VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
CHU THỊ THÙY PHƢƠNG
LẬP LUẬN TRONG HỘI THOẠI CỦA NHÂN VẬT
(QUA TƢ LIỆU VĂN XUÔI VIỆT NAM,
GIAI ĐOẠN 1930 - 1945)
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 62.22.02.40
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI - 2016
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Phạm Văn Tình
Phản biện 1: GS.TS. Nguyễn Thiện Giáp
Phản biện 2: GS. TS. Lê Quang Thiêm
Phản biện 3:PGS.TS. Hà Quang Năng
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại
Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 477
Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.
Vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Lập luận trong hội thoại của
nhân vật (qua tư liệu văn xuôi Việt Nam, giai đoạn 1930-1945)”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu lập luận của nhân vật trong hội thoại (qua tư liệu văn xuôi
Việt Nam, giai đoạn 1930-1945), luận án nhằm chỉ ra đặc điểm cấu trúc hình
thức, phạm vi sử dụng của lập luận của từng nhóm nhân vật trong hội thoại
1
dưới cách nhìn của ngữ dụng học và phân tích diễn ngôn phê phán. Từ đó, luận
án làm rõ đặc điểm nổi bật của từng nhóm nhân vật trong việc sử dụng lập luận
ở các cuộc hội thoại.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
1/ Tổng quan được tình hình nghiên cứu về lập luận trên thế giới, ở Việt
Nam để thấy được vị trí và vai trò của lập luận trong việc nghiên cứu ngôn ngữ nói
chung và ứng dụng trong nghiên cứu các tác phẩm văn học nói riêng. Từ đó, tìm
hiểu những vấn đề lí thuyết liên quan đến đối tượng đề tài quan tâm như: lập luận
trong ngữ dụng học; lập luận trong phân tích diễn ngôn; lập luận trong hội thoại ở
văn bản nghệ thuật.
2/ Khảo sát, thống kê, phân thoại các cuộc thoại chứa lập luận của các
nhóm nhân vật (quan lại, địa chủ, nông dân, trí thức) trong các văn bản nghệ thuật
(văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945).
3/ Phân tích, mô hình hóa cấu trúc lập luận của các nhóm nhân vật khảo
sát theo lí thuyết lập luận.
4/ Phân tích và chỉ ra các lẽ thường đặc trưng trong sử dụng; các đặc điểm
từ ngữ được sử dụng trong các lập luận của từng nhóm nhân vật. Từ đó, luận án
góp phần vào việc làm rõ vai trò của lập luận khi tham gia vào quá trình điển hình
hóa nhân vật trong tác phẩm và làm nổi bật phong cách nhà văn.
2/ Phương pháp miêu tả
3/ Phương pháp liên ngành
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án cung cấp một số cứ liệu về đặc điểm của các phương tiện ngôn
ngữ trong giao tiếp nói chung, trong lập luận nói riêng. Kết quả nghiên cứu của
luận án có thể góp phần phát triển nghệ thuật hùng biện.
- Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng vào việc xây dựng, tăng cường
kĩ năng giao tiếp hay phục vụ cho việc nghiên cứu giảng dạy Ngữ dụng học, Ngôn
ngữ học, Phân tích diễn ngôn..
- Kết quả của luận án có thể được dùng để tham khảo cho giáo viên, học
sinh trong việc phân tích nhân vật văn học nói riêng, phong cách nhà văn nói
chung. Đồng thời, giúp cho việc rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, khả năng tư
duy và lập luận bằng ngôn ngữ của học sinh trong nhà trường.
6. Ý nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lí luận
3
Nghiên cứu lập luận là một nội dung quan trọng của Ngữ dụng học. Luận án
góp phần làm rõ lí luận về lập luận của ngôn ngữ nói chung và lập luận của nhân vật
trong hội thoại qua các tác phẩm văn học nói riêng. Kết quả của luận án đóng góp
thêm ý kiến cho việc nghiên cứu ngôn ngữ ở phương diện hành chức thông qua thao
tác tạo lập lập luận và chuỗi lập luận.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận án hướng đến các lập luận của nhân vật trong hoạt động giao tiếp của
ngôn ngữ trên văn bản. Đó cũng là phương diện thể hiện việc hành chức của ngôn ngữ.
Việc xem xét lập luận của các nhóm nhân vật (địa chủ, phong kiến, nông dân và trí
thức) sẽ góp phần làm rõ đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của nhân vật; làm sáng tỏ nhân
vật và từ đó khẳng định tài năng của nhà văn. Đây sẽ là cơ sở cho việc phân tích nhân
ông ta là Tisias nói trước tòa. Cũng ở thế kỷ này, một trong những công trình
nghiên cứu đầu tiên về lập luận cũng đã xuất hiện trong tác phẩm “thuật tranh
biện” của Protago - một học giả ngụy biện nổi tiếng của Hy Lạp.
Nửa sau thế kỷ XX, lí thuyết lập luận được quan tâm trở lại. Mở đầu là
những công trình của Perelman C., Olbrechts – Tyteca (1969), “Traité de
l’argumentation – La Nouvelle Rhétorique” và của Toulmin S. (1958/2003), “The
use of argument”. Sau đó là “De la logique à I’argumentation” (Từ logic tới sự lập
luận) của Grize. Trong mấy chục năm gần đây, lĩnh vực nghiên cứu về lập luận đã
có sự phát triển và chuyển biến mạnh mẽ.
Trước hết đó là những công trình của hai tác giả Pháp Ducrot O. (1973)
“Les Echelles argumentatives” (Sự lập luận – trong ngôn ngữ) và Anscomber J.c
“Logique, structure, énonciation. Lectures sur le langage” (Logic, cấu trúc, sự phát
ngôn: Những bài giảng về hoạt động ngôn ngữ, Minuit, 1989) đã đưa ra những kiến
giải mới, căn bản và độc đáo về lí thuyết lập luận trong ngôn ngữ. Trong công
trình, các tác giả đã chú ý tới: 1/ Hiện tượng đa thanh khi phân biệt người nghe với
người tiếp nhận, người nói với chủ ngôn, 2/ Những kết tử và tác tử trong lập luận.
Hướng nghiên cứu này gặt hái được nhiều kết quả thú vị, bất ngờ và hiện nay đang
được nhiều người quan tâm.
Lập luận theo logic hình thức: Frans van Eemeren và Rob Grootendorts –
hai nhà ngôn ngữ học Hà Lan năm 1984 - lần đầu tiên đưa ra quan điểm ngữ dụng biện chứng. Hai công trình được nhìn nhận là dấu ấn trong giới nghiên cứu ngôn
ngữ. Các nhà nghiên cứu logic học quan tâm về lĩnh vực này là: “Argumentation,
Communication and fallacies: A pragma – dialectical perspective” (Lập luận,
5
thông tin và những suy luận sai lầm: một viễn cảnh ngữ dụng – biện chứng) (1992).
Sau đó, công trình được trình bày đầy đủ và hệ thống sau 12 năm trong “A
systematic theory of argumentation: The pragma – dialectical approach” (Một lí
thuyết hệ thống về lập luận: Cách tiếp cận ngữ dụng - biện chứng) (2004).
phương diện của đời sống xã hội như: tòa án, văn hóa… như: Lê Tô Thúy Quỳnh
(2000); Hồ Bạch Thảo (2006); Trần Thị Linh (2011) …
Có thể thấy, việc tìm hiểu lập luận từ phương diện lí thuyết đến phương
diện ứng dụng thực tiễn đã dành được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên với việc
khẳng định vị thế của mình trong hệ thống lí thuyết ngôn ngữ, lập luận vẫn là một
đối tượng mới mẻ, là mảnh đất màu mỡ cho những ai quan tâm.
1.2. Cơ sở lí thuyết
1.2.1. Một số vấn đề về lí thuyết hội thoại
Khái niệm hội thoại: Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên và phổ
biến của ngôn ngữ, nó cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác.
Trong khuôn khổ của luận án chúng tôi chỉ trình bày những vấn đề lí
thuyết hội thoại là cơ sở trực tiếp cho quá trình nghiên cứu như: vận động hội
thoại; quy tắc hội thoại; cấu trúc hội thoại; nghĩa hàm ẩn và nghĩa tường minh.
1.2.2. Một số vấn đề về lập luận trong hội thoại
1.2.2.1. Lập luận và một số khái niệm liên quan
Khái niệm lập luận trong luận án là: Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn
dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói
muốn đạt tới.
1.2.2.2. Các thành phần trong cấu trúc lập luận
Trong một lập luận có ba bộ phận: luận cứ, kết luận (hay luận đề) và quan hệ
lập luận.
1.2.2.3. Chỉ dẫn lập luận
Chỉ dẫn lập luận là các dấu hiệu hình thức nhờ chúng người nghe nhận ra
được hướng lập luận và các đặc tính lập luận của các luận cứ trong một quan hệ
lập luận. Các chỉ dẫn lập luận gồm hai loại lớn: Các tác tử lập luận, các kết tử lập
luận và các dấu hiệu giá trị học.
1.2.2.4. Lí lẽ trong lập luận
Khái niệm: Lí lẽ được hiểu là lí lẽ chung, là hệ thống giá trị được xã hội
chấp nhận theo kinh nghiệm
1.2.3. Lập luận của nhân vật trong hội thoại
xác lập các đặc điểm nổi bật trong việc tổ chức và hoạt động của lập luận trong thể
hiện hình tượng nhân vật, thể hiện phong cách nhà văn và góp phần vào việc rèn
luyện kỹ năng lập luận cho người đọc, người học.
8
Chƣơng 2
MỘT SỐ KIỂU CẤU TRÚC LẬP LUẬN
CỦA NHÂN VẬT TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM
(qua tƣ liệu văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 )
2.0. Đặt vấn đề
2.1. Đặc điểm cấu trúc lập luận của nhân vật trong hội thoại (qua tƣ liệu
văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945)
2.1.1. Cơ sở khảo sát
2.1.1.1. Độ dài văn bản của lập luận
Dù được cấu tạo với độ dài văn bản khác nhau nhưng mỗi lập luận đều hướng
đến tính thuyết phục, định hướng, dẫn dắt… người đối diện nhằm đạt hiệu quả giao
tiếp.
2.1.1.2. Tính mạch lạc của lập luận
Trong tổ chức lập luận có sự liên kết của nhiều chủ đề. Sự có mặt của
nhiều chủ đề trong hội thoại và trong lập luận phần nào làm cho lập luận trở nên
chặt chẽ, thuyết phục hơn.
2.1.1.3. Cách khảo sát tư liệu
2.1.2. Đặc điểm cấu trúc lập luận chung của nhân vật trong hội thoại
Một lập luận đầy đủ bao giờ cũng có hai thành phần là: luận cứ (p, q) và kết
luận (r). Mô hình đầy đủ của một lập luận như sau:
L = p,q - >
Trong đó: L: lập luận
L= p
r
q
Dạng 2 (vắng kết luận): L = p, q
Trong đó:
-> Ø
L: lập luận
p,q: luận cứ
Ø: rỗng
->: chỉ quan hệ lập luận
Nhận xét: Lập luận có cấu trúc đầy đủ xuất hiện trong các cuộc giao tiếp
giữa nhân vật thuộc tầng lớp thống trị và nhân vật thuộc tầng lớp bị trị trong các
hoàn cảnh như: trao đổi mua bán, thuyết phục vay tiền, dụ dỗ làm việc xấu… Đối
với nhân vật cùng tầng lớp thống trị, lập luận có cấu trúc đầy đủ được nhân vật sử
dụng trong những hoàn cảnh: tâm sự chuyện quan trường, chuyện gia đình, chạy
án… Lập luận có cấu trúc không đầy đủ xuất hiện trong các cuộc giao tiếp mang
tính đời thường, ít có tính tranh biện.
2.1.2.2. Cấu trúc đơn và cấu trúc phức
Lập luận có cấu trúc đơn là lập luận có cấu tạo chỉ gồm một kết luận. Lập
luận có cấu trúc phức là các lập luận mà trong đó kết luận là một tổ hợp đồng loại
2.2. Tác tử và kết tử lập luận trong lập luận của nhân vật trong văn xuôi
Việt Nam thời kỳ 1930 -1945
Thông qua những yếu tố ngôn ngữ, các lập luận được đánh dấu. Những
yếu tố đó được gọi là các chỉ dẫn lập luận (các tác tử và kết tử lập luận). Các chỉ
dẫn lập luận là những yếu tố nhờ đó mà chúng ta biết được giá trị lập luận và quan
hệ lập luận của các luận cứ và kết luận.
2.2.1. Tác tử lập luận
Đóng vai trò là các yếu tố tình thái, khi có mặt trong một lập luận, tác tử
lập luận sẽ làm thay đổi giá trị của nội dung miêu tả trong lập luận và thay đổi giá
trị của lập luận đó.
2.2.1.1. Tác tử lập luận trong lập luận của nhân vật thuộc tầng lớp bị trị
Thứ nhất: Tác tử “chỉ”, “chỉ…thế kia”… làm thay đổi nội dung miêu tả
hướng nội dung miêu tả về phía “ít”, “duy nhất”, “hạn chế”.
Các tác tử “chỉ”, “chỉ… thế kia”, “chỉ vì”, “chỉ những”… trong lập luận
của nhân vật bị trị được dùng khá phổ biến. Tuy nhiên khi đối đáp với tầng lớp
thống trị, các tác tử này được dùng với tần số cao hơn.
Thứ hai: Các tác tử “đã”, “mới”, “đã… đâu mà”, “lại còn”… làm thay đổi
giá trị lập luận của cùng một nội dung miêu tả biến nó thành những luận cứ nghịch
hướng.
Nhóm tác tử này được dùng nhiều trong giao tiếp sinh hoạt giữa những đối
tượng trong nhóm (cùng là nông dân hoặc cùng là trí thức).
11
Thứ ba: Các tác tử “chính là”, “chính”… làm cho luận cứ có tính khẳng
định cao và hướng đến kết luận có tính khẳng định.
Các tác tử ở nhóm trên được nhân vật bị trị sử dụng trong những cuộc thoại là
đối tượng cùng cấp. Tức là nhân vật cùng là nông dân hoặc cùng là trí thức. Đặc biệt,
nhân vật trí thức sử dụng khá nhiều nhóm tác tử này khi trao đổi, tranh luận.
12
Mô hình: p - > r r
* Kết tử lập luận trong cấu trúc dạng biến thể của lập luận
- Kết tử nghịch hướng của lập luận trong cấu trúc dạng biến thể của lập luận
- Dạng biến thể đảo vị trí
r Ø
(vắng kết luận, chỉ có luận cứ p và q)
2.3. Lập luận của nhân vật trong văn xuôi giai đoạn 1930-1945 xét từ
phƣơng diện quan hệ lập luận
Khi xét mối quan hệ trong lập luận tức là xét đến mối quan hệ giữa các
luận cứ (p, q) và kết luận (r). Trong các luận cứ, có những luận cứ phục vụ cho r và
hướng tới r – đó là các luận cứ đồng hướng, kí hiệu:
p, q -> r
Có những luận cứ lại hướng đến sự phủ định r, kí hiệu là:
p, q -> -r
Trong một lập luận, các luận cứ có thể cùng phạm trù hoặc có thể không
cùng phạm trù với nhau. Xét theo quan hệ định hướng lập luận thì các luận cứ có
hiệu lực lập luận khác nhau với kết luận r. Thông thường luận cứ có hiệu lực lập
luận mạnh được đặt sau luận cứ với hiệu lực lập luận yếu hơn. Hướng lập luận là
do luận cứ có hiệu lực lập luận mạnh nhất quy định.
2.3.1. Luận cứ trong lập luận của nhân vật thuộc tầng lớp bị trị
2.3.1.1. Luận cứ đồng hướng trong lập luận
14
hội nhằm thu lại lợi ích cho bản thân.
2.3.2.2. Luận cứ nghịch hướng trong lập luận
15
- Các luận cứ p và q của lập luận được kết nối với nhau thông qua các kết
tử nghịch hướng (nhưng, song). Luận cứ p thường là những luận cứ có tính chất
thuật thông tin, sự kiện. Luận cứ q lại thường là sự phủ định có tính chất khẳng
định cho lập luận. Kết luận thường là những nhận định, đánh giá, hệ quả được rút
ra từ hướng lập luận của luận cứ q. Việc xác định luận cứ p và q nghịch hướng
thông qua từng tổ chức lập luận trong lời thoại của nhân vật.
2.4. Tiểu kết chƣơng 2
1. Cấu trúc chung của lập luận của nhân vật được xem xét theo hai tiêu chí
lớn: thứ nhất: cấu trúc đầy đủ và cấu trúc không đầy đủ; thứ hai: cấu trúc đơn và
cấu trúc phức. Các kiểu cấu trúc này đều xuất hiện trong lập luận của 260 nhân vật
trong 46 tác phẩm văn xuôi thời kỳ 1930-1945. Tuy nhiên ở mỗi hệ thống nhân vật
ngoài các cấu trúc chung còn có những cấu trúc riêng. Việc sử dụng các cấu trúc
lập luận riêng làm nên nét đặc thù trong cấu trúc lập luận của từng hệ thống nhân
vật.
2. Trên cơ sở xác định các cấu trúc chung của lập luận cho thấy lập luận có cấu
trúc đầy đủ không đồng nhất giữa các nhóm đối tượng khảo sát: nhân vật thuộc tầng lớp
bị trị có cấu trúc lập luận đầy đủ xuất hiện ở tần số cao (57.3%) so với tổng số cấu trúc
đầy đủ khảo sát; nhân vật thuộc tầng lớp thống trị có cấu trúc lập luận đầy đủ xuất hiện
ít hơn. Các lập luận có cấu trúc đầy đủ xuất hiện trong lập luận của từng nhóm đối
tượng gắn với hoàn cảnh giao tiếp riêng. Thông qua các chủ đề, hoàn cảnh và tương tác
giữa các đối tượng, cấu trúc đầy đủ có những dạng thức khác nhau. Đồng thời qua các
dạng thức trên phản ánh cách tư duy và tổ chức ngôn ngữ của từng nhóm đối tượng.
Các lập luận có cấu trúc không đầy đủ xuất hiện trong nhiều lập luận của nhân
vật thuộc tầng lớp bị trị trong rất nhiều các hoàn cảnh từ trong gia đình đến trên công
chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
- Thứ nhất: Lập luận của nhân vật xét theo tiêu chí bối cảnh thì các nhân vật
thuộc giai cấp thống trị ít xuất hiện ở những bối cảnh có tính xã hội đời thường.
- Thứ hai: Khi xem xét nội dung giao tiếp thì tỉ lệ xuất hiện lập luận trong các
nội dung là không đồng đều giữa nhân vật địa chủ và nhân vật nông dân. Điều này
một phần phản ánh sự đối kháng hai tầng lớp thông qua nội dung giao tiếp.
- Thứ ba: Khi xem xét lập luận trên phương diện vị thế của người nói với người
nghe, chúng tôi nhận thấy có sự phân định của khái niệm “quyền lực” trong ngôn ngữ
nói chung và trong cách tổ chức lập luận nói riêng.
17
3.2. Lập luận của nhân vật trong văn xuôi giai đoạn 1930-1945 xét từ
phƣơng diện vai giao tiếp
3.2.1. Một số lí thuyết về vai giao tiếp
3.2.2. Lập luận của nhân vật địa chủ và quan lại xét từ phương diện vai
giao tiếp
Từ góc độ các vai giao tiếp, chúng tôi nhận thấy: nhân vật địa chủ và quan
lại xác lập rất nhiều các vai khác nhau trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất
định. Từ cung bậc trọng thị cho đến thân tình và suồng sã, thậm chí là thô tục.
Đồng thời theo đó các cấu trúc lập luận có sự thay đổi: các lập luận đơn thường sử
dụng các cuộc thoại có tính quyền lực cao (đặc biệt nhân vật quan lại). Nhân vật địa
chủ sử dụng các lập luận đơn và phức khá đa dạng trong tất cả các cuộc giao tiếp.
3.2.3. Lập luận của nhân vật nông dân và trí thức từ góc độ vai giao tiếp.
Nhân vật nông dân thường chỉ sử dụng các lập luận có cấu trúc đơn ở dạng
chuẩn. Trừ một số trường hợp nhân vật nông dân thể hiện tư duy tình cảm ở vào thế
bế tắc.
Nhân vật trí thức có vị thế nhất định trong xã hội. Trong giao tiếp thông qua
việc định vai, các nhân vật trí thức lựa chọn các lập luận sing giữa cấu trúc đơn và
Lẽ thường ngoại tại là những bằng chứng bằng giấy tờ, quy định của làng xã
Đó là các quy định được ghi trong hương ước, trong giấy tờ được xác thực
như: đó là giấy chứng nhận còn tân của thị Mịch: “Đây là giấy nhận thực của viên
Y sĩ, giấy nhận thực cho thị Mịch” hay đó là quy định trong hương ước làng xã:
“những người ngụ cư ba đời mới được "thành tổ". Nghĩa là được ngang hàng với
mọi người khác. "Làng này lại ngặt hơn nữa, từ xưa đến giờ họ không cho một
người ngoài nào nhập bạ”…
Lẽ thường ngoại tại là sự việc hiển nhiên ai cũng công nhận - lẽ thường
đặc thù của dân tộc
Lẽ thường thang độ: Bao trùm lên lẽ thường thang độ đó là lẽ thường có tính
chất vừa cụ thể nhưng có tính khái quát cao.
3.3.2.2. Lẽ thường đặc thù trong lập luận của nhân vật
a. Lẽ thường đạo đức
b. Lẽ thường quyền uy
3.4. Vai trò của các lẽ thƣờng trong lập luận của nhân vật
3.4.1. Thể hiện chiều sâu văn hóa, đạo đức xã hội, dân tộc nằm trong
ngôn ngữ
19
Giữa ngôn ngữ và văn hóa có mối quan hệ biện chứng. Có thể dùng văn hóa
để lý giải ngôn ngữ và ngược lại những đặc trưng văn hóa sẽ được nhận diện thông
qua ngôn ngữ.
3.4.2. Lẽ thường thể hiện ứng xử trong quan hệ trong gia đình
Lẽ thường thể hiện ứng xử trong quan hệ cha/ mẹ - con
Lẽ thường thể hiện trong quan hệ vợ chồng
3.4.3. Lẽ thường thể hiện ứng xử trong quan hệ giai tầng
Lẽ thường thể hiện ứng xử trong quan hệ cùng giai tầng
Lẽ thường thể hiện trong ứng xử giữa các tầng lớp trong xã hội
vật khi xác định vai đều định cho mình các tổ chức lập luận mang dấu ấn riêng. Với
sự đan xen của rất nhiều vai, mỗi nhân vật lựa chọn cho mình các tổ chức lập luận
nổi bật. Nhân vật địa chủ, quan lại thường sử dụng các lập luận có cấu trúc phức khi
đối thoại cùng tầng lớp. Khi đối thoại khác tầng lớp, nhân vật quan lại, địa chủ
thường sử dụng các lập luận có cấu trúc đơn, tác tử, kết tử và lẽ thường ít được vận
dụng. Tuy nhiên nhiều trường hợp nhân vật quan lại, địa chủ sử dụng các cấu trúc
phức, tác tử, kết tử và lẽ thường đa dạng nhằm mục đích riêng của bản thân.
KẾT LUẬN
1. Dựa trên cơ sở lí thuyết của phân tích diễn ngôn phê phán, luận án đã
chỉ ra cấu trúc hình thức của lập luận trên hai phương diện là độ dài văn bản và tính
mạch lạc của lập luận. Việc xác định về mặt hình thức độ dài văn bản (1 câu, 2 câu
hoặc 3 câu) của lập luận, luận án bước đầu xác định khung cấu trúc của lập luận,
ứng với đó là khu biệt lập luận của từng nhóm nhân vật. Tùy theo mục đích, nội
dung và nhân vật, lập luận có độ dài văn bản khác nhau và chuyển tải nội dung
khác nhau. Nhân vật thuộc tầng lớp bị trị thường sử dụng lập luận có cấu trúc độ
dài một câu. Nhân vật thuộc tầng lớp thống trị sử dụng chủ yếu lập luận có cấu trúc
độ dài từ hai câu trở lên. Mặt khác, thông qua độ dài văn bản của lập luận cũng thể
hiện bước đầu tính mạch lạc của các lập luận. Tùy mục đích, nội dung, hoàn cảnh,
nhân vật trong cuộc thoại, các đối tượng lựa chọn hình thức diễn đạt và thể hiện sự
mạch lạc.
2. Luận án đã đi sâu phân tích cấu trúc tổ chức lập luận của các nhóm nhân
vật trên hai phương diện: cấu trúc chung và cấu trúc bộ phận của lập luận. Xét trên
phương diện cấu trúc chung, luận án xem xét ở hai tiêu chí: 1/ cấu trúc đầy đủ và
21
cấu trúc không đầy đủ; 2/ cấu trúc đơn và cấu trúc phức của từng nhóm nhân vật.
Trong 46 tác phẩm với 260 nhân vật xuất hiện các cấu trúc lập luận trên, luận án
3. Một trong những tiền đề giúp cho lập luận trở nên chặt chẽ và thuyết
phục là các chỉ dẫn lập luận. Khi xem xét các chỉ dẫn lập luận, luận án đi sâu phân
tích các tác tử lập luận (mới, chỉ, ít, những…) và kết tử lập luận (vả, vả lại, mà lại
còn…). Trên cơ sở phân nhóm và xác định các tác tử lập luận và kết tử lập luận
điển hình, luận án phân tích và mô hình hóa cấu trúc lập luận có chứa chỉ dẫn lập
luận theo hướng các tác tử và kết tử đồng hướng và nghịch hướng. Luận án xác
định các mô hình cấu trúc xuất hiện tác tử và kết tử trong lập luận trong lập luận
của từng nhóm nhân vật. Nhân vật thuộc tầng lớp bị trị sử dụng nhiều các tác tử và
kết tử đồng hướng với kết luận. Đồng thời các tác tử và kết tử này thường xuất hiện
ở mô hình lập luận dạng chuẩn (p, q -> r). Sự phối hợp các tác tử và kết tử trong lập
luận của nhân vật bị trị xuất hiện ít. Nhân vật thuộc tầng lớp thống trị sử dụng các
tác tử và kết tử trong lập luận ở tần số cao hơn. Sự phối hợp giữa các tác tử và kết
tử trong các lập luận cũng được tổ chức linh hoạt và gắn với những hoàn cảnh cụ
thể.
4. Khi xem xét lập luận từ quan hệ lập luận của từng tầng lớp (bị trị/ thống
trị), luận án xác định: Luận cứ đồng hướng của nhân vật thuộc tầng lớp bị trị không
có nhiều cấu trúc phức tạp như luận cứ đồng hướng của nhân vật thuộc tầng lớp
thống trị. Theo khảo sát, phân tích: luận cứ đồng hướng của nhân vật thuộc tầng lớp
bị trị thường là sự tương đồng nêu ý kiến, nhận định, giả định, liệt kê về một sự
việc, đối tượng nào đó; luận cứ đồng hướng của nhân vật thuộc tầng lớp thống trị
thường nghiêng về hướng miêu tả, khẳng định thông tin. Hiệu lực của lập luận nằm
ở cả hai luận cứ. Về luận cứ nghịch hướng trong lập luận đối với nhân vật thuộc
tầng lớp bị trị thì: luận cứ p thường có tính chất miêu tả, khẳng định một việc gì đó;
luận cứ q lại hướng đến việc thay đổi, chuyển hướng luận cứ p trên cơ sở các thực
tế; còn đối với nhân vật thuộc tầng lớp thống trị thì: luận cứ p thường là những luận
cứ có tính chất tường thuật thông tin, sự kiện; luận cứ q lại thường là sự phủ định
có tính chất khẳng định cho lập luận. Các kết tử “nhưng, song” làm nhiệm vụ kết
nối các luận cứ.
5. Khi xem xét các lập luận từ phương diện những lẽ thường, luận án khảo