với tổng nợ xấu của Vietcombank, BIDV, Vietinbank, SHB và ACB
cộng lại. Ngân hàng SHB năm 2012 có tỷ lệ nợ xấu cũng rất cao, tới 8,53% tương đương
4.844 tỷ đồng do ngân hàng này phải gánh thêm nợ xấu sau khi hợp nhất với Habubank.
1.3. Tỷ lệ nợ xấu theo lĩnh vực cho vay và đối tượng vay
Nợ xấu là một trong những con số nhạy cảm, những thông tin chi tiết về nợ xấu của
toàn hệ thống ngân hàng mà được công bố thì rất hiếm hoi. So với năm 2010 thì chỉ có năm
2011 những thông tin về nợ xấu mới được thống đốc ngân hàng nhà nước công bố một cách
chi tiết hơn. Do đó khi phân tích tỷ lệ nợ xấu theo lĩnh vực cho vay thì đề tài này chỉ tập
trung vào năm 2011.
1.3.1. Tỷ lệ nợ xấu đối với tín dụng bất động sản và cho vay phi sản xuất
Như đã biết thì hầu hết các ngân hàng thường cho vay ở nhiều lĩnh vực khác nhau
như cho vay sản xuất và cho vay phi sản xuất, xuất khẩu, phát triển nông thôn. Theo như các
chuyên gia kinh tế phân tích thì những khoản cho vay phi sản xuất thường không được ưu
tiên và khuyến khích so với các lĩnh vực khác bởi vì tỷ lệ rủi ro cao và dễ gây ra nợ xấu. Đó
SVTH: Bùi Hải Đăng Trang 8
Chuyên đề ngân hàng GVHD: Nguyễn Thị Lương
là lí do tại sao Ngân Hàng Nhà Nước quy định tỷ lệ tối đa các ngân hàng cho vay vào lĩnh
vực phi sản xuất không vượt quá 16% (theo Chỉ thị số 01/CT-NHNN, thống đốc Ngân hàng
mức 3% trên tổng dư nợ. Tuy nhiên trên thực tế thì lại khác, theo thống kê của Ngân hàng
Nhà Nước hiện nay dư nợ cho vay để đầu tư, kinh doanh cổ phiếu của các ngân hàng thương
mại Việt Nam chiếm 6,5% vốn tự có, và tổng dư nợ cho vay ở lĩnh vực này lên đến hơn
10.000 tỷ đồng, nếu tính cả chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Tính đến ngày 31/5/2012, dư
nợ cho vay đầu tư kinh doanh chứng khoán khoảng 12.000 tỷ đồng tương đương 6,5% dư nợ
cho vay đầu tư kinh doanh BĐS và con số nợ xấu cho vay BĐS chiếm 10,3% tổng nợ xấu
của hệ thống và nợ xấu khoảng 485 tỷ đồng (tapchitaichinh - báo cáo của các TCTD).
Cùng với kết quả nghiên cứu của nhóm chuyên gia thuộc Trung tâm nghiên cứu
Kinh tế và Chính sách (VEPR) thì tỷ trọng dư nợ chứng khoán và bất động sản chiếm 10
đến 12% tổng dư nợ hệ thống ngân hàng. Kết hợp với tỷ lệ dư nợ bất động sản của toàn hệ
thống ngân hàng là 8,45% tổng dư nợ (nguồn báo cáo của NHNN) thì tỷ lệ dư nợ của những
khoản vay đầu tư vào chứng khoán tính toán được là 1,55 - 3,55%.
Nhìn chung thì cho vay bất động sản và cho vay đầu tư chứng khoán là những vực
không đước khuyến khích, nhưng trên thực tế thì dư nợ trong hai lĩnh vực này lại khá cao,
do đó nguy cơ nợ xấu cũng có xu hướng tăng.
1.3.3. Tỷ lệ nợ xấu đối với các doanh nghiệp nhà nước
Trong những đối tượng vay tín dụng ở ngân hàng, thì các doanh nghiệp quốc doanh
là một trong những khách hàng lớn của các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng quốc
doanh hoặc các ngân hàng mà cổ phần nhà nước chiếm đại đa số như Vietinbank,
Vietcombank, Agribank, Ngân Hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam Vì vậy tỷ lệ nợ xấu
ở những ngân hàng này cao hơn mức bình quân của toàn ngành là 3,3% (tính đến cuối năm
2011). Cụ thể, nợ xấu của các NHTM Nhà nước là 3,76% và của NHTM cổ phần ngoài
quốc doanh lên tới 4,73%. Đơn cử trong nhóm NHTM Nhà nước, Agribank có tỷ lệ nợ xấu
cao nhất lên tới 6,14%, xấp xỉ gấp đôi mức bình quân của ngành, tiếp theo là Vietcombank
3,55% (báo Dân Trí - báo cáo của các TCTD).
Theo thống kê năm 2010, nợ xấu từ phía các doanh nghiệp quốc doanh chiếm 60%
tổng số nợ xấu. Thêm vào đó đến thời điểm tháng 9/2012, theo báo cáo trình Ủy ban thường
vụ Quốc hội thì DNNN sử dụng vốn tín dụng chiếm tới khoảng 70% tổng số nợ xấu, trong
đó các tập đoàn kinh tế, tổng công ty chiếm 53% số nợ xấu.
SVTH: Bùi Hải Đăng Trang 10
vốn, nhiều ngân hàng phải tìm cách để tăng trưởng tín dụng. Khi ấy ngân hàng phải tăng lãi
SVTH: Bùi Hải Đăng Trang 11
Chuyên đề ngân hàng GVHD: Nguyễn Thị Lương
suất huy động lên, điều này kéo theo lãi suất cho vay cũng tăng lên. Lúc này doanh nghiệp
càng gặp nhiều khó khăn hơn vì phải gánh thêm một mức chi phí vốn đang tăng cao, hoạt
động sản xuất trở nên bế tắc, dẫn đến nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản, suy
giảm sản xuất hoặc tạm đóng cửa, và những khoản vay ngân hàng của những doanh nghiệp
đó đã góp phần làm cho tỷ lệ nợ xấu của toàn ngành tăng lên. Bên cạnh đó với áp lực tăng
vốn và một số ngân hàng chưa đạt chuẩn về vốn ban đầu nên vẫn đang cố tìm cách để huy
động vốn và đạt tăng trưởng tín dụng nhanh, khi ấy các ngân hàng sẽ nới lỏng các tiêu
chuẩn cho vay để đảm bảo hiệu quả trên đồng vốn. Cả những khách hàng không đủ các điều
kiện đảm bảo cần thiết cũng được chấp nhận cho vay. Chính điều này là nguyên nhân xuất
hiện con số nợ xấu sau này.
1.4.2. Các nhân tố khách quan
Do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế, nền kinh tế vĩ mô trong nước chưa ổn định, tỷ lệ
lạm phát tăng cao, tỷ giá thay đổi làm giá cả nguyên nhiên vật liêu tăng cao, đã làm cho chi
phí đầu vào của doanh nghiệp tăng cao, đầu ra găp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó chính phủ
lại thắt chặt chính sách tiền tệ làm cho lãi suất ngân hàng tăng lên, trong khi doanh nghiệp
lại gặp khó khăn trong sản xuất, thị trường hàng hóa thu hẹp, sản xuất bị đình trệ khiến cho
tình hình tài chính của doanh nghiệp càng xấu hơn, nên nợ xấu của hệ thống ngân hàng tăng
lên là điều tất yếu.
Từ thực trạng của Vinashin cho thấy các cơ quan có thẩm quyền nước ta vẫn có xu
hướng khuyến khích các ngân hàng cấp tín dụng vượt quá mức an toàn thương mại cho
phép để đạt được mục tiêu tăng trưởng đề ra. Bên cạnh đó, chính phủ luôn cứu vớt các
doanh nghiêp quốc doanh gặp vấn đề như là tái cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước thua lỗ,
nhận các khoản nợ xấu và cố gắng trì hoãn việc đóng cửa các tổ chức tài chính mất khả
năng thanh khoản. Điển hình là thực trạng nợ xấu không thể thu hồi của Vinashin tính đến
thời điểm hiện tại là trên 10.000 tỷ đồng. Thông lệ cứu vớt này đã làm giảm nhu cầu cải
thiện tính hiệu quả ở các ngân hàng, khiến chúng vẫn tiếp tục theo đuổi những dự án đầy rủi
ro. Điều này giải thích tại sao trong 8 ngân hàng niêm yết 9/2011, thì Vietcombank (95% cổ
cấp bù đắp, chủ yếu do các ngân hàng trích lập dự phòng rủi ro, phải giảm thu nhập, giảm
lương, và lại phải bắt đầu đối mặt với tình trạng cán bộ nghĩ việc, thiếu nhân viên có đủ
năng lực làm việc, mà nguồn nhân lực chất lượng cao thì rất quan trọng đối với hệ thống
ngân hàng, dẫn đến kết quả hoạt động kinh doanh càng đi xuống.
1.5.2. Những ảnh hưởng của việc gia tăng nợ xấu đến nền kinh tế
SVTH: Bùi Hải Đăng Trang 13
Chuyên đề ngân hàng GVHD: Nguyễn Thị Lương
Việc tăng cao của tỷ lệ nợ xấu có tác động gián tiếp đến nền kinh tế thông qua mối
quan hệ hữu cơ ngân hàng – khách hàng – nền kinh tế. Trước tiên nợ xấu sẽ ảnh hưởng đến
hoạt động kinh doanh của ngân hàng, sau đó ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế.
Bởi vì khi nợ xấu phát sinh và tăng cao sẽ làm hạn chế khả năng khai thác và đáp ứng vốn,
dịch vụ của ngân hàng cho nền kinh tế. Mặt khác nếu nợ xấu phát sinh do khách hàng hoặc
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kém hiệu quả sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế vì
nguồn vốn bị ứ động và việc sản xuất bị đình trệ làm cho nền kinh tế bị trì trệ, thậm chí là
tuột dốc theo tác động dây chuyền.
Bên cạnh đó nợ xấu cao sẽ dẫn đến rủi ro vỡ thanh khoản cao, vỡ cơ cấu kỳ hạn của
ngân hàng trong trường hợp không thu hồi được nợ. Do những mối liên hệ trên thị trường
tài chính nói chung và thị trường liên ngân hàng nói riêng, nên bất kỳ một ngân hàng nào
gặp phải những rủi ro trên thì đều có khả năng sẽ ảnh hưởng đến cả hệ thống. Tỷ lệ nợ xấu
trên tổng dư nợ tăng cao không những ảnh hưởng tiêu cực đến bản thân các ngân hàng mà
còn ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, do đó giải pháp làm giảm tỷ lệ nợ xấu là hết sức cần
thiết.
SVTH: Bùi Hải Đăng Trang 14
Chuyên đề ngân hàng GVHD: Nguyễn Thị Lương
CHƯƠNG 2
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH HÌNH NỢ XẤU
ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
2.1. Giải pháp đối với bản thân các ngân hàng
2.1.1. Nâng cao chất lượng tín dụng
Theo nhiều chuyên gia ngân hàng, trước bối cảnh nền kinh tế vĩ mô còn khó khăn,
ngày 18/5/2013) nhằm xử lý nợ xấu, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lý cho nền kinh tế.
Đồng thời NHNN cũng đã tiến hành phân loại lại các khoản nợ xấu (Thông tư 02/2013/TT-
NHNN).
SVTH: Bùi Hải Đăng Trang 16
Chuyên đề ngân hàng GVHD: Nguyễn Thị Lương
PHẦN KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Nhìn chung tình hình nợ xấu trên tổng dư nợ ở toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam
tăng dần trong giai đoạn 2010-2012. Trong đó tỷ lệ nợ xấu tăng cao nhất là vào năm 2011
và năm 2012. Nguyên nhân của thực trạng trên xuất phát từ phía các ngân hàng, lẫn các
nhân tố khách quan bên ngoài, chủ yếu là từ phía chính phủ. Về phía các ngân hàng, năng
lực quản lý chất lượng tín dụng chưa được tốt, chưa xác định đúng đối tượng và lĩnh vực để
phát triển tín dụng. Một số ngân hàng chưa đảm bảo được điều kiện vốn nên sa vào tình
trạng tăng trưởng tín dụng nóng, dẫn theo hàng loạt hậu quả, và cuối cùng làm cho tỷ lệ nợ
xấu trên tổng dư nợ tăng lên. Ngoài ra, con số nợ xấu tăng cao là do những yếu tố khách
quan bên ngoài như tình hình kinh tế vĩ mô chưa ổn định, tỷ lệ lạm phát cao và các chính
sách của chính phủ. Từ thực trạng và nguyên nhân tăng của tỷ lệ nợ xấu được nêu trên thì
những giải pháp khắc phục cũng đã được đề ra
2. Kiến nghị
Trong những nguyên nhân đã được phân tích ở trên có cả chính sách ưu ái của chính
phủ đối với các doanh nghiệp nhà nước. Rõ ràng đây là một nhân tố quan trọng làm cho tỷ
lệ nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng tăng cao, và số nợ xấu thuộc về các doanh nghiệp
quốc doanh lại chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số nợ xấu trên toàn hệ thống ngân hàng,
nhưng vẫn chưa có biện pháp nào để khắc phục tình trạng này. Liệu có phải là giải pháp tốt
nhất khi chính phủ cứ giang tay cứu vớt, cơ cấu lại tổ chức các doanh nghiệp quốc doanh
mỗi khi vỡ nợ? Không thể loại bỏ được khả năng các doanh nghiệp ỷ lại phía sau họ có
chính phủ chống lưng, bởi họ có làm kiểu gì chăng nữa, chính phủ cũng sẽ cứu họ. Thử hỏi
các doanh nghiệp nhà nước cứ mãi trong vòng tay mẹ thì biết đến bao giờ mới trưởng
thành? Trước thực trạng đó việc chính phủ cần xem lại cách thức quản lý đối với các doanh
nghiệp quốc doanh là hết sức cần thiết vì không chỉ để giải quyết tình trang nợ xấu tăng cao,