TÌNH HÌNH PHÂN bố và PHÁT TRIỂN của NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM - Pdf 14

MỤC LỤC
1
TÌNH HÌNH PHÂN BỐ VÀ PHÁT TRIỂN
CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
I. Đặc điểm phát triển của ngành công nghiệp Việt Nam hiện nay
Ngành công nghiệp nước ta hiện nay có 3 đặc điểm chung:
1) Chuyên môn hóa sâu và hiệp tác hóa rộng
Trong SX CN, chuyên môn hóa sâu có thể thực hiện sự phối hợp rộng rãi
giữa nhiều xí nghiệp, nhiều ngành để tạo ra sản phẩm cuối cùng (đặc điểm này thể
hiện rõ nhất trong các ngành như cơ khí)
Chuyên môn hóa không thể tách rời hiệp tác
hóa, chuyên môn hóa càng sâu thì hiệp tác hóa
phải càng rộng. Mức độ hiệp tác hóa xác định dựa
trên số lượng xí nghiệp tham gia vào việc SX
Chuyên môn hóa và hiệp tác hóa ảnh hưởng
rất lớn đến việc phân bố SX do đó khi phân bố CN
cần xem xét các dự án có khả năng hiệp tác với
nhau trong quá trình SX. Trong nền KT mở hiện
nay, việc chuyên môn hóa và hiệp tác hóa ngày
càng mở rộng, tạo thành liên doanh quốc tế, đa
quốc gia
2) Tập trung hóa theo lãnh thổ:
Tính tập trung theo lãnh thổ thể hiện ở 2 mặt: quy mô và mật độ xí nghiệp
@ Lợi ích: tạo khả năng hiên đại hóa trang thiết bị, tăng năng suất lao động,
tạo thuận lợi cho chuyên môn hóa và hiệp tác hóa, sử dụng tiết kiệm nguyên nhiên
liệu, giảm bớt vốn đầu tư căn bản cho các công trình và dịch vụ công cộng
@ Khó khăn của việc tập trung quá mức: tiêu hao nhanh chóng nguồn tài
nguyên gần đó, đòi hỏi kỹ thuật cao, công nhân lành nghề, cần vốn đầu tư lớn và
lâu thu hồi vố, ô nhiễm môi trường do hình thành các trung tâm dân cư và các
thành phố lớn, không có lợi về quốc phòng…
Từ những thuận lợi và khó khăn trên nên mức độ của tập trung hóa SX ở mỗi

-Nhóm công nghiệp khai thác(than, dầu khí, quặng kim loại, khai thác đá và
các mỏ khác).
-Nhóm công nghiệp chế biến(sản xuất thực phẩm và đồ uống, sản xuất thuốc
-Nhóm sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước
Cơ cấu ngành công nghiệp nước ta có sự dịch chuyển rõ rệt nhằm thích nghi
với tình hình mới. Chuyển dịch cơ cấu theo ngành có vai trò quyết định đến bộ mặt
của công nghiệp cũng như kinh tế 1 quốc gia.
Nhờ ảnh hưởng của cách mạng khoa học kĩ thuật, cơ cấu công nghiệp thay
đổi:
-Giảm tỉ trọng các ngành công nghiệp truyền thống tăng tỷ trọng của các
ngành công nghiệp có kĩ thuật hiện đại (như các ngành cơ khí chế tạo thiết bị điện
tử, hàng không, vũ trụ…) công nghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng…
-Công nghiệp sản xuất vật liệu mới không ngừng tăng lên.
-Các ngành đòi hỏi sự chính xác, hàm lượng tri thức cao ngày càng được chú
trọng phát triển.
Năm 2013 - năm bản lề thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế giai đoạn 5 năm
2011-2015, cũng là năm chính phủ xác định, một trong những nhiệm vụ trọng tâm
là tái cơ cấu nền kinh tế để phát triển bền vững. Tuy nhiên, nhìn vào các ngành
công nghiệp cơ bản của Việt Nam, giật mình khi thấy rất nhiều lĩnh vực then chốt -
hoặc chưa có chiến lược, định hướng rõ ràng, tầm nhìn chưa dài hạn, hoặc đã có
chiến lược nhưng còn quá chung chung… trong khi chỉ còn 7 năm nữa, Việt Nam
cơ bản phải trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại?
2) Cơ cấu công nghiệp Việt Nam theo vùng (theo lãnh thổ)
3
Liên hợp luyện kim ở Thái
Nguyên
Cơ cấu công nghiệp Việt Nam theo lãnh thổ đã được hình thành ngày càng
hợp lý hơn từ việc phân tích các yêú tố khách quan gắn liền với chiến lược phát
triển ngành.

Mỏ sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh) đang được đầu tư khai thác.
Ngành luyện kim đang tiếp tục phát triển trên cơ sở các mỏ đồng (Lào
Cai), bo-xít (Tây Nguyên).
@ Hoá chất:
Các xí nghiệp hóa chất lớn và cơ bản ở VN: sản xuất phân bón và hóa chất
cơ bản.
Sản xuất phân bón có các nhà máy lớn ở phía Bắc.
Chế biến cao su:ở Hà Nội, TP HCM.
Ngành nhựa VN 80% năng lực sản xuất ở TP HCM.
4
Chế biến dược phẩm phát triển mạnh những năm gần đây, phân bố nhiều
nơi, chủ yếu ở Hà Nội và TP HCM.
Về nhiều loại hóa chất khác, các nhà máy được xây dựng phục vụ nhu cầu
tại chỗ.
@ Vật liệu xây dựng:
Bao gồm nhiều loại sản phẩm, quan trọng là xi măng.
Phân bố dựa vào yếu tố trội:cơ sở nguyên liệu và khu vực tiêu thụ.
Các vùng sản xuất mạnh nhất là Đông Bắc Bộ và Đông Nam Bộ.
2) Theo vùng:
Trong những năm vừa qua cũng đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đóng
góp vào quá trình phát triển kinh tế. Dần hình thành các khu công nghiệp tập
trung mang tính chiến lược.
Có sáu vùng công nghiệp tại Việt Nam được quy hoạch từ nay đến năm
2020:
Vùng 1 gồm 14 tỉnh Bắc Kạn, Bắc Giang, Cao Bằng, Điện Biên, Hòa
Bình, Hà Giang, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên,
Tuyên Quang, Yên Bái tập trung phát triển thủy điện, chế biến nông, lâm sản,
khai thác và chế biến khoáng sản, hóa chất, phân bón, luyện kim, sản xuất vật
liệu xây dựng, công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp và công nghiệp chế
biến.

tập trung
Có nhiều nhân tố tác động đến việc lựa chọn địa điểm để xây dựng một khu
công nghiệp nhưng ta xét 3 yếu tố quan trong nhất mang tính quyết định là:
- Vị trí địa lí thuận lợi cho giao thương
- Nguồn nhân lực dồi dào, có tay nghề cao
- Cơ sở hạ tầng hoàn thiện, đồng bộ, hiện đại
1) Vị trí địa lí thuận lợi cho giao thương
- Gần các trung tâm kinh tế, thành phố, khu dân cư - nơi tiêu thụ hàng hóa,
sản phẩm cũng là nơi cung cấp nguồn lao động cho KCN.
- Là cầu nối giao thông của các tỉnh,khu vực hoặc gần biên giới các nước,
ven biển…
- Gần nguồn nguyên liệu cho sản suất: giảm chi phí vận chuyển, phí cầu
đường…
- Gần các hải cảng, hệ thống giao thông đường bộ,đường thủy, đường sắt…
dễ vận chuyển, mua bán,trao đổi hàng hóa,nguyên liệu…
- Khí hậu ôn hòa, thuận lợi
2) Nguồn nhân lực dồi dào, có tay nghề cao
- Lực lượng lao động có chất lượng cao, lao động kỹ thuật có thể vận hành
thiết bị tự động hay thiết bị công nghệ cao được đảm bảo đầy đủ
- Lao động phổ thông dồi dào
- Người lao động có tinh thần trách nhiệm cao, năng động, sáng tạo
3) Cơ sở hạ tầng hoàn thiện, đồng bộ, hiện đại
a. Hạ tầng giao thông vận tải
• Hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy, đường hàng không…thông
suốt
• Xây dựng hệ thống giao thông riêng biệt đường chính – đường phụ trong
nội bộ KCN, nối kết với các tuyến đường quốc lộ.
Lợi ích: Hàng hóa ra vào được thuận lợi và nhanh chóng , đỡ tốn thời gian ,
giảm được chi phí vận tải, thu hút được nhà đầu tư.
b. Hạ tầng kĩ thuật

Ưu tiên tăng cường công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật, công nghệ cao, tận
dụng thế mạnh nguồn nhân lực, chất xám, đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường.
Công nghiệp phải phấn đấu hết sức để tạo ra những sản phẩm chất lượng cao,
một phần để thay thế hàng nhập khẩu, một phần lớn để xuất khẩu.
Bên cạnh việc phát triển những loại công nghiệp có yêu cầu tập trung, thì
đồng thời phát triển công nghiệp có khả năng bố trí phân tán nhằm thúc đẩy công
nghiệp hoá và đô thị hoá nông thôn, giải quyết việc làm cho số đông dân cư.
Những ngành cần được ưu tiên phát triển là: Kỹ thuật điện, điện tử, sản xuất
thiết bị máy móc, vật liệu xây dựng, năng lượng và chế biến lương thực, thực
phẩm, hàng may mặc, dệt, da giầy xuất khẩu.
Coi trọng đầu tư chiều sâu, ưu tiên phát triển quy mô vừa và nhỏ với công
nghệ tiên tiến, hiện đại (một số công trình then chốt có thể có quy mô lớn). Ưu tiên
hướng mạnh về sản xuất hàng xuất khẩu và hàng cao cấp phục vụ nhu cầu tiêu
dùng nội địa, nhất là những sản phẩm cạnh tranh với hàng nhập khẩu, những sản
phẩm đáp ứng nhu cầu du lịch và khách quốc tế.
Với những định hướng phát triển công nghiệp nói trên, chúng ta có thể đẩy
nhanh tốc độ tăng trưởng công nghiệp một cách chủ động, tự tin, có thể đưa tỷ
trọng sản xuất công nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội còn ở mức trung bình như
hiện nay lên cao hơn nữa nhằm đưa đất nước ta trở thành nước công nghiệp mới
vào năm 2020. Song để thực hiện những điều đó cần đầu tư. Quy mô vốn tích luỹ
lớn là những yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp. Xuất phát từ
7
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010, để thực hiện quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá chúng ta phải đẩy nhanh hoạt động đầu tư phát triển công
nghiệp. Các nhà khoa học tính toán rằng, để tốc độ tăng trưởng GDP trung bình
hàng năm khoảng 8 đến 10% thì tổng đầu tư trong nước của Việt Nam phải đạt mứa
ít nhất là 20-35%GDP từ nay đến năm 2020.
Để đạt sự tăng trưởng GDP với tốc độ cao như vậy đòi hỏi phải đẩy nhanh
hơn nữa quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước bởi vì chính tốc độ tăng
trưởng nhanh trong các ngành công nghiệp tất yếu sẽ dẫn đến biến đổi trong cơ cấu

2) Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ
8
Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ có quy mô bao trùm các lãnh thổ duyên
hải tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng và có thể mở rộng ra tới Huế và vào tới bộ phận
phía bắc tỉnh Quảng Ngãi (Dung Quất)
- Vị trí chuyển tiếp giữa các vùng phía Bắc và phía Nam qua quốc lộ 1A và tuyến
đường sắt Thống Nhất, có các sân bay Đà Nẵng, Phú Bài, Chu Lai và là cửa ngõ
quan trọng thông ra biển của các tỉnh Tây Nguyên và Nam Lào, thuận lợi cho phát
triển kinh tế và giao lưu hàng hoá.
- Thế mạnh về khai thác tổng hợp tài nguyên biển, khoáng sản, rừng để phát triển
dịch vụ du lịch, nuôi trồng thuỷ sản, công nghiệp chế biến nông – lâm – thuỷ sản và
một số ngành khác nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hóa.
- Trên lãnh thổ của vùng hiện nay đang triển khai những dự án lớn có tầm cỡ quốc
gia. Trong tương lai sẽ hình thành các ngành công nghiệp trọng điểm, phát triển các
vùng chuyên sản xuất hàng hoá nông nghiệp, thuỷ sản và các ngành thương mại,
dịch vụ du lịch.
@ Phát triển công nghiệp:
Hình thành các ngành công nghiệp mũi nhọn trên cơ sở phát triển những
ngành được đầu tư tập trung, có lợi thế về tài nguyên, nguồn lao động, thị trường
để tăng trưởng với tốc độ cao, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế
của vùng.
Ưu tiên đầu tư phát triển những ngành sản xuất có hiệu quả và góp phần xuất
khẩu, tạo ra lợi thế trong quá trình hoà nhập với khu vực và quốc tế. Đầu tư cho các
khu công nghiệp như: Dung Quất, Điện Nam - Điện Ngọc, Hoà Khánh - Liên
Chiểu, Phú Bài, An Đồn, Chân Mây, Tịnh Phong.
Chuẩn bị điều kiện để phát triển một số điểm công nghiệp khác với các ngành
chủ yếu là chế biến nông, lâm, thuỷ sản; công nghiệp thực phẩm, công nghiệp đóng
tàu và công nghiệp hàng tiêu dùng. Đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng để thu hút vốn
đầu tư.

Cơ cấu ngành công nghiệp ở nước ta khá đa dạng và đang từng bước có
những thay đổi mạnh mẽ. Cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế tuy có
chuyển dịch nhưng khá chậm
Trong cơ cấu ngành công nghiệp nổi lên một số ngành trọng điểm, mang lại
hiệu quả kinh tế cao và có tác động mạnh mẽ đến việc phát triển các ngành công
nghiệp khác.
Cần tiếp tục hoàn thiện cơ cấu ngành công nghiệp linh hoạt, phù hợp với tình
hình phát triển thực tế của đất nước, đầu tư theo chiều sâu
Về thiết bị, máy móc và công nghệ sản xuất kĩ thuật còn lạc hậu, chậm đổi
mới. Công nghiệp chế biến còn nhỏ bé, trong cơ cấu hàng xuất khẩu, nguyên liệu
thô chiếm trên 70%.
Nguồn nhân lực cho công nghiệp còn kém về chất lượng. Lợi thế giá nhân
công rẻ đang mất dần khi năng suất của người lao động thấp, trình độ chuyên môn
không được nâng cao.
Nền công nghiệp nước ta có sự phân hóa về mặt lãnh thổ, hoạt động công
nghiệp tập trung chủ yếu trên một số khu vực. Đang có nhiều thay đổi và trở nên
hợp lý hơn, tuy nhiên vẫn còn sự khác biệt giữa các vùng. Phát triển của khu vực có
vốn đầu tư nước ngoài chưa hỗ trợ cho phát triển của khu vực có vốn đầu tư trong
nước; nhiều mặt hàng truyền thống quan trọng chiếm tỉ trọng lớn chưa được phát
triển mạnh.
Trong nước, sức mua của người dân chững lại, sản phẩm tồn kho cao; giá một
số hàng hoá nông sản xuất khẩu giảm, thị trường xuất khẩu gặp khó khăn, lãi suất
ngân hàng mặc dù có giảm nhưng việc tiếp cận vốn của doanh nghiệp còn hạn
chế đã có tác động nhất định đến giá thành sản phẩm, tiêu thụ hàng hoá và dịch
vụ, cũng như các chương trình đầu tư phát triển của doanh nghiệp. Những yếu tố
bất lợi trên tác động mạnh đến hoạt động sản xuất kinh doanh, nhiều doanh nghiệp
10
hoạt động cầm chừng, người lao động ít việc làm, tiêu thụ sản phẩm khó khăn
ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống dân cư.
Cần đầu tư có trọng điểm, tránh tràn lan. Hướng ưu tiên là đầu tư xây dựng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status