Luận án lập luận trong hội thoại của nhân vật (qua tư liệu văn xuôi việt nam, giai đoạn 1930 1945) - Pdf 37

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

CHU THỊ THÙY PHƢƠNG

LẬP LUẬN TRONG HỘI THOẠI CỦA NHÂN VẬT
(QUA TƢ LIỆU VĂN XUÔI VIỆT NAM,
GIAI ĐOẠN 1930 - 1945)

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 62.22.02.40

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Phạm Văn Tình

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

NCS. Chu Thị Thùy Phương


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ..........................................................................................................................

TÀI LIỆU THAM KHẢO ..............................................................................................


QUY ƢỚC VIẾT TẮT
1.

L: lập luận

2.

p1, p2, p3: luận cứ

3.

q1, q2, q3,…: luận cứ

4.

s1, s2, s3: luận cứ

5.

r1, r2, r3, r4: kết luận

6.

p,q,s, t,u : luận cứ

7.


15.

CDA: Đường hướng phân tích diễn ngôn phê phán

16.

PTDN: phân tích diễn ngôn

17.

S: vai trên

18.

H: vai dưới


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Lập luận là một thao tác của tư duy được biểu hiện qua hành động
ngôn ngữ. Nói cách khác, lập luận là hoạt động dùng ngôn ngữ tác động vào
nhận thức và hành vi của người tiếp nhận – một sự lựa chọn có tính đến
những can thiệp mạnh mẽ của tư duy để điều chỉnh tư duy.
1.2. Lập luận là hoạt động phổ biến trong tất cả các cuộc giao tiếp bằng
ngôn ngữ. Các văn bản dù được xây dựng theo phong cách nào cũng cần dùng
tới lập luận. Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ bao gồm: trao đổi giao tiếp
thông thường hàng ngày, hoạt động giảng dạy và học tập trong nhà trường,
trong cơ quan hành chính,… Các hoạt động nêu trên đều cần dùng tới lập luận
và yêu cầu thực hiện lập luận sao cho hiệu quả.
1.3. Văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945 có sự chuyển biến mạnh mẽ

sử dụng lập luận ở các cuộc hội thoại.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên, chúng tôi xác định các nhiệm vụ như sau:
1/ Tổng quan được tình hình nghiên cứu về lập luận trên thế giới, ở
Việt Nam để thấy được vị trí và vai trò của lập luận trong việc nghiên cứu
ngôn ngữ nói chung và ứng dụng trong nghiên cứu các tác phẩm văn học nói
riêng. Từ đó, tìm hiểu những vấn đề lí thuyết liên quan đến đối tượng đề tài
quan tâm như: lập luận trong ngữ dụng học; lập luận trong phân tích diễn
ngôn; lập luận trong hội thoại ở văn bản nghệ thuật.
2/ Khảo sát, thống kê, phân thoại các cuộc thoại chứa lập luận của các
nhóm nhân vật (quan lại, địa chủ, nông dân, trí thức) trong các văn bản nghệ
thuật (văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945).
3/ Phân tích, mô hình hóa cấu trúc lập luận của các nhóm nhân vật khảo
sát theo lí thuyết lập luận.

2


4/ Phân tích và chỉ ra các lẽ thường đặc trưng trong sử dụng; các đặc
điểm từ ngữ được sử dụng trong các lập luận của từng nhóm nhân vật. Từ
đó, luận án góp phần vào việc làm rõ vai trò của lập luận khi tham gia vào
quá trình điển hình hóa nhân vật trong tác phẩm và làm nổi bật phong cách
nhà văn.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Lập luận được coi là một hoạt động ngôn từ, có mặt ở mọi nơi, mọi lúc
và mọi trường hợp, đa dạng, phong phú của cuộc sống ngôn ngữ. Đối tượng
nghiên cứu của luận án là lập luận trong hội thoại của nhân vật.
Phạm vi nghiên cứu: lập luận của nhân vật (quan lại, địa chủ, nông dân và
trí thức) trong hội thoại qua tư liệu văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945.

Đây là phương pháp đóng vai trò quan trọng của luận án. Chúng tôi
miêu tả các kiểu cấu trúc của lập luận, lẽ thường và đặc điểm từ ngữ theo
quan điểm của diễn ngôn phê phán để làm cơ sở cho lập luận. Đồng thời, so
sánh giữa các nhóm đối tượng khảo sát với nhau để tìm ra những nét khu biệt.
Đây là cơ sở cho việc phân tích và chỉ ra đặc điểm ngôn ngữ riêng của từng
nhóm nhân vật mà chúng tôi khảo sát.
3/ Phương pháp liên ngành
Đề tài chúng tôi khảo sát liên quan khá chặt chẽ đến văn học cũng như
một số lĩnh vực khoa học khác trong cuộc sống, vì vậy với phương pháp liên
ngành như: nghiên cứu văn học – cung cấp cho ngôn ngữ nguồn ngữ liệu phong
phú. Mặt khác vấn đề nghiên cứu của đề tài là giao điểm của rất nhiều ngành
khoa học khác như: lịch sử, địa lí, logic, tâm lí … Vì vậy, khi nghiên cứu,
chúng tôi không tách vấn đề của mình khỏi văn học, triết học, logic học và
tâm lí học.

4


5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án cung cấp một số cứ liệu về đặc điểm của các phương tiện
ngôn ngữ trong giao tiếp nói chung, trong lập luận nói riêng. Kết quả nghiên
cứu của luận án có thể góp phần phát triển nghệ thuật hùng biện.
- Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng vào việc xây dựng, tăng
cường kĩ năng giao tiếp hay phục vụ cho việc nghiên cứu giảng dạy Ngữ dụng
học, Ngôn ngữ học, Phân tích diễn ngôn..
- Kết quả của luận án có thể được dùng để tham khảo cho giáo viên,
học sinh trong việc phân tích nhân vật văn học nói riêng, phong cách nhà văn
nói chung. Đồng thời, giúp cho việc rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, khả
năng tư duy và lập luận bằng ngôn ngữ của học sinh trong nhà trường.
6. Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án

6


Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu lập luận
1.1.1.1. Trên thế giới
Trong cuộc sống, con người luôn dùng đến lập luận (argumentation) để
chứng minh, giải thích, hay bác bỏ một ý kiến nào đó. Lập luận có tầm quan
trọng đặc biệt, đó chính là cơ sở để giải quyết mọi vấn đề. Thuở ban đầu, lập
luận được coi là một lĩnh vực thuộc phạm vi của thuật hùng biện - một “nghệ
thuật nói năng”, được trình bày trong Tu từ học (Rhetoric) của Aristotle. Sau
đó, từ thế kỷ thứ V TCN, nó đã được chú ý nghiên cứu trong logic học. Ban
đầu là chuyện tranh cãi trong những vụ kiện cáo trước tòa. Có thể văn bản đầu
tiên đề cập tới lập luận (phương thức lập luận) là tài liệu về “phương pháp lí
lẽ” do Corax và học trò của ông ta là Tisias nói trước tòa. Cũng ở thế kỷ này,
một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về lập luận cũng đã xuất hiện
trong tác phẩm “thuật tranh biện” của Protago - một học giả ngụy biện nổi
tiếng của Hy Lạp.
Nửa sau thế kỷ XX, lí thuyết lập luận được quan tâm trở lại. Mở đầu là
những công trình của Perelman C., Olbrechts – Tyteca (1969), “Traité de
l‟argumentation – La Nouvelle Rhétorique” và của Toulmin S. (1958/2003),
“The use of argument”. Sau đó là “De la logique à I‟argumentation” (Từ
logic tới sự lập luận) của Grize. Trong mấy chục năm gần đây, lĩnh vực
nghiên cứu về lập luận đã có sự phát triển và chuyển biến mạnh mẽ.
Trước hết đó là những công trình của hai tác giả Pháp Ducrot O. (1973)
“Les Echelles argumentatives” (Sự lập luận – trong ngôn ngữ) và Anscomber
J.c “Logique, structure, énonciation. Lectures sur le langage” (Logic, cấu

và Armastrong W. trong công trình “Understanding arguments: An
introduction to informal logic” (Sự lập luận được hiểu như là logic phi hình
8


thức) nhận định: một trong những mục đích của lí thuyết lập luận là phải cho
phép nghiên cứu tốt nhất mọi cấu trúc trừu tượng. Từ đó, phát hiện những
nguyên lý cơ bản giúp phân biệt được những lập luận tốt và lập luận tồi. Mỗi
một lập luận được coi như một cách dùng ngôn ngữ - hoạt động ngôn từ,
trong đó có hoạt động luận cứ.
Trong quá trình lập luận, có rất nhiều sai lầm mà người dùng phạm
phải. Để khắc phục những sai lầm, một loạt các công trình đề cập tới những
sai lầm trong lập luận ra đời. Kahane H. trong công trình “Logic and
contemporary rhetoric” (Logic và tu từ học hiện đại) (1971) trình bày những
quan điểm về lập luận và những kiểu sai lầm trong lập luận. Công trình cung
cấp rất nhiều những ví dụ trong các lĩnh vực và hoàn cảnh mà tần suất lập
luận xuất hiện cao. Người ta coi đây là cuốn sách hấp dẫn và trở thành tài liệu
được tham khảo phổ biến trong nghiên cứu lập luận. Walton Douglas N. năm
1989 trong công trình: “Informal logic: A handbook for critical argument
(Logic phi hình thức: hợp tuyển về những lập luận phản biện) đã đưa ra 150
ví dụ mẫu và những yếu tố sai lầm khác trong quá trình lập luận. Công trình
này cũng thu hút được rất nhiều độc giả quan tâm.
Có thể nói: Lập luận theo logic phi hình thức là những lập luận theo tri
thức về ngôn từ, phong tục, tập quán nói riêng và tri thức nền về xã hội nói
chung. Kiểu lập luận này đã trở thành phổ biến trong giao tiếp, tranh luận
hàng ngày. Tầm quan trọng của nó bao trùm hầu hết các nguyên lý ngữ dụng
học về ngôn ngữ.
1.1.1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, lập luận chưa được các nhà Việt ngữ học quan tâm thỏa
đáng, kể cả những người quan tâm đến dụng học. Tuy nhiên, gần đây lập luận

lập luận chỉ có kết luận, các thành phần còn lại đều là luận cứ. Tuy nhiên
thường gặp các lập luận phức hợp. Tạm cho rằng lập luận phức hợp có hai
dạng chính” [8, tr. 162]. Dạng lập luận có cấu trúc phức hợp thứ nhất: R là kết
luận chung; r1, r2, r3… là những kết luận bộ phận. Dạng lập luận có cấu trúc
10


phức hợp thứ hai: R là kết luận chung; (p1 ->r1, p2-> r2) … là những lập
luận bộ phận. Từ những nhận định, phân tích, đánh giá khái quát ban đầu về
lập luận, tác giả đi sâu vào những vấn đề cụ thể của lập luận như: Đặc tính
của quan hệ lập luận; Tác tử và kết tử lập luận; Lẽ thường của lập luận. Khi
xét về đặc tính của quan hệ lập luận, Đỗ Hữu Châu khẳng định: “giữa các
luận cứ có quan hệ định hướng lập luận, có nghĩa là p và q được đưa ra để
hướng tới một r nào đấy” [8, tr.177]. Theo đó, giữa p và q có thể xảy ra một
trong hai quan hệ: thứ nhất: p đồng hướng với q; thứ hai: p nghịch hướng với
q. Khi xác định các quan hệ lập luận trong một lập luận, tác giả cho rằng: phải
dựa vào các dấu hiệu hình thức – các chỉ dẫn lập luận. Theo đó, tác tử lập luận
và kết tử lập luận là hai loại lớn thuộc chỉ dẫn lập luận. Và các vai trò của các
tác tử và kết tử lập luận được lý giải thông qua các topos (lẽ thường). Các topos
được coi là “những chân lí thông thường có tính kinh nghiệm, không có tính tất
yếu, bắt buộc như các tiền đề logic.” [8, tập 2]. Có thể nói, trong “Đại cương
ngôn ngữ học – tập 2”, tác giả Đỗ Hữu Châu đã trình bày một cách khá hệ
thống, chặt chẽ những lí thuyết có tính cơ sở của lập luận. Đánh giá tổng quát
những công trình của hai tác giả trên, chúng tôi nhận thấy: đây là những công
trình có tính chất nền tảng cho bất cứ ai quan tâm nghiên cứu vấn đề lập luận.
Tiếp thu những thành tựu của các tác giả đi trước, những tác giả sau
này quan tâm đến vấn đề lập luận đã có những đường hướng tiếp cận riêng
nhằm làm rõ từng vấn đề trong lập luận. Qua tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy có
một số đường hướng nghiên cứu về lập luận như:
Thứ nhất: Nghiên cứu lí thuyết về lập luận trên cơ sở đi sâu nghiên cứu

của một số lập luận phức hợp”…
Thứ hai: Nghiên cứu lập luận từ phương diện phân tích diễn ngôn trên
văn bản và một số khía cạnh của xã hội.
Phân tích lập luận từ phương diện phân tích diễn ngôn là một hướng đi
khá mới mẻ trong nghiên cứu lập luận. Với hướng đi này, lập luận được nhìn
nhận ở phạm vi rộng – tức là xem xét lập luận gắn với chủ đề, ngữ cảnh,…
12


Từ đó làm nổi bật đặc điểm của lập luận nói riêng và thể hiện đặc điểm cá
nhân trong hội thoại rõ hơn. Tác giả Đỗ Hữu Châu đã dành hẳn một phần
trong “Đại cương ngôn ngữ học – tập 2” để nói đến vấn đề về sự xuất hiện
của lập luận trong diễn ngôn. Tác giả cho rằng: “lập luận có thể là nằm
trong một phát ngôn, một diễn ngôn mà có thể nằm trong lời đối đáp” và
theo đó “Những cuộc tranh luận, cãi cọ là những cuộc hội thoại trong đó
Sp1và Sp2 đưa ra những luận cứ dẫn tới những kết luận khác nhau nhằm
giành phần thắng cho mình”[8, tr.156]. Tiếp cận ở phạm vi sâu diễn ngôn,
các tác giả: Diệp Quang Ban, Nguyễn Chí Hòa đã dành những sự quan tâm
đặc biệt cho vấn đề. Tác giả Diệp Quang Ban trong công trình: “Giao tiếp,
diễn ngôn và cấu tạo văn bản” đã dành phần 2 (360 trang – trình bày từ
chương 2 đến chương 9) để viết về diễn ngôn. Ở đây diễn ngôn được xem
xét trên phạm vi rộng và trong các mối quan hệ với các nội dung khác. Có
thể thấy, trong công trình này, bên cạnh việc phân tích mối quan hệ giữa
giao tiếp – diễn ngôn và văn bản; tác giả đi sâu trình bày những vấn đề chính
của diễn ngôn. Phân tích diễn ngôn được coi là nội dung quan trọng nhất của
diễn ngôn và được tác giả trình bày tại chương 4. Trong đó, tác giả đi từ quá
trình hình thành của phân tích diễn ngôn cho đến ứng dụng đối với nghiên
cứu ngôn ngữ. Bắt đầu từ lúc khởi phát cho đến lúc định hình, phân tích diễn
ngôn trải qua một quá trình có nhiều biến động, theo Diệp Quang Ban thì
Phân tích diễn ngôn chỉ thực sự được thừa nhận rộng rãi vào năm 1983 với

khá hoàn chỉnh về phân tích diễn ngôn và phân tích diễn ngôn phê phán từ
khái niệm, các quan điểm khi tiến hành phân tích diễn ngôn phê phán, mối
quan hệ quyền thế trong sử dụng ngôn ngữ… Đây được xem là những công
trình có tính chất xương sống giúp cho những ai quan tâm tiếp tục tìm hiểu ở
nhiều phương diện và nội dung khác nhau.
Trên cơ sở nền tảng lí thuyết về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn và phân
tích diễn ngôn phê phán, có rất nhiều nhà nghiên cứu đã mở rộng từ phạm vi
lí thuyết đến ứng dụng vào những đối tượng và vấn đề cụ thể. Việc làm rõ vấn
14


đề lập luận nhìn từ góc độ diễn ngôn cũng được ghi dấu bởi rất nhiều công
trình có giá trị. Có thể kể đến hàng loạt các công trình như: Hoàng Xuân Hoa
(1999) “So sánh đối chiếu cách diễn ngôn tiếng Anh và tiếng Việt với việc
phát triển kỹ năng viết đoạn cho sinh viên đại học”; Lê Tô Thúy Quỳnh
(2000) “Ngôn ngữ và phương pháp biện luận trong tranh cãi pháp lý”;
Nguyễn Thị Hường (2005) “Thể hiện mạch lạc theo quan hệ nguyên nhân và
quan hệ lập luận trong một số văn bản hành chính (cấp cơ sở)”; Trần Thị
Thùy Linh (2011) “Mô hình lập luận ưa dùng trong các diễn ngôn quảng
cáo”…
1.1.2. Vấn đề nghiên cứu lập luận của nhân vật trong các văn bản nghệ thuật
Tiếp cận lập luận dựa trên các văn bản nghệ thuật là một vấn đề mà rất
nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Với cách tiếp cận này các nhà nghiên cứu có
thể: góp phần làm rõ được lí thuyết lập luận vừa có thể làm giàu và sáng văn
học dân tộc; thể hiện nhân vật, tác giả văn học; làm sáng rõ con người thời
đại, vẻ đẹp thời đại. Có thể kể đến một số tác giả với một số công trình nghiên
cứu các văn bản nghệ thuật từ phương diện lập luận như: Lê Huy Bắc (2005)
“Khai thác kĩ năng lập luận trong “Đi bộ ngao du” (Ngữ văn 8)”; Lê Thị
Kim Cúc (2007) “Tìm hiểu cách lập luận của Nguyễn Khuyến trong bài thơ
“Bạn đến chơi nhà”; Trần Trọng Nghĩa (2011) “Một số phương thức lập luận

thỏa thuận trong quá trình giao tiếp; nó thường không qui thức và không
theo kế hoạch định trước”, (Conversation is discourse mutually constructed
and negotiated in time between speakera; it is usually informal and
unplanned) [80, tr.28]. E.A. Schegloff lại coi hội thoại là hình thức phổ
biến nhất và cũng là môi trường cơ bản nhất cho việc sử dụng ngôn ngữ và
diễn ngôn. [92, tr.283]
Tại Việt Nam, vấn đề hội thoại cũng rất được quan tâm: Nguyễn Thiện
Giáp trong “Dụng học Việt ngữ” cho rằng: “Hội thoại là hành động giao tiếp
phổ biến nhất, căn bản nhất của con người”. Tác giả nhấn mạnh tới tính chất

16


hai chiều, tương tác trong hội thoại: “Đó là giao tiếp hai chiều, có sự tương tác
qua lại giữa người nói và người nghe với sự luân phiên lượt lời” [28, tr.64].
Đỗ Hữu Châu nhận định về hội thoại như sau: “Hội thoại là hình thức
giao tiếp thường xuyên và phổ biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở
của mọi hoạt động ngôn ngữ khác.” [8, tr.201]
1.2.1.2. Vận động hội thoại
Mỗi cuộc hội thoại nào cũng được diễn ra với ba vận động chủ yếu: vận
động trao lời, vận động trao đáp và vận động tương tác. Ba vận động trao lời,
trao đáp và tượng tác là ba vận động đặc trưng của hội thoại trong đó vận
động trao lời và vận động trao đáp do từng đối tác thực hiện nhằm phối hợp
với nhau thành vận động tương tác. Tương tác là tác động chủ yếu trong hội
thoại cho nên ngữ dụng học hội thoại còn được gọi là ngữ dụng học tương tác.
1.2.1.3. Quy tắc hội thoại
Hội thoại diễn tiến theo những quy tắc nhất định. Những quy tắc này
tuy không bắt buộc chặt chẽ như những quy tắc ngữ pháp nhưng bất cứ người
nào muốn trò chuyện bằng lời một cách thành thục cũng phải tôn trọng nó.
C.K. Orecchioni đã nêu tính chất các quy tắc hội thoại, đồng thời chia các quy

Cặp thoại (cặp trao đáp) (exchange): “Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại
(do hai nhân vật góp phần xây dựng) nhỏ nhất tạo nên đoạn thoại và qua
đoạn thoại mà góp phần tổ chức nên cuộc thoại.”[8, tr. 320]
Tham thoại (intervention): Tham thoại là “phần đóng góp của từng
nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định” [8, tr.316]. Tham thoại là đơn
vị cơ sở tạo nên cuộc thoại. Trường hợp điển hình nhất là tham thoại do một
nhân vật hội thoại nói ra và được hồi đáp bằng tham thoại của một nhân vật
khác. Trong một cặp thoại, thường có các tham thoại sau: 1/ Tham thoại dẫn
nhập (tham thoại chủ hướng); 2/ Tham thoại hồi đáp – dẫn nhập trong lòng
cặp thoại; 3/ Tham thoại hồi đáp (thường là tham thoại kết thúc cặp thoại).
Chức năng của tham thoại dẫn nhập là chức năng ở lời quy định quyền lực và
trách nhiệm đối với nhân vật hội thoại. Các chức năng ở tham thoại dẫn nhập
18


là: yêu cầu thông tin, yêu cầu được tán đồng, ủng hộ, thỉnh cầu… Chức năng
của tham thoại hồi đáp là chức năng ở lời nhằm đáp lại chức năng ở tham
thoại dẫn nhập. Các chức năng ở tham thoại hồi đáp có thể chia thành hai
nhóm: chức năng hồi đáp tích cực và chức năng hồi đáp tiêu cực. Khi một
tham thoại hồi đáp cho tham thoại dẫn nhập thứ nhất thì nó tự khắc trở thành
một tham thoại đòi hỏi sự hồi đáp của người đối thoại.
Hành vi ngôn ngữ: là đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp hội thoại. Vai trò
của hành vi ngôn ngữ nằm trong mối quan hệ giữa các lời thoại tổ chức nên
tham thoại, cặp thoại… và tác động liên tục lên các nhân vật hội thoại trong
từng thời điểm tạo nên cuộc thoại. Hay nói cách khác, vai trò của hành vi
ngôn ngữ nằm trong mạng lưới hội thoại.
1.2.1.5. Nghĩa hàm ẩn và nghĩa tường minh
Trong giao tiếp, người nói nhận thấy có những thông tin mà người nghe
đã biết. Vì coi đó là những thông tin đã biết nên nói chung những thông tin như
thế không được nói ra. Do đó đây sẽ là một phần của cái được thông báo mà

nhằm tạo ra những tác động nhất định đối với người tiếp nhận. Đó là kết quả
của một quá trình tư duy, gắn liền với hoạt động nhận thức của con người.
Kết quả ấy được biểu thị qua các hình thức của ngôn ngữ.
Tác giả Đỗ Hữu Châu khi xem xét lập luận cho rằng thuật ngữ “lập
luận” được hiểu theo hai nghĩa: “Thứ nhất, nó chỉ sự lập luận tức là hành vi
lập luận. Thứ hai, nó chỉ là sản phẩm của hành vi lập luận tức toàn bộ cấu
trúc của lập luận cả về nội dung và hình thức.” [7, tr.19]. Với quan niệm trên,
bản chất lập luận là một hoạt động của ngôn ngữ được biểu hiện qua cả
phương diện nội dung và cấu trúc hình thức. Bởi trong ngôn ngữ, lập luận
được xem là một chiến lược hội thoại mà con người thực hiện nhằm dẫn dắt
người tiếp nhận đi tới một nhận thức hoặc một kết luận nào đó mà người tạo
lập muốn đạt được. Các nhà Việt ngữ học: Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban,
Cù Đình Tú cũng từng khẳng định: “Lập luận là đưa ra một hoặc một số luận
cứ nhằm dẫn dắt người đọc, người nghe đến một kết luận nào đấy mà người
20


nói, người viết muốn diễn đạt tới”. [6, tr.79]. Hay nói một cách cụ thể hơn thì
lập luận là cách mà con người: “đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe
đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt
tới” [8, tr.155].
Như vậy, với tư cách là một bình diện của hành động ngôn ngữ, lập luận
là yếu tố giúp con người tạo thành phát ngôn cụ thể để hiện thực hóa nhận thức.
Vì thế, khi xem xét lập luận, các nhà ngôn ngữ học thường tập trung tìm hiểu:
cấu trúc hình thức của lập luận, mối quan hệ giữa lập luận với thực tế khách
quan, với dụng ý của người tạo lập luận và từ đó đánh giá biểu hiện của hành
động ngôn ngữ. Vì vậy, khi tìm hiểu về lập luận, chúng ta cần xem xét nó trên
các bình diện của hành động ngôn ngữ (như mục đích và hình thức) được con
người thực hiện khi giao tiếp. Từ đó, chúng ta sẽ hiểu đúng về cấu trúc, ý nghĩa
của hoạt động giao tiếp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status