MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
PHẦN I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHU CÔNG NGHIỆP
I. Khái quát chung
1. Khái niệm
2.Phân loại
3.Tính tất yếu khách quan về thành lập KCN tại Việt Nam
II.Đánh giá tác động đến nền kinh tế nói chung
1. Những tác động tích cực
2. Một số tác động tiêu cực trong phát triển KCN
PHẦN II. THỰC TRẠNG phát triển KHU CÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
I. Sự hình thành và phát triển các KCN ở nước ta
1. Các KCN hình thành từ những năm 1960 và 1970 theo mô hình công nghiệp của Liên
Xô cũ
2. Các KCN theo mô hình mới
II.Thực trạng hoạt động các KCN nước ta hiện nay
1. Về giá thuê đất
2. Về tình hình thu hút đầu tư
3. Về tình hình sản xuất kinh doanh
III.NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ YẾU KÉM CÒN TỒN TẠI
1.Kết quả đạt được
2.Những tồn tại yếu kém
PHẦN III. NHỮNG ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
I. Giải pháp
1. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với phát triển KCN
1.1.Nâng cao chất lượng quy hoạch KCN
1
1.2. Đa dạng hoá mô hình các khu công nghiệp
1.3.Giải pháp về tăng cường hiệu quả công tác quản lý môi trường
cơ chế quản lý ” một cửa tại chỗ” và hội nhập quốc tế không chỉ nhằm thu hút đầu tư
nước ngoài , mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước hoạt động .
Bên cạnh những thành tịu đáng trân trọng ấy các KCN tại Việt Nam vẫn tồn đọng những
khó khăn, thách thức mà vấn đề nổi cộm hiện nay chính là việc vóng bóng của các nhà
đấu tư trong các KCN, hầu hết các khu công nghiệp vẫn chưa được lấp đầy. Theo bộ kế
hoạch và đầu tư tính đến đầu năm 2002 trên tổng số 68 KCN chỉ có 25% KCN được lấp
đầy. Nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên có nhiều , nhưng tập trung chủ yếu vào một số
nguyên nhân như: Giá thuê đất còn đắt, cơ sở hạ tầng còn kém, cơ chế chính sách còn
chưa thông thoáng, và một trong những lực cản lớn nhất hiện nay chính là vẫn chưa có
cách nhìn nhận tổng quát và đầy đủ về các KCN như là một bộ phận không thể tách rời
trong nền kinh tế đất nước .
Như vậy việc tìm hiểu một cách toàn diện về KCN, đồng thời đưa ra những giải pháp
để nâng cao việc phát triển KCN là những mục tiêu chính mà đề tài chúng tôi hướng tới .
3
PHẦN NỘI DUNG
PHẦN I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KHU CÔNG NGHIỆP
I. Khái quát chung
1. Khái niệm
Theo nghị định 36/ CP của chính phủ thì KCN được hiểu như sau : “ KCN là khu tập
trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho
sản xuất hàng công nghiệp có ranh giới địa lý xác định , không có dân cư sinh sống do
chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ thành lập trong KCN có thể có các doanh nghiệp chế
xuất “ .
2. Phân loại KCN
Theo Viện Kiến trúc Quy hoạch (Bộ Xây dựng), tính đến thời điểm tháng 2/2011, Việt
Nam hiện có 256 khu công nghiệp và 20 khu kinh tế đã được thành lập
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện nay cả nước có 253 khu công nghiệp được thành lập
với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 70.000 ha. Các khu công nghiệp cả nước đã thu hút
gần 4.000 dự án đầu tư nước ngoài và 4.700 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư
thụ đặc biệt, được hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp ở mức ưu đãi 10% và không phải
chịu thuế chuyển lợi nhuận về nước.
5
Nhóm 3: Các khu công nghệ cao (KCNC) (Việt Nam hiện có 2 khu công nghệ cao)
Đây là khu công nghiệp trong đó tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao
và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao, có ranh giới xác định và
do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. Trong khu công nghệ cao
có thể có doanh nghiệp chế xuất. Ngoài những đặc điểm chung của khu công nghiệp, khu
công nghệ cao có những nét riêng biệt:
Có hoạt động chính của các doanh nghiệp là sản xuất và dịch vụ có hàm lượng công
nghệ và chất xám cao như:nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ, đào tạo và thực
hiện các dịch vụ có liên quan. Bản thân các doanh nghiệp thường có quá trình đổi mới
liên tục về công nghệ và sản phẩm.
Các doanh nghiệp trong khu đều có đầu tư lớn cho nghiên cứu và phát riển, có năng
suất cao và được điều hành bởi các nhà khoa học và công nhân có trình độ và kinh
nghiệm cao.
Công nghệ sử dụng trong khu công nghệ cao mang tính tiên phong đi trước thời đại,
phát triển kinh doanh của doanh nghiệp trong nhiều trường hợp được coi là mạo hiểm và
có khả năng được bù đắp cao.
Trong khu công nghệ cao, còn tiến hành các dịch vụ nghiên cứu và chuyển giao công
nghệ, thực hiện cchức năng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao.
3. Tính tất yếu khách quan về thành lập KCN tại Việt Nam
Trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước việc hình thành và phát
triển KCN là đòi hỏi tất yếu khách quan , bởi vì đem lại vai trò vô cùng to lớn , điều này
nó được thể hiện :
-Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn và công nghệ của nước ngoài.Vai trò này xuất
phát từ các ưư đãi và thuận lợi của các nhà đầu tư khi vào sản xuất tại KCN .
+Ưu đãi về tài chính : Thông thường nó bao gồm các ưu đãi về thuế nhập khẩu vật tư ,
thiết bị , nguyên liệu , thuế thu nhập công ty , thuế sở hữu tài sản , thuế thương mại ,
được vay vốn với mức lãi suất ưu đãi , một số KCN còn được ưu đãi về điện và nước .
phương . Ngoài một lực lượng lớn sẽ vào KCN để sản xuất trực tiếp thì nó còn tạo ra việc
làm cho hàng vạn lao động gián tiếp trong các ngành dịch vụ , xây dựng cơ bản phục vụ
cho quá trình phát triển KCN.
7
Đối tượng được thu hút chính vào làm việc tại các KCN thường là lao động phụ nữ
trẻ không có tay nghề từ các nông thôn ra . Sở dĩ các công ty này sử dụng các loại lao
động này vì :
+Phụ nữ phù hợp với các thao tác cần sự khéo léo .
+Phụ nữ có khả năng thích ứng với các hoạt động lắp ráp đơn điệu.
Thông thường tỷ lệ thất nghiệp tại các quốc gia đang phát triển thì tỷ lệ lao động nữ
chiếm rất cao . Nhưng với ưu tiên về lao động nữ tại các KCN thì nó đã phần nào giải
quyết được những vấn đề thất nghiệp tại các quốc gia này .
- Nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên liệu
Cùng với việc hình thành và phát triển KCN thì việc hình thành vùng nguyên liệu cho
KCN là cấp bách và cần thiết . Thay cho việc sản xuất lương thực nhân dân xung quanh
KCN sẽ được định hướng thay thế trong các loại nguyên liệu phục vụ cho nhà máy trong
KCN . Từ đó giúp nâng cao giá trị nông sản , mở rộng thị trường , thu hẹp khoảng cách
giữa các vùng , góp phần xoá đói giảm nghèo , và phát triển kinh tế .
-Cho phép khắc phục yếu kém về cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là vấn đề quan trọng trong quá trình xây dựng KCN. Để có thể thu hút
được nhà đầu tư vào KCN không những cần phải có chính sách ưu đãi tốt , mà cần có cơ
sở hạ tầng tốt để đáp ứng nhu cầu sản xuất .
Cần có việc phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng tại KCN , bên cạnh đó việc đảm bảo hệ
thống nhà máy , các phòng ban , hệ thống dịch vụ trong các KCN cũng phải hoàn thiện
việc phát triển hệ thống các cơ sở hạ tầng ngoài KCN như : Làm đường giao thông , các
công trình nhà ở cho công nhân , các công trình phục vụ cho vui chơi ,giải trí …
Kết quả quá trình xây dựng đó đã góp phần làm thay đổi bộ mặt của vùng , không ít
vùng nông thôn đất đai sinh lầy , hoang hoá , ít có khả năng sinh lợi sau khi xây dựng
KCN đã trở nên sầm uất , đời sống king tế xã hội được lột xác .
- Tạo ra mô hình kinh tế năng động đóng góp lớn vaòi tăng trưởng kinh tế
Việc xây dựng các KCN không những tạo ra động lực thúc đẩy phát triển sản xuất
công nghiệp mà còn kéo theo sự phát triển của các ngành dịch vụ phục vụ trực tiếp cho
hoạt động sản xuất công nghiệp trong KCN và hình thành mạng lưới dịch vụ phục vụ cho
nhu cầu của người lao động. Qua đó có thể thấy việc phát triển các KCN sẽ thúc đẩy quá
9
trình chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ và
giảm tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế.
1.2. Tác động đến quá trình đô thị hoá
Sự phát triển các khu công nghiệp đã làm cho tiến trình đô thị hoá được diễn ra một
cách nhanh chóng hơn. Cụ thể là:
-Cơ sở hạ tầng của các vùng đất khu công nghiệp và xung quanh khu công nghiệp
được nâng cấp, và từ đó mọc lên những đô thị, nhiều nơi trở thành những thành phố sầm
uất, có đầy đủ điện, nước, đường xá, hệ thống thông tin liên lạc, các đường xá, công trình
phúc lợi hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc tế.
-Tạo ra sự thay đổi cơ cấu lao động, cơ cấu dân cư theo hướng: nâng cao tỷ lệ công
nhân, và tỷ lệ dân cư thành thị.
1.3. Tác động đến quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách làm cho môi trường đầu tư tại
các KCN nói riêng và cả nước nói chung tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các
doanh nghiệp hoạt động.
Các khu công nghiệp, thực tế đã trở thành “vườn ươm “ hay là nơi thử nghiệm các cơ
chế, chính sách mới, tiên tiến như: cơ chế “một cửa tại chỗ”, hay cơ chế “tự bảo đảm tài
chính” cũng như nhiều chính sách khác về hoàn thiện thủ tục kiểm hoá hải quan, phát
triển hoạt động tài chính – ngân hàng trong các khu công nghiệp có sự phối hợp của ban
quản lý khu công nghiệp. Tất cả đều tạo môi trường đầu tư tại các khu công nghiệp hấp
dẫn hơn.
1.4. Tác động thúc đẩy sự phát triển các loại hình dịch vụ
Sự phát triển các khu công nghiệp đã tạo cơ hội cho sự xuất hiện các hoạt động dịch
vụ chủ yếu sau: Dịch vụ cung cấp cơ sở hạ tầng: điện, nước, xử lý chất thải vv; dịch vụ
tài chính – ngân hàng; dịch vụ giao thông vận tải; dịch vụ kho, dịch vụ cun ứng; dịch vụ
xây dựng và cho thuê bất động sản; dịch vụ huấn luyện, đào tạo và cung cấp lao động;
tranh thu hút đầu tư bằng các chính sách ưu đãi mà không có những bằng chứng cụ thể về
11
hiệu quả của các chính sách đó. Nhưng mặt tiêu cực là khiến các nhà đầu tư giảm sự tin
cậy đã thể hiện rõ.
2.2. Phát triển KCN dẫn đến hiện tượng di dân tự do, ảnh hưởng tới an ninh, trật tự xã hội
ở nhiều vùng kinh tế
Trong số 750.000 lao động trong các KCN hiện nay, có đến 80% tập trung vào các
tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và trên 70% số lao động vùng này từ miền Trung
và miền Bắc tới. Cá biệt như Bình Dương, số lao động địa phương trong các KCN trong
tỉnh chỉ chiếm chưa đến 10% tổng số lao động. Họ tới vùng kinh tế phía Nam tự do hoặc
theo một số công ty lao động tư nhân thành lập mang tính tự phát. Đa số người lao động
có trình độ thấp, một số tội phạm núp bóng lý lịch người khác đến vùng này lao động, làm
cho tình hình an ninh, trật tự xã hội thêm phức tạp, khó quản lý.
iệc người lao động di cư một cách ồ ạt cũng dẫn đến các nhiều tác động không mong
muốn như sự quá tải về hạ tầng xã hội: Trường học, bệnh viện, đường xá… cũng như các
dịch vụ cho người lao động và gia đình họ tại địa phương nơi có KCN.
2.3. Sự phát triển KCN dẫn tới ô nhiễm môi trường
Như phần trên đã phân tích, việc thiếu vốn cộng với việc tiết kiệm chi phí đầu tư,
thêm vào đó là sự quản lý thiếu chặt chẽ, nên ở nhiều nơi, sự phát triển KCN đã ảnh
hưởng đến môi trường sống trên diện rộng ở mức đáng báo động. Nhiều KCN ở miền
Đông Nam bộ xả nước thải trực tiếp vào hệ thống sông Đồng Nai, làm ô nhiễm nặng, ảnh
hưởng đến nguồn nước sinh hoạt của hàng triệu người. Hay các KCN ở huyện Thuận An
đã xả chất thải làm ô nhiễm nguồn nước ngầm và đất, hậu quả là hàng trăm ha cây ăn
trái ở vùng Lái Thiêu (Bình Dương) có tuổi hàng chục năm bị thối gốc và chết hàng loạt,
nước sông Bình Dương bị ô nhiễm nặng. Nhiều nơi, dân phản đối, khiếu kiện vì môi
trường sống của họ gần KCN bị xuống cấp nặng nề.
2.4 Ảnh hưởng đến chất lượng của tăng trưởng kinh tế
Chất lượng tăng trưởng kinh tế thể hiện ở tính bền vững và tính hiệu quả của quá
trình này. Trong nhiều trường hợp, do sự xuất hiện quá ồ ạt các khu công nghiệp hoặc
quy hoạch phát triển khu công nghiệp thiếu đồng bộ, thiếu tầm nhìn chiến lược đã gây
6 Gia Lâm – Yên Viên - Đức Giang 21 38 10.230
7 Đông Anh 22 68 8.280
8 Chèm 5 14 2.310
9 Cầu Bươu 5 4 1.390
Tổng cộng 155 379 120.100
Nguồn: Ban Quản lý các KCN và Chế xuất Hà Nội (2001): Đề xuất một số giải pháp về
quản lý Nhà nước để xây dựng và phát triển các KCN, KCX Hà Nội năm 2000 – 2010.
Với 9 KCN và tổng diện tích lên đến 379 ha, điểm yếu cơ bản của các KCN này là
thiếu quy hoạch, xây dựng thiếu đồng bộ, nhất là các cơ sở hạ tầng. Theo kết quả kiểm tra
13
gần đây của Thành phố Hà Nội, không một nhà máy, xí nghiệp nào trong các KCN này có
phương án xử lý bảo vệ môi trường. Trong khi đó, do hiện tượng quy hoạch lộn xộn,
trong khu vực nhà máy, xí nghiệp có đủ cả các công trình phục vụ sinh hoạt như: Nhà ở,
nhà trẻ, bệnh xá, cơ sở dịch vụ… gây ảnh hưởng rất lớn đến vệ sinh môi trường và sức
khoẻ của người dân bên trong và xung quan các KCN.
Bên cạnh đó, về tổ chức quản lý, không hề có cơ chế quản lý hành chính nhà nước của
chính quyền trên địa bàn có KCN. Điều này đương nhiên sẽ dẫn đến công tác quản lý lộn
xộn, thiếu trật tự, qui hoạch, gây ảnh hưởng đến tính bền vững KCN. Mặt khác, hầu hết
các KCN cũ được hình thành từ những năm trước do được xây dựng liền kề với các đô thị
cũ nên hiện tại đã, đang và sẽ nằm trong qui hoạch phát triển khu dân sinh của các thành
phố nên chúng gây ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề giải phóng mặt bằng, các vấn đề dân
sinh và giao thông đô thị.
2. Các KCN theo mô hình mới
Ngày 25/1/1991, Thủ tướng Chính phủ cấp giấy phép thành lập KCX Tân Thuận, được
xem là KCN tập trung đầu tiên ở Việt Nam. Từ đó, số lượng các KCN được thành lập
tăng qua các năm thể hiện sự quan tâm của các nhà đầu tư về một lĩnh vực đầu tư hiệu
quả. Trong 3 năm đầu, từ 1991-1993, cả nước chỉ có 2 KCN được thành lập là KCX Tân
Thuận và KCX Linh Trung 1 (thành phố Hồ Chí Minh), 2 năm 1994-1995 có thêm 5
KCN được thành lập. Sau khi Luật Đầu tư nước ngoài (sửa đổi) năm 1992 có quy định về
việc khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài vào các KCN, KCX, việc “thí điểm” thành
1997 20 48 3355
1998 13 61 2625
1999 3 64 226
2000 1 65 335
2001 3 68 390
2002 10 78 2836
2003 21 99 3622
2004 15 114 4020
2005 16 130 3.387
Nguồn: Vụ Quản lý KCN và Chế xuất, Bộ KH và ĐT
Qua bảng trên ta thấy 2 giai đoạn 1996 – 1998 và 2000 – 2005 có sự “bùng nổ” về
phát triển KCN trong cả nước cả về số lượng và diện tích:
-Giai đoạn 1996 – 1998: Đây là giai đoạn khủng hoảng tài chính Châu Á, có tác động
tiêu cực đến sự phát triển kinh tế Việt Nam: xuất khẩu, đầu tư nước ngoài, Tuy nhiên,
cũng trong giai đoạn này nhiều địa phương năng động đã đưa ra các biện pháp nhằm phục
hồi và phát triển kinh tế, trong đó được chú trọng là hình thành các KCN có cơ sở hạ tầng
tốt để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
15
Giai đoạn 2000 – 2005: Đây là giai đoạn Nhà nước có nhiều chính sách ưu đãi, cải
thiện môi trường đầu tư, kinh doanh: Thực hiện Luật Doanh nghiệp; Luật ĐTNN sửa đổi;
ký kết Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ; cải tổ nền hành chính… Đây cũng là giai đoạn
đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Với các yếu tố này giúp cho số doanh
nghiệp trong nước tăng nhanh cùng với sự phục hồi của thu hút ĐTNN sau khủng hoảng
làm cho nhu cầu mặt bằng kinh doanh tăng cao. Do vậy, việc phát triển các KCN trong
giai đoạn này là yêu cầu mang tính tất yếu.
II. Thực trạng hoạt động các KCN nước ta hiện nay
1. Về giá thuê đất
Mức giá thuê đất thường phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: vị trí KCN, chất lượng hạ
tầng KCN, điều kiện thanh toán, các yếu tố môi trường bên ngoài KCN… Hiện nay giá
thuê đất cho sản xuất kinh doanh trong các KCN cả nước là rất khác nhau; giá cao nhất
Thai
Binh
Hai
Duong
Da NangBac
Ninh
Hung
Yen
Hai
Phong
BR-VTBinh
Duong
HanoiHCMC
16
Nguồn: Kết quả điều tra của Diễn đàn phát triển Việt Nam, tháng 12 /2005
Theo hình trên chúng ta có thể thấy giá thuê đất bình quân ở TP. Hồ Chí Minh hiện
cao nhất cả nước, với mức giá cho thuê là 1,85 USD/m2/năm; tiếp theo đó là Hà Nội 1,5
USD/m2/năm; Bình Dương 1,0 và thấp nhất hiện là Thái Bình với mức giá cho thuê là
0,13 USD/m2/năm. Tuy nhiên, giá thuê đất rẻ chưa phải là yếu tố quan trọng quyết định
sự lựa chọn KCN của các nhà đầu tư vì nếu cơ sở hạ tầng không hoàn chỉnh, thủ tục
hành chính rườm rà, và đặc biệt là môi trường kinh doanh không hấp dẫn thì các KCN
cũng khó có thể thu hút các nhà đầu tư. Bằng chứng cho thấy các KCN khu vực miền
Trung dù có giá thuê đất rẻ nhưng tỷ lệ lấp đầy các KCN vẫn rất thấp.
Ở những nơi, KCN được xây dựng có vốn ngân sách hỗ trợ, các công ty cơ sở hạ tầng
hoạt động như một đơn vị hành chính có thu, thì tiền thuê đất rẻ, nó như là một nhân tố
xúc tiến đầu tư. Ngoài ra, khi vốn đầu tư được bỏ ra từ ngân sách địa phương để đầu tư
vào hạ tầng, nó tạo điều kiện cho ban quản lý KCN và chế xuất của tỉnh có thể lựa chọn
cấy giấy phép cho những dự án có lợi nhất cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
(dự án có hàm lượng công nghệ cao, ít ô nhiễm môi trường…) và có điều kiện để phát
triển các đô thị xung quanh KCN.
nước đầu tư vào KCN. Do vậy, số dự án trong nước vào KCN từ năm 1998 tăng đáng kể
(tính luỹ kế), năm 1998-1999 tăng 84% từ 132 dự án lên 244 dự án, giai đoạn 1999-2000
tăng 93% từ 244 dự án lên 472 dự án. Các năm sau tăng đều đặn bình quân khoảng 35%.
Cuối năm 2005, số dự án trong nước đạt 2.314 dự án tăng 46% so với năm 2004. Về số
vốn đầu tư, giai đoạn 1995-1998, vốn đầu tư của khu vực trong nước vào KCN tăng bình
quân mỗi năm khoảng 15% (tính luỹ kế), sau năm 1998, vốn đầu tư tăng với tốc độ cao
hơn, đặc biệt các năm 1999 và 2000 vốn đầu tư tăng đột biến, hơn 20 lần so với năm
trước do dự án Nhà máy điện Phú Mỹ I được triển khai tại KCN Phú Mỹ I (Bà Rịa - Vũng
Tàu). Hai năm gần đây, số dự án trong nước có tốc độ tăng khá nhưng vốn đầu tư mỗi dự
án tương đối thấp dẫn đến tốc độ tăng vốn đầu tư khá thấp, chỉ đạt khoảng 2%.
Những năm gần đây, số lượng các dự án trong nước tăng với tốc độ cao hơn so với
các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời
cùng với các Nghị định hướng dẫn đã dần đưa các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp
của khu vực trong nước và ngoài nước về cùng một mặt bằng, vì vậy những năm tới dự
18
đoán số dự án trong nước vào KCN sẽ vượt số dự án có vốn đầu tư nước ngoài, những
năm tới số dự án trong nước dự đoán cao hơn so với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.
3. Về tình hình sản xuất kinh doanh
KCN đã và đang góp phần nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Giai đoạn 1995-1998, các khu công nghiệp sau khi hoàn tất việc xây dựng cơ bản đã
đi vào hoạt động và thu hút đầu tư, các chỉ tiêu về giá trị sản xuất công nghiệp, xuất khẩu
và nộp ngân sách của các doanh nghiệp trong KCN đều tăng năm sau cao hơn năm
trước. Giai đoạn 1998-2000, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế - tài chính, tình hình
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có giảm sút, do đó
ảnh hưởng tới tình hình hoạt động chung của các doanh nghiệp KCN, đặc biệt là tình
hình xuất khẩu. Giá trị sản xuất công nghiệp 1998-1999 chỉ tăng 6,9%, xuất khẩu 11,5%
và nộp ngân sách 23%.
Cùng với sự phục hồi của nền kinh tế thế giới và khu vực, tình hình sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp KCN trở lại với tốc độ tăng trưởng cao, trong thời kỳ 2001 -
48% diện tích đất đã tạo mặt bằng công nghiệp có các công trình hạ tầng có thể thu hút
đầu tư 1.680/3.550 và mặt bằng 24%tổng diện tích công nghiệp theo quy hoạch .
Các KCN đã đầu tư theo ba loại hình là KCN do các doanh nghiệp trong nước đầu tư
51 KCN . KCN liên doanh với nước ngoài là 13 KCN. KCN đầu tư 100% vốn nước ngoài
1 KCN .
Các KCN đã đầu tư xong cơ sở hạ tầng là 16 KCN , các KCN đang đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng là 34 KCN , và KCN chưa đầu tư xây dựng là 15 KCN . Các KCN đã thực
hiện song đền bù giải phóng mặt bằng là 22 KCN , đang thực hiện đền bù là 13 KCN . .
*Thu hút được lượng vốn đầu tư lớn đồng thời tạo việc làm cho hàng vạn lao động .
Việc thu hút vốn đầu tư vào KCN đạt kết quả nhất định , số lượng các dự án được cấp
phép và đi vào sử dụng tăng liên tục qua các năm . Cùng với nó là việc thu hút lao động
rất lớn vào làm việc trong KCN , đó là dấu hiệu đang mừng . Theo số liệu thống kê , đến
cuối năm 1997 các KCN đã thu hút được 543 doanh nghiệp với tổng số vốn thu hút hiện
trên 2 tỷ USD , đã thu hút được 8.8 vạn lao động , không kể số lượng lao động xây dựng
cơ bản và làm việc trong lĩnh vực phục vụ cho KCN .
20
Cho đến cuối năm 1999 đã có 914 doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt động tổng số
vốn đăng ký là 7.8 tỷ USD , trong đó 569 doanh nghiệp nước ngoài vốn đănh ký 1800tỷ
tương đương 1.4 tỷ USD chiếm 36% số dự án và 17% tổng số vốn đầu tư . Trong tổng số
các doanh nghiệp được cấp phép hoạt động , đã thu hút được 14000 người lao động , tạo
sức mua cho thị trường trong nước 1000 tỷ đồng . Chỉ trong sáu tháng đầu năm 2000 đã
có thêm 68 giấy phép đầu tư nước ngoài đăng ký vào KCN với tổng số vốn đăng ký 186,3
triệu USD tăng 97 % về tổng dự án so với cùng kỳ năm trước. Do kinh doanh có hiệu quả
đã có 18 dự án mở rộng quy mô sản xuất với tổng số vốn đầu tư gần 80 triệu USD , đã thu
hút tới 180.000 lao động trực tiếp , đồng thời tạo việc làm cho hàng vạn lao động gián
tiếp .
Cho đến nay , đầu năm 2002 theo bộ kế hoạch và đầu tư thu hút 795 dự án của các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài , tổng số vốn đầu tư là 7.555 triệu USD , 674 dự án
trong nước tổng số vốn 30.090 tỷ đồng , tạo việc làm cho 233.000 lao động .
*Các KCN đã đóng góp đáng kể cho tăng trưởng kinh tế . Hoạt động của các KCN đạt
để đáp ứng các nhu cầu đó, nên tạo ra tình trạng quá tải cho khu vực, có thể nhận thấy ở
các dấu hiệu như ách tắc giao thông vào các giờ cao điểm, giá cả sinh hoạt tăng cao, điều
kiện ăn ở của người lao động thấp, nguy cơ nảy sinh các hiện tượng xã hội khác như mất
an ninh trật tự,
- Nhiều khu công nghiệp tập trung ở khu vực phía Nam như ở các tỉnh Bình Dương,
Thành phố Hồ Chí Minh đang gặp phi những vấn đề về cung cấp lao động và cung cấp
các dịch vụ hạ tầng xã hội như các dịch vụ phục vụ cho việc đi lại, ăn ở, y tế chăm sóc
sức khoẻ cho người lao động
- Cho đến thời điểm giữa năm 2005, tại nhiều địa phương, tỷ lệ cho thuê đất, hạ tầng
khu công nghiệp còn ở mức thấp ngay cả đối với những khu được thành lập trước năm
1995. Trong số 12 khu thành lập trước 1995, chỉ có 6 khu có tỷ lệ lấp đầy trên 50%
1
, bao
gồm hai khu đã lấp đầy 100%. Cá biệt có khu Đài Tư (Hà Nội) tỷ lệ cho thuê mới đạt
khoảng 1,7%.
- Quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp trong giai đoạn vừa qua
đang đứng trước một xu hướng không tích cực. Đó là:
1
22
+ Các khu công nghiệp thành lập trong giai đoạn sau có tốc độ quá nhanh làm giảm tính
hấp dẫn trong thu hút đầu tư của các khu công nghiệp thành lập trước đó, làm cho các
khu công nghiệp thành lập trong giai đoạn trước có tỷ lệ lấp đầy thấp (bình quân chỉ
57%)
+Tính hấp dẫn trong việc thu hút đầu tư nước ngoài giảm sút: số khu, diện tích thành
lập tăng gấp 4-5 lần trong khi số dự án chỉ tăng gấp 1,7 lần và lượng vốn chỉ tăng 1,6
lần.
-Thực tế ở nhiều địa phương, một số khu công nghiệp (chưa được thành lập theo
quyết định của Thủ tướng Chính phủ) đã và đang bố trí tập trung các doanh nghiệp sn
xuất công nghiệp theo mô hình khu công nghiệp tập trung. Các địa điểm như vậy đang
gặp phải rất nhiều vấn đề liên quan đến việc đảm bảo hạ tầng khu công nghiệp và sự
vụ của các Ban quản lý KCN cấp tỉnh cũng chậm được kiện toàn cần tiếp tục nghiên cứu
để hoàn thiện, phù hợp với tình hình mới.
-Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất chậm được sửa đổi và ban hành. Thực tiễn
quản lý trong những năm vừa qua phát sinh nhiều vấn đề bất cập liên quan đến Nghị
định 36/CP (hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với các cơ quan liên quan sửa
đổi Quy chế và trình Thủ tướng Chính phủ - Các quy định trong Nghị định, Quy chế sửa
đổi nhìn chung đáp ứng được tình hình thực tiễn quản lý hiện nay).
PHẦN III. NHỮNG ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Trên cơ sở những nhận định về triển vọng phát triển công nghiệp Việt nam trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với những phân tích về thực trạng tình hình phát
triển của các khu công nghiệp chúng em đưa ra một số nhóm giải pháp và kiến nghị sau.
I.Giải pháp
1. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với phát triển KCN
1.1.Nâng cao chất lượng quy hoạch KCN
Qui hoạch được coi là yếu tố quan trọng tác động đến khả năng phát triển bền vững
các khu công nghiệp, nó xác định khuôn khổ và phương hướng cho sự phát triển của các
24
khu này. Tuy nhiên, như trên đã phân tích, thực tế công tác qui hoạch các khu công
nghiệp Việt Nam hiện còn rất nhiều bất cập và yếu kém.
Thứ nhất là qui hoạch các khu công nghiệp mới chỉ mang tính chất hình thức, vì thực
chất có nhiều khu công nghiệp đã được cấp phép mà không dựa vào qui hoạch (trong đó
nhiều khu công nghiệp được cấp phép hoạt động trong giai đoạn chưa có qui hoạch khu
công nghiệp, và những khu công nghiệp này hiện vẫn hoạt động có hiệu quả), nói một
cách khác, công tác qui hoạch còn đi sau so với sự tiến triển của tình hình và so với yêu
cầu thực tiễn phát triển các khu công nghiệp. Tình trạng này còn phổ biến hơn nếu xem
xét đến thực tế phát triển của các cụm công nghiệp địa phương không do Thủ tướng chính
phủ ra quyết định.
Thứ hai, việc xây dựng qui hoạch còn chưa tính toán đầy đủ các yếu tố phát triển,
chẳng hạn như chưa gắn kết qui hoạch khu công nghiệp với qui hoạch tổng thể phát triển