Bài tập nhóm Môn: Kinh tế phát triển
MỤC LỤC
SVTH: Nhóm 5
Bài tập nhóm Môn: Kinh tế phát triển
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Cơ cấu GDP theo ngành của Việt Nam giai đoạn 1990-2010 Error:
Reference source not found
Bảng 2. Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế phân theo Error:
Reference source not found
ngành công nghiệp ( Đơn vị : %) Error: Reference source not found
Bảng 3. Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế phân theo địa phương.Error:
Reference source not found
Bảng 4. Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế phân theo thành phần
kinh tế Error: Reference source not found
SVTH: Nhóm 5
Bài tập nhóm Môn: Kinh tế phát triển
PHẦN I. LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 20 năm đổi mới và phát triển, nền kinh tế xã hội Việt Nam đã có
một diện mạo mới. Đặc biệt trong vòng 10 năm 2001-2010, Kinh tế tăng trưởng
vượt bậc, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, các vấn đề xã hội được
quan tâm cải thiện, đời sống nhân dân ngày càng cao. Ngành công nghiệp Việt
Nam, vốn được xác định là đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế , cũng có bước
phát triển mạnh mẽ. Vai trò của một ngành chủ đạo vì thế cũng được thể hiện rõ nét
thông qua việc tạo thu nhập cho đất nước, cung cấp hàng hóa trung gian cho quá
trình sản xuất cũng như cung cấp hàng hóa cuối cùng cho nền kinh tế, tạo nguồn thu
từ xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư. Vì lẽ đó, có thể nói: sự phát triển ngành công
nghiệp có ảnh hưởng lớn đến phát triển các ngành kinh tế khác nói riêng và toàn bộ
nền kinh tế nói chung. Nhìn lại 10 năm phát triển của ngành Công Nghiệp để thấy
được ngành công nghiệp Việt Nam đang ở đâu, đang phát triển như thế nào để có
thể đưa ra được những chính sách phát triển đúng đắn, hướng tới mục tiêu được Đại
hội XI của Đảng thông qua trong chiến lược Phát triển kinh tế xã hội thời kì 2011-
-Theo phân cấp quản lý
+Công nghiệp địa phương
+Công nghiệp trung ương
-Theo tính chất sản phẩm , ngành công nhiệp đươc phân thành 3 nhóm chính :
+ Công nghiệp khai thác gồm : công nghiệp khai thác các nguồn năng
lượng : dầu mỏ, khí đốt than đá, công nghiệp khai thác quặng kim loại : sắt, thiếc,
bô-xít ; khai thác quặng Uranium, thori; khai thác vật liệu xây dựng : đá, cát, sỏi
+Công nghiệp chế biến
Xét theo yêu cầu đầu vào gồm có : chế biến sản phẩm công nghiệp khai thác,
chế biến bán thành phẩm của công nghiệp chế biến và chế biến nông sản.
Xét theo công dụng của sản phẩm đầu ra công nghiệp chế biến cũng bao gồm
3 nhóm ngành :
Thứ nhất : công nghệ chế tạo công cụ sản xuất : cơ khí , chế tạo máy , kỹ thuật
điện , điện tử
Thứ hai : công nghiệp sản xuất đối tượng lao động : hóa chất , hóa dầu, luyện
kim , vật liệu xây dựng
SVTH: Nhóm 5
2
Bài tập nhóm Môn: Kinh tế phát triển
Thứ ba : công nghiệp sản xuất vật liệu tiêu dùng như sản phẩm dệt may , chế
biến thực phẩm, đồ uống, chế biến gỗ, chế biến thủy tinh, sành sứ.
+Công nghiệp điện-khí-nước bao gồm : sản xuất và phân phối các
nguồn điện như thủy điện, nhiệt điện, điện hạt nhân, các nguồn điện mới và tái tạo
khác ; sản xuất ga, phân phối nhiên liệu khí bằng đường ống và khai thác , lọc và
phân phối nước .
1.1.3. Đặc trưng công nghiệp
-Quá trình sản xuất công nghiệp thường được chia thành hai giai đoạn: giai
đoạn tác động vào đối tượng lao động là môi trường tự nhiên để tạo ra nguyên liệu
(khai thác than, dầu mỏ, quặng kim loại, khai thác gỗ…) và giai đoạn chế biến các
nguyên liệu đó thành tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu dùng (sản xuất máy móc, chế
nghiệp và chuyển dịch sang các ngành chế tác có tiềm năng, có hàm lượng công
nghệ cao, để tạo bươc nhảy vọt về phát triển, nâng cao năng suất lao động. Chuyển
dịch và phát triển công nghiệp ở nông thôn gắn với phát triển công nghiệp với quá
trình đô thị hóa và phát triển bền vững.
Tập trung thu hút đầu tư từ các tập đoàn quốc gia sẵn sàng liên kết kinh tế dưới
nhiều hình thức để Việt Nam trở thành một bộ phận khăng khít của hệ thống công
nghiệp khu vực và thế giới:
-Phát triển công nghiệp với tốc độ nhanh theo phương châm “đi tắt đón đầu”
chuyển từ thế hệ công nghiệp sử dụng nhiều lao động sang thế hệ công nghiệp sử
dụng công nghệ cao, tận dụng hiệu quả công nghiệp hiện có để tích lũy, tạo đà cho
các bước nhảy vọt sang thế hệ công nghệ mới.
-Phát triển công nghiệp lấy xuất khẩu làm mục tiêu và thước đo khả năng chủ
động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
-Đầu tư nước ngoài là động lực cho tiến trình mở rộng và chuyển dịch cơ cấu
công nghiệp theo hướng hiệu quả và hiện đại.
1.1.5. Vai trò của phát triển công nghiệp đối với đất nước
Trong quá trình phát triển kinh tế công nghiệp được coi là ngành chủ đạo của
nền kinh tế thông qua việc tạo ra thu nhập cho đất nước cung cấp hàng hóa trung
gian cho các quá trình sản xuất cũng như cung cấp hàng hóa cuối cùng cho nền kinh
tế tạo ra nguồn thu từ xuất nhập khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Công
nghiệp được đánh giá là ngành chủ đạo của nền kinh tế, vai trò này được thể hiện :
-Công nghiệp là ngành cung cấp tư liệu sản xuất cho toàn bộ nền kinh tế
+Công nghiệp khai thác trong giai đoạn đầu cung cấp sản phẩm thô cho xuất
khẩu tạo nguồn vốn tích lũy ban đầu cho phát triển kinh tế , trong giai đoạn tiếp
theo cung cấp nguyên liệu đầu vào cho công nghiệp chế biến
+Công nghiệp chế tạo có vai trò đặc biệt quan trọng : cung cấp tư liệu sản xuất
cho toàn bộ nền kinh tế trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho tất cả các ngành tạo điều
kiện không ngừng nâng cao năng lực lao động xã hội.
SVTH: Nhóm 5
4
lại vui chơi giải trí đều được đáp ứng từ sản phẩm công nghiệp. Kinh tế càng phát
triển thu nhập của người dân tăng thì nhu cầu về sản phẩm công nghiệp càng gia
tăng và ngày càng mở rộng. Chính sự phát triển của nhu cầu đã góp thúc đẩy công
nghiệp phát triển. Song ngược lại sự phát triển của công nghiệp không đáp ứng của
con người mà nó lại hướng dẫn tiêu dùng của con người, hướng đên nhu cầu mới
SVTH: Nhóm 5
5
Bài tập nhóm Môn: Kinh tế phát triển
cao hơn. Như vậy công nghiệp càng phát triển thì các sản phẩm hàng hóa càng đa
dạng phong phú về chủng loại mẫu mã càng nâng cao về chất lượng.
-Công nghiệp thu hút lao động nông nghiệp góp phần giải quyết việc làm
cho xã hội
Công nghiệp tác động vào ngành nông nghiệp làm nâng cao năng suất lao
động nông nghiệp tạo khả năng giải phóng sức lao động trong nông nghiệp . Đồng
thời sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp đã làm cho sản xuất công nghiệp ngày
càng mở rộng tạo ra các ngành sản xuất mới các khu công nghiệp đến lượt minh
công nghiệp đã thu hút lao động nông nghiệp và giải quyết việc làm cho xã hội.
Mô hình hai khu vực của Lewis cho thấy quá trình mở rộng khu công nghiệp đã
thu hút lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp.Việc thu hút số lượng lao đông
ngày càng tăng từ nông nghiệp vào công nghiệp không chỉ góp phần giải quyết
việc làm mà còn tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn và tăng thu nhập cho
người lao động.
-Công nghiệp tạo ra mẫu hình ngày càng hoàn thiện về tổ chức sản xuất
Do đặc điểm sản xuất công nghiệp luôn có một đội ngũ lao động có tính tổ
chức kỷ luật cao có tác phong lao động công nghiệp luôn là bộ phận tiên tiến trong
cộng đồng dân cư. Cũng do đặc điểm về sản xuất lao động trong công nghiệp ngày
càng có trình độ chuyên môn hóa cao tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn
của người lao động và chất lượng của sản phẩm. Trong hoạt động sản xuất công
nghiệp còn có các điều kiện tăng nhanh trình độ công nghệ của sản xuất áp dụng
những thành tựu khoa học ngày càng cao của sản xuất.
ngành công nghiệp.
1.2.3. Vốn đầu tư
Vốn trong phát triển công nghiệp là một yếu tố quan trọng và cần thiết không
thể bỏ qua.Để đẩy mạnh phát triển công nghiệp cần thu hút các nguồn vốn đầu tư
một cách hợp lý và đúng đắn. Vốn đầu tư gồm có vốn trong nước và vốn nước
ngoài. Cần phân bổ một cách tốt nhất các nguồn vốn trong nước bao gồm từ ngân
sách nhà nước, đầu tư các doanh nghiệp, tiết kiệm dân cư vào các ngành công
nghiệp cụ thể.Ngoài ra còn có các chính sách thu hút vốn nước ngoài từ các hình
thưc viện trợ ODA, NGO và FDI để phát triển tối đa ngành công nghiệp.
1.2.4. Chuyển giao, tiếp nhận và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ
Việc phát hiện các nguồn năng lượng mới nguyên liệu mới có tác dụng làm
thay đổi sự phân bố của nhiều ngành công nghiệp
Tiến bộ khoa học kỹ thuật tạo ra những khả năng mới về sản xuất đẩy
nhanh tốc độ phát triển của một số ngành làm tăng tỉ trọng của chúng trong tổng
thể toàn ngành công nghiệp làm cho việc khai thác tài nguyên và phân bố các
ngành công nghiệp trở nên hợp lý có hiệu quả cao kéo theo những thay đổi quy
luật phân bố sản xuất làm nảy sinh các nhu cầu mới đòi hỏi xuất hiện một số
ngành công nghiệp tiến tiến.
SVTH: Nhóm 5
7
Bài tập nhóm Môn: Kinh tế phát triển
1.2.5. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Cơ sở hà tầng là tiền đề thuận lợi hoặc cản trở sự phát triển công nghiệp. Số
lượng và chất lượng của cơ sở hạ tầng góp phần đảm bảo các mối quan hệ sản xuất,
kinh tế, kĩ thuật
1.2.6. Môi trường chính trị - xã hội, pháp lý, cơ chế chính sách kinh tế và
sự vận dụng sáng tạo của nhà nước
Môi trường chính trị - xã hội ảnh hưởng to lớn và lâu dài tới sự phát triển và
phân bố công nghiệp tới định hướng đầu tư và xây dựng cơ cấu ngành công nghiệp.
Sự phân bố các xí nghiệp công nghiệp bảo đảm 2 mục đích:
những năm 1991-2000. Năm 2001 là năm đầu thực hiện Chiến lược kinh tế- xã hội
mười năm 2001-2010, cơ cấu ba khu vực kinh tế chiếm tỷ trọng trong GDP lần lượt
là 23,3%, 38.1% và 38,6%, nhưng sau 10 năm triển khai Chiến lược, đến năm 2010,
khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn còn chiếm tỷ trọng 20,6% GDP ( Chỉ
giảm 2,7 %) so với tỷ trọng 23,3% năm 2001); khu vực dịch vụ gần như giữ nguyên
với mức 38.3% so với tỷ trọng 38.6% năm 2001. Chính vì vậy, mục tiêu đề ra trong
chiến lược “đưa tỷ trọng trong GDP của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
xuống còn 16-17%; nâng tỷ trọng khu vực dịch vụ lên 42-43% vào năm 2010” đã
không thực hiện được”
SVTH: Nhóm 5
9
Bài tập nhóm Môn: Kinh tế phát triển
Bảng 1. Cơ cấu GDP theo ngành của Việt Nam giai đoạn 1990-2010
Năm Tổng số
Nông, lâm,
thủy sản
Công nghiệp,
xây dựng
Dịch vụ
1990 100 38.7 22.7 38.6
1995 100 27.2 28.8 44.0
2000 100 24.5 36.7 38.8
2001 100 23.3 38.1 38.6
2005 100 21.0 41.0 38.0
2010 100 20.6 41.1 38.3
Thứ hai, về giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế phân theo ngành công
nghiệp
SVTH: Nhóm 5
10
công nghiệp theo ngành công nghiệp và tỉ lệ này có xu hướng tăng khá đều trong 10
năm: năm 2001: 78,5%, năm 2005: 82.8%, năm 2010: 86,5%. Ngành có tỉ lệ đóng
góp nhỏ nhất là công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước. Cả ngành
này và ngành khai khoáng có xu hướng giảm giá trị đóng góp.
- Diễn biến cụ thể trong từng ngành như sau:
Công nghiệp khai khoáng bao gồm 4 ngành: khai thác than; khai thác dầu thô
và khí tự nhiên; khai thác quặng kim loại; khai thác đá và khai thác mỏ khác. Khai
thác dầu thô, chiếm tỷ trọng lớn, nhưng trong 10 năm vừa qua lượng khai thác chỉ
tăng trong những năm đầu, sau đó giảm dần do điều kiện khai thác ngày càng khó
khăn, do chủ trương của Nhà nước hạn chế dần khai thác tài nguyên thiên nhiên cho
mục tiêu phát triển bền vững. Sản lượng dầu thô khai thác năm 2001 và năm 2002
mỗi năm 16,8 triệu tấn, tăng lên 17,7 triệu tấn năm 2003; 20,0 triệu tấn năm 2004;
sau đó giảm xuống 18,5 triệu tấn năm 2005; 16,8 triệu tấn năm 2006; 15,9 triệu tấn
năm 2007; 14,9 triệu tấn năm 2008; 16,3 triệu tấn năm 2009 và chỉ còn 14,9 triệu
tấn năm 2010. Tuy nhiên, do khai thác than, khai thác khí tự nhiên và khai thác các
loại khoáng sản khác tương đối ổn định nên tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp
khai khoáng chiếm trong giá trị tổng sản lượng toàn ngành công nghiệp theo giá
thực tế giảm không nhiều, từ tỷ trọng 13,2% năm 2001 xuống 11,2% năm 2005 và
9,2% năm 2010. Giá trị sản xuất theo giá so sánh năm 1994 của công nghiệp khai
khoáng năm 2010 vẫn tăng 42,3% so với năm 2000, bình quân mỗi năm trong mười
năm 2001-2010 tăng 3,6%.
Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước, bao gồm 2 ngành
cấp II là sản xuất và phân phối điện, ga; sản xuất và phân phối nước với sản phẩm
chủ yếu là điện và nước máy. Đây là những sản phẩm có nhu cầu lớn và ưu tiên đầu
tư nên trong những năm vừa qua duy trì được tốc độ phát triển tương đối ổn định.
Sản lượng điện phát ra đã tăng từ 26,7 tỷ kwh năm 2000 lên 52,1 tỷ kwh năm 2005
và 91,6 tỷ kwh năm 2010. Sản lượng nước máy cũng tăng từ 780,2 triệu m3 năm
2000 lên 1180,4 triệu m3 năm 2005 và 1812,4 triệu m3 năm 2010. Tính chung, giá
trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh năm 1994 của ngành công nghiệp sản xuất
và phân phối điện, khí đốt và nước năm 2010 gấp trên 3,4 lần năm 2000, bình quân
8
24.7
3
24.1
2
23.9
6
Trung du
và miền
núi phía
Bắc 2.79 2.85 2.77 2.52 2.6 2.49 2.51 2.66 2.89 2.71 2.89
Bắc trung
bộ và
duyên hải
miền
trung 7.26 7.32 7.12 7 6.85 7 6.65 6.49 6.6 7.19 9.35
Tây
Nguyên 0.93 0.71 0.72 0.75 0.64 0.73 0.75 0.75 0.78 0.78 0.77
Đông
Nam Bộ
54.7
8
54.6
1
55.6
5
55.9
1
56.6
4 55.7
52,40%). Đây là vùng có nhiều khu công nghiệp và cụm công nghiệp lớn. Theo kết
quả Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2007, tại thời điểm
1/7/2007, Đông Nam Bộ có 63 khu công nghiệp, chiếm 31,1% số khu công nghiệp
của cả nước; 4 khu chế xuất, chiếm 66,6%; 23 cụm công nghiệp/cụm công nghiệp
làng nghề, chiếm 6,9%. Vùng đồng bằng sông Hồng cũng là vùng chiếm tỷ trọng
công nghiệp tương đối lớn và có xu hướng nâng cao tỷ trọng, từ 19,12% năm 2000
tăng lên 21,78% năm 2005 và 23,96% năm 2010. Tại thời điểm 1/7/2007, vùng
đồng bằng sông Hồng có 45 khu công nghiệp; 2 khu chế xuất; 1 khu công nghệ cao;
đặc biệt là có tới 117 cụm công nghiệp/cụm công nghiệp làng nghề, chiếm 35,1%
tổng số cụm công nghiệp/cụm công nghiệp làng nghề của cả nước
SVTH: Nhóm 5
14
Bài tập nhóm Môn: Kinh tế phát triển
Thứ tư, về giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế phân theo thành phần
kinh tế.
Bảng 4. Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế phân theo thành
phần kinh tế
SVTH: Nhóm 5
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Tổng số 100 100 100 100 100 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0
Kinh tế
Nhà
nước
34.2 31.5 31.5 29.4 27.4 24.9 22.1 19.9 18.1 18.3 19.1
Trung
ương
23.4 21.8 22 20.9 20.5 19.2 17.3 15.9 15.0 15.3 16.8
Địa
phương
Trong mười năm 2001-2010, giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực kinh
tế Nhà nước tăng bình quân mỗi năm 7,8%, thấp hơn tốc độ tăng bình quân năm của
toàn ngành công nghiệp và của các khu vực kinh tế khác, có nguyên nhân quan
trọng là do quá trình sắp xếp và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước trong những
năm vừa qua đã làm giảm đáng kể số lượng doanh nghiệp của khu vực này. Do vậy,
tỷ trọng của khu vực kinh tế Nhà nước trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp theo
giá thực tế đã giảm từ 34,2% năm 2000 xuống 31,4% năm 2001 và 2002; 29,3%
năm 2003; 27,4% năm 2004; 25,1% năm 2005; 22,4% năm 2006; 20,0% năm 2007;
18,5% năm 2008 và 18,6% năm 2009.
Mặc dù giảm tỷ trọng giá trị sản xuất nhưng kinh tế Nhà nước vẫn chiếm giữ
tỷ trọng cao trong sản xuất những sản phẩm thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống.
Năm 2010, khu vực kinh tế Nhà nước sản xuất ra 64,6% sản lượng điện; 89,5%
nước máy; 97,5% than sạch khai thác; 100% khí tự nhiên; 99,9% quặng apatít;
99,3% phân hóa học; 96,9% axít sunfuaric (H2SO4); 96,1% bơm thuốc trừ sâu;
21,5% máy công cụ; 63,9% động cơ điện; 40,5% máy kéo; 51,2% xi măng
SVTH: Nhóm 5
16
Bài tập nhóm Môn: Kinh tế phát triển
Khu vực kinh tế ngoài Nhà nước phát triển với tốc độ cao nhất trong 3 khu
vực nên tỷ trọng chiếm trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế đã
không ngừng tăng lên qua các năm, từ 24,5% năm 2000 tăng lên chiếm 27,0% năm
2001 và 2002; 27,6% năm 2003; 28,9% năm 2004; 31,1% năm 2005; 33,3% năm
2006; 35,4% năm 2007; 37,1% năm 2008; 38,4% năm 2009. Đến nay, kinh tế ngoài
Nhà nước không chỉ sản xuất ra phần lớn các sản phẩm vật liệu xây dựng như đá,
cát sỏi, vôi, đồ gỗ, thủy tinh và sứ dân dụng hoặc những sản phẩm chế biến lương
thực thực phẩm như gạo, ngô xay xát, muối và sản phẩm may mặc, mà còn chiếm tỷ
trọng cao trong các ngành sản xuất thép thỏi, thép cán, máy chế biến lương thực,
thực phẩm, máy tuốt lúa, máy biến thế. Năm 2010, khu vực công nghiệp ngoài Nhà
nước đã sản xuất 1058,8 nghìn tấn thép thỏi, chiếm 59,5% tổng sản lượng thép thỏi
của cả nước; 4170,0 nghìn tấn thép cán và sản phẩm kéo dây, chiếm 52,6%; 1402
các khu công nghiệp kết quả cũng hạn chế. Tại thời điểm 1/7/2007 cả nước có 550
khu công nghiệp với tổng diện tích đất quy hoạch 88,1 nghìn ha nhưng hệ số lấp
đầy mới đạt 32,5 %.
(2) Sản xuất công nghiệp nói chung và công nghiệp chế biến nói riêng chủ
yếu vẫn sử dụng công nghệ thấp. Tỷ trọng công nghệ cao mới chiếm 19,2%; công
nghệ trung bình 26,8%; công nghệ thấp chiếm tới 54,0%. Công nghiệp phụ trợ chưa
được quan tâm đầu tư thích đáng nên phát triển rất chậm. Một số sản phẩm cơ khí,
dệt may, giầy da, đồ điện dân dụng tỷ lệ nội địa hóa thấp, chủ yếu là tham gia khâu
chế tạo phần vỏ và khâu hoàn thiện cuối cùng nên vẫn mang nặng tính chất gia công
và lắp ráp linh kiện, vì vậy, giá trị gia tăng thấp. Đồng thời bị tác động mạnh từ giá
thế giới do phần lớn phải nhập khẩu nguyên, nhiên liệu và phụ kiện. Công nghiệp
chế biến nông sản, thực phẩm mới đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu chế biến
nông sản hàng hóa xuất khẩu và phục vụ tiêu dùng trong nước, chủ yếu là sơ chế.
(3) Trong những năm vừa qua ngoại trừ dầu thô, ngành công nghiệp đã tập
trung khai thác tài nguyên khoáng sản với mức độ cao. Ngoài số giấy phép do Bộ
Tài nguyên và Môi trường cấp thì các địa phương cũng đã cấp 4 nghìn giấy phép
khai thác khoáng sản trên địa bàn. Đó là chưa kể hàng nghìn hoạt động khai thác
khoáng sản tự phát, không có giấy phép. Việc cấp giấy phép dễ dãi và sơ hở, quản
lý khai thác bị buông lỏng và trình độ công nghệ khai thác, tuyển chọn, chế biến
thấp đã làm tài nguyên tổn thất lớn và suy giảm nhanh. Theo Báo cáo của Viện Tư
vấn phát triển (CODE), Bộ Tài nguyên và Môi trường do nhiều đơn vị được cấp
giấy phép không đủ năng lực về tài chính và công nghệ nên khi khai thác chủ yếu
mới lấy được phần quặng giàu nhất và dễ khai thác nhất, bỏ đi phần nghèo hơn và
các khoáng sản khác đi cùng, dẫn tới tổn thất than trong khai thác hầm lò lên tới 46-
60%; khai thác apatit tổn thất 26-43%; quặng kim loại 15-30%; vật liệu xây dựng
15-20%; khai thác vàng 60-70%. Tình trạng trên khiến nhiều nhà khoa học, nhà
quản lý trong nước và quốc tế cảnh báo nước ta về “bẫy tài nguyên” hay “lời
nguyền tài nguyên”, tức là cảnh báo hiện tượng có nguồn tài nguyên khoáng sản dồi
dào, nhưng chủ quan không tăng cường khâu quản trị khai thác không có quy hoạch
SVTH: Nhóm 5
- Đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng bài toán
về vốn luôn là một bài toán nhức nhối. Khả năng tích lũy trong nước hạn chế nên để
phát triển công nghiệp đòi hỏi chúng ta phải sử dụng vốn sao cho hợp lí và có hiệu
quả. Trong thời gian qua, mặc dù ta đã chú trọng đến vấn đề đầu tư vào ngành công
nghiệp trọng điểm, khu công nghiệp trọng điểm nhưng việc sự lung túng trong xác
SVTH: Nhóm 5
19
Bài tập nhóm Môn: Kinh tế phát triển
định đâu là ngành công nghiệp dẫn đến nguồn vốn đầu tư không hiệu quả, gây thất
thoát, lãng phí.
- Phát triển những ngành công nghiệp công nghệ hiện đại đòi hỏi chất lượng
lao động cao, kĩ năng quản lí tốt trong khi ở ta, lao động chất lượng kém thì nhiều
mà lao động được đào tạo bài thì hiếm hoi. Trong báo cáo thảo luận của Amcham
tại diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam tháng 6/2010, khoảng 65% lao động Việt Nam
không có kĩ năng và khoảng 78% dân số trong độ tuổi 20-24 không được đào tạo
hoặc thiếu các kĩ năng cần thiết. Kết quả điều tra của JICA Nhất Bản năm 2010 về
các doanh nghiệp chế tạo liên kết với Nhật Bản cho thấy tình trạng thiếu hụt lao
động có kĩ năng ở Việt Nam nghiêm trọng so với các nước ASEAN có cùng mức
độ phát triển và khó khăn này có xu hướng tăng trong thời gian tới ở Việt Nam.
Như vậy, để đảm bảo được yêu cầu phát triển công nghiệp thời gian tới, chúng ta
cần quan tâm hơn nữa tới vấn đề nhân lực.
- Cơ chế, chính sách, quản lí của nhà nước còn nhiều thiếu sót, bất cập. công
nghiệp phát triển ra sao và phát triển như thế nào phần lớn là do cơ quan nhà nước:
luật pháp, chính sách phát triển, quyết định đầu tư. Trong giai đoạn 2001-2010, về
phía nhà nước, sự quan liêu, thiếu trách nhiệm của một số các nhân gây tổn thất
nghiêm trọng cho phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng. Sự sụp đổ
của những ông lớn trong ngành, sự lung đoạn của các tập đoàn lớn là dấu chẩm hỏi
cho khả năng quản lí, điều hành của nhà nước trong phát triển công nghiệp nói riêng
và kinh tế nói chung.
SVTH: Nhóm 5
những mục tiêu như nêu trên hay không tuỳ thuộc vào ở chỗ Việt Nam có đưa ra
được hay không một chính sách công nghiệp đúng đắn,
- Để thực hiện mục tiêu chung đẩy mạnh phát triển công nghiệp, đưa Việt
Nam đến 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hoá và
SVTH: Nhóm 5
21
Bài tập nhóm Môn: Kinh tế phát triển
sự phát triển của nền kinh tế tri thức diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam cần phải lựa chọn
một chính sách công nghiệp theo hướng : phát huy nội lực, sức mạnh, tự do đầu tư
và sáng tạo của toàn dân, đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều
lao động có lợi thế cạnh tranh để cải biến nền nông nghiệp hiện nay; chủ động hội
nhập để tranh thủ công nghệ, vốn, kinh nghiệm quản lý và trí tuệ của thế giới để sản
xuất ra nhiếu loại sản phẩm có hàm lượng chất xám cao và lựa chon đầu tư phát
triển một số ngành mũi nhọn, tạo sự đột phá cho việc chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu
kinh tế theo tiêu chuẩn của một nước công nghiệp, đảm bảo tăng trưởng bền vững
và nâng cao đới sống nhân dân.
3.1.2 Nguyên tắc.
- Trên cơ sở tăng cường đưa khoa học, công nghệ vào mọi loại sản phẩm, đẩy
mạnh phát triển các ngành công nghiệp sử dụng niều lao động có lợi thế cạnh tranh,
đồng thời lựa chọn một số ngành mũi nhọn để đầu tư tạo sự đột phá mạnh mẽ cho
bước phát triển rút ngắn.
- Dựa vào thành tựu khoa học công nghệ hiện đại để cải biến nền nông nghiệp
hiện nay, chuyển mạnh nông thôn sản xuất tự cấp sang sản xuất hàng hoá, mở rộng
kinh tế thị trường trên phạm vi cả nước.
3.1.3. Định hướng phát triển các ngành công nghiệp chủ yếu
3.1.3.1 Định hướng chung
- Đối với công nghiệp chế biến: khuyến khích toàn xã hội đầu tư phát triển
mạnh công nghiệp chế biến, đặc biệt theo đinh hướng xuất khẩu. Một số vấn đề cần
chú ý khi thực hiện chủ trương này là:
+ Ưu tiên hơn nữa cho các ngành khai thác tiềm năng nguyên liệu sẵn có trong
có sức cạnh tranh lớn. Ngành đang tiếp tục kêu gọi nguồn lực từ khu vực tư nhân,
thu hút FDI phát triển nuôi trồng, chế biến thủy hải sản, phát triển kinh tế biển, chế
biến gỗ, ván nhân tạo trên cơ sở trông rừng nguyên liệu, giấy xi măng, chế biến
nước hoa quả xuất khẩu, nuôi trồng và chế biến dược liệu. Khuyến khích, ưu đãi
cho các nhà đầu tư bỏ vốn phát triển vùng nguyên liệu.
- Định hướng cho ngành sản xuất, lắp ráp điện tử là tiếp nhận chuyển giao
công nghệ, từng bước vươn lên sản xuất linh kiện, phụ tùng, tiến tới sản xuất hoàn
chỉnh một thiết bị vào năm 2020, đồng thời hình thành một số trung tâm nghiên cứu
thiết kế chuyên ngành để tạo ra công nghệ trong nước và sản phẩm đặc trưng của
Việt Nam. Hướng tập trung phát triển sản phẩm điện tử công nghiệp, điện tử chuyên
dùng trong các lĩnh vực kinh tế và đời sống. Khu vực FDI, liên doanh, tư nhân giữ
vai trò chính trong phát triển ngành. Phát triển công nghiệp điện tử trong các khu,
cụm công nghiệp.
- Nhóm các ngành công nghiệp cơ bản: Năng lượng; Luyện kim; Ngành hóa
chất; Ngành khai thác,chế biến khoáng sản; Ngành sản xuất vật liệu xây dựng;
Ngành cơ khí chế tạo, thiết bị điện. Đây là ngành sản xuất tư liệu sản xuất quang
trọng, định hướng của các ngành này là Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo.
SVTH: Nhóm 5
23