Luận án Tiến sĩ Ngữ văn: Các loại hình cơ bản của truyện ngắn hiện đại (trên cơ sở cứ liệu truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945) - Pdf 59

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

NGUYỄN VĂN ĐẤU

CÁC LOẠI HÌNH CƠ BẢN
CỦA TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI
(TRÊN CƠ SỞ CỨ LIỆU TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930 – 1945)

Chuyên ngành : Lý thuyết và lịch sử văn học
Mã số

: 5.04.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS LA KHẮC HÒA

HÀ NỘI – 2001


MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA

Trang

LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC ................................................................................................................................. 2
MỞ ĐẦU.................................................................................................................................... 5
CHƯƠNG 1: ĐẶC TRƯNG VÀ VẤN ĐỀ LOẠI HÌNH HÓA TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI

3.2.2. Chi tiết nội tâm - chất liệu chủ yếu trong xây dựng nhân vật ...................................... 126
3.2.3. Xung đột nội tâm – cơ sở cho cấu trúc nhân vật. ......................................................... 131
3.3. Trần thuật trong “truyện ngắn - trữ tình hóa” ................................................................. 135
3.3.1. Chức năng gợi cảm của trần thuật ............................................................................... 135
3.3.2. Lời văn mô tả - thành phần cơ bản của trần thuật ........................................................ 139
3.3.3. Nguyên tắc “trùng điệp” trong trần thuật ..................................................................... 144
CHƯƠNG 4: LOẠI HÌNH “TRUYỆN NGẮN - TIỂU THUYẾT HÓA” .......................... 149
4.1. Cốt truyện trong “truyện ngắn - tiểu thuyết hóa”. .......................................................... 150
4.1.1. Chức năng phân tích và lý giải đời sống của cốt truyện .............................................. 150
4.1.2. Cái hàng ngày là chất liệu cơ bản trong xây dựng cốt truyện ...................................... 156
4.1.3. Nguyên tắc “mơ hồ hóa” trong xây dựng cốt truyện ................................................... 161
4.2. Nhân vật trong “truyện ngắn - tiểu thuyết hóa” .............................................................. 164
4.2.1. Nhân vật loại hình và nhân vật tính cách ..................................................................... 164
4.2.2. Sự phong phú, đa dạng của hệ thống chi tiết mô tả nhân vật ...................................... 168
4.2.3. Nguyên tắc kết hợp các mặt đối lập trong xây dựng nhân vật. .................................... 176
4.3. Trần thuật trong “truyện ngắn - tiểu thuyết hóa” ............................................................ 180
4.3.1. Chức năng phân tích, triết luận về đời sống của trần thuật. ......................................... 180
4.3.2. Sự đa dạng của lời trần thuật, điểm nhìn và giọng điệu trần thuật .............................. 183
4.3.3. Nguyên tắc “đối thoại” trong trần thuật ....................................................................... 187
KẾT LUẬN ............................................................................................................................ 192
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ............. 197
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................................... 198


5

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1 Bakhtin, nhà lý luận phê bình Nga nổi tiếng, cây đại thụ về lý luận thể loại đã từng
khẳng định rằng: “Thể loại phải là những nhân vật chính của tấn kịch lịch sử văn học… Lịch

Đây là đề tài có tính chất lý thuyết- lịch sử, dựa trên thành tựu truyện ngắn 19301945, giai đoạn mang tính bƣớc ngoặt từ cận đại sang hiện đại trong lịch sử phát triển truyện
ngắn Việt Nam. Ở một giai đoạn nhƣ thế, các đặc trƣng và loại hình của truyện ngắn thƣờng
có điều kiện bộc lộ một cách đầy đủ và rõ nét hơn. Do vậy đề tài sẽ có ý nghĩa nhất định với
các họa động sang tạo, nghiên cứu và giảng dạy văn học nói chung và thể loại truyện ngắn
nói riêng.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.
Vấn đề mà đề tài luận án đặt ra là khá rộng, có liên quan đến nhiều vấn đề lý luận
khách nhau về thể loại, trong đó có truyện ngắn Việt Nam và thế giới. Song với khả năng có
hạn và ứng với phạm vi cụ thể mà đề tài có thể giải quyết, chúng tôi chỉ xin điểm lại những
tác giả, những công trình, những bài viết tiêu biểu có liên quan mật thiết đến khái niệm, đặc
trƣng của truyện ngắn và một số vấn đề về loại hình truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 19301945, trong đó tập trung chủ yếu vào ba cây bút tiểu biểu nhất là Nguyễn Công Hoan, Thạch
Lam và Nam Cao. Đó là những đại diện xứng đáng cho ba loại hình mà luận án của chúng tôi
tập trung nghiên cứu.
2.1 Đã có rất nhiều tài liệu bàn về khái niệm và đặc trƣng của truyện ngắn, trong đó
phải kể đến các giáo trình lý luận văn học, từ điển văn học,


7
các loại sách “kinh nghiệm viết văn”, “sổ tay viết văn”, một số bài viết đăng trên các báo và
tạp chí…
Có các giáo trình tiêu biểu nhƣ Lý luận văn học của Gulaiep [55], Dẫn luận nghiên
cứu văn học của Pospelov [180], Lý luận văn học tập II [182], Lý luận văn học (do Hà
Minh Đức chủ biên) [48]…; có các Từ điển văn học [172], Từ điển thuật ngữ văn học
[173]... , các sách “kinh nghiệm” nhƣ Viết truyện ngắn của Antônôp [2], Đời viết văn của tôi
[94], Hỏi chuyện các nhà văn [95] của Nguyễn Công Hoan, Sổ tay người viết truyện ngắn
của Vƣơng Trí Nhàn [169], Nhà văn bàn về nghề văn [165], Tìm hiểu truyện ngắn của
Trần Thanh ĐỊch [42], Bình luận truyện ngắn của Bùi Việt Thắng [192], Những vấn đè thi
pháp của truyện (Nguyễn Thái Hòa) [76], Nghệ thuật viết truyện và ký [171]…;Có các bài
viết bàn về truyện ngắn nhƣ: Sự sáng tạo trong truyện ngắn của Vƣơng Trí Nhàn [159],
Đôi điều về truyện ngắn, Nghĩ về truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu [18], Cái khó của

giờ, phải đảm bảo “tính duy nhất về ấn tƣợng”, “tính tổng thể của hiệu quả” (Bandelaire)…
Về vai trò của truyện ngắn trong đời sống văn học hiện đại, các tác giả đều khẳng
định rằng truyện ngắn có khả năng rất lớn trong việc khám phá đời sống, bộc lộ tƣ tƣởng, tình
cảm và tài năng của nhà văn. Phađêep cho truyện ngắn “là một trong những thể tài văn học
khó nhất… nó là chỗ đánh dấu trình độ nghệ thuật của một nền văn học”. Kuranốp khẳng
định: “Một nền văn học chƣa đƣợc coi là hình thành nếu trong đó truyện ngắn không chiếm
một vị trí xứng đáng” [158, 118]. Còn theo Hoan Bôt sơ


9
thì Truyện ngắn “là một thứ giọt nƣớc mà không có nó, không thể có đại dƣơng” (Animatôp).
Do vậy, truyện ngắn “là trƣờng học tốt nhất luyenẹ cho nhà văn nhiều nết quý” (A. Tônxtôi,
Tô Hoài), “viết truyện ngắn là một công việc rất thiêng liêng” (Đỗ Chu), “truyện ngắn chứa
đựng phần vốn liếng lớn nhất của mỗi nhà văn, Nó đánh dấu thời kỳ ngòi bút anh đang sung
sức nhất, sức lực anh đang dồi dào nhất, là nơi anh gửi gắm đựoc nhiều tâm huyết trong cuộc
đời” [158, 36].
Về khả năng khám phá của truyện ngắn, các ý kiến đều cho truyện ngắn là một thể
loại văn học đặc biệt. Là hình thức tự sự cỡ nhỏ, nhƣng truyện ngắn luôn có “sức chứa” và
“sức mở” lớn: “sự sáng tạo trong truyện ngắn là không cùng” (Vƣơng Trí Nhàn): nội dung
của nó “khơi mãi không hết” (Xaroyan): ở truyện ngắn “có sự kết hợp yếu tố năng động, khả
năng nhạy bén với một cái nhìn rất mới mẻ đối với cuộc sống” (Antônôp); nó “cô đọng và
nhanh gọn, hợp với cách nghĩ và nhịp sống của thời hiện đại” (Nguyễn Kiên)…
Ở phạm vi và cách thức phản ánh đời sống của truyện ngắn, có hai loại ý kiến khác
nhau. Một loại thiên về cách “cƣa lấy một khúc” (Tô Hoài); tìm đến “cái mô măng”, “cái
chốc lát” của cuộc sống (Nguyễn Thành Long); tập trung phản ánh “một trƣờng hợp, một tình
thế, một trạng thái tâm lý, một sự kiện, một vấn đề... ” (Nguyễn Kiên, Nguyễn Công Hoan,
Gulaiep…) Loại ý kiến khác cho rằng truyện ngắn “không nhất thiết phải trói buộc vào
những khuôn mẫu gò bó. Có truyện viết về cả một đời ngƣời. Lại có truyện chỉ ghi lại một
giây phút thoáng qua” (Nguyên Ngọc). Truyện ngắn “cho phép các tác giả của nó tồn tại ở
nhiều cung bậc” (Vƣơng Trí Nhàn). Có một số nhà văn Nga nhƣ Rekemsúc và Tơriphônốp


11
(Đỗ Chu); là “ luôn đòi hỏi chính xác đến từng chi tiết” (Rekemsue). Trong truyện ngắn,
“cũng y nhƣ trên boong tầu quân sự, tất cả đều phải đâu vào đấy” (Sêkhốp) và “truyện ngắn
cần phải viết làm sao để ngƣời ta không bổ sung vào đó chút gi, cũng không thể rút bớt ra
chút gì hết” (Môôm). Còn theo Ơconner, một truyện “là một cách nói điều mà không thể nói
bằng cách khác, và mỗi từ đƣợc viết ra phải là tất yếu cho việc biểu hiện cái ý nghĩa đó”
[173, 171].
Nhƣ vậy, có thể nói, ý kiến về truyện ngắn với tƣ cách một thể loại văn học hiện đại là
rất phong phú và tƣơng đối thống nhất ở những đặc điểm cơ bản. Các tác giả đều nhấn mạnh
vai trò quan trọng và khả năng khám phá đời sống của truyện ngắn trong tƣơng quan với các
thể loại văn học khác. Từ đó, những vấn đề cụ thể trong xây dựng truyện ngắn cũng đƣợc đề
cập với thiên hƣớng chung là khẳng định vai trò của các yếu tố này trong việc thể hiện phong
cách và tài năng sang tạo của nhà văn. Những ý kiến trên đa số thuộc về các nhà văn có nhiều
duyên nợ với truyện ngắn nên thƣờng sinh động và sâu sắc, nhƣng cũng không tránh khỏi có
lúc cực đoan, phiên diệu. Trong đời sống văn học hiện đại, không thể phủ nhận vai trò quan
trọng của truyện ngắn. Nhƣng cần phải thấy rằng các thể loại khác cũng có những thế mạnh
riêng phù hợp với “mảnh đất” đã giúp cho nó tồn tại và phát triển. Những ý kiến trên đã chỉ
ra đƣợc đặc trƣng của truyện ngắn gắn liền với quy mô tác phẩm là chủ yếu. Và theo chúng
tôi, để có cái nhìn toàn diện về thể loại này cần quan tâm hơn đến tính hiện đại của thể loại do
nguyên tắc tƣ duy tiểu thuyết mang lại và tính đa dạng về loại hình do cấu trúc, chức năng thể
loại quy định. Đó cũng chính là vấn đề mà luận án của chúng tôi sẽ đi sâu giải quyết.
2. 1. 2. Trình bày kinh nghiệm viết truyện ngắn.
Loại ý kiến này thƣờng là của các cây bút truyện ngắn có nhiều thành tựu. Để minh
họa cho những nhận xét mang tín khái quát về thể loại, họ trình


12
bày lại quá trình viết các tác phẩm và từ đó rút ra kinh nghiệm, bài học cho sáng tác. Ở đây,
chúng ta có thể gặp lại các nhà văn tiêu biểu của Việt Nam và thế giới: Tô Hoài và Nguyễn

“nghệ thuật vì nhân sinh” ở nƣớc ta của Hải Triều [211], Kép Tƣ Bền của Nguyễn Công
Hoan của Tƣờng Lam – Phú Xuân Hội [128]. Phê bình Kép Tƣ Bền của Trần Hạc Đình [43].
CÒn về Thạch Lam, có hai bài viết của Thế Lữ: Tính cách tạo tác của Thạch Lam [138] và
Lời giới thiệu của Khái Hƣng về tập truyện Gió đầu mùa [100]…
Trong các cuốn sách và bài báo nói trên, một số vấn đề về thể loại tiểu thuyết và đặc
trƣng loại hình của sáng tác Nguyễn Công Hoan và Thạch Lam đã đƣợc đề cập. Tác giả cuốn
Nhà văn hiện đại và Việt Nam văn học sử yếu đã có những đóng góp to lớn trong việc “phân
chia các khuynh hƣớng phổ thôg của tƣ tƣởng quốc văn hiện đại”. Trong đố đáng chú ý là
việc Vũ Ngọc Phan chia tiểu thuyết (bao hàm cả truyện ngắn với tƣ cách là “đoản thiên tiểu
thuyết”) làm các loại: Tiểu thuyết tả chân, Tiểu thuyết xã hội, Tiểu thuyết tình cảm, Tiểu
thuyết phong tục, Tiểu thuyết luận đề, Tiểu thuyết luận lý, TIểu thuyết truyền kỳ, Tiểu thuyết
phóng sự và Tiểu thuyết hoạt kê.
Với cách phân chia tỉ mỉ, chi tiết nhƣ trên, cuốn sách đã thâu tóm đƣợc toàn bộ diện
mạo của tiểu thuyết (vả cả truyện ngắn) của giai đoạn này. Ngoài ra, đối với tác giả cụ thể,
Vũ Ngọc Phan đã có những nhận xét rất sâu sắc về phong cách nhà văn, về giá trị nổi bật của
sang tác, Chẳng hạn, so sánh Nguyễn Công Hoan với các nhà văn “tả chân” khác, ông viết


14
“Trong số những nhà tiểu thuyết về phong tục, ông đã đứng riêng hẳn về một phái: phái tả
chân và khuynh hƣớng hoạt kê, nhƣng ông không hoạt kê nhƣ Vũ Trọng Phụng, hay nhƣ Đỗ
Phồn. Cái cƣời của ông là cái cƣời sặc sụa, cái cƣời hể hả, của ngƣời sung sƣớng và ngoài
cuộc”. [175, 37].
Về Thạch Lam, ông cũng đã có những nhận xét rất tinh tế và xác đáng. Ông cho rằng
Thạch Lam “có một ngòi bút lặng lẽ, điềm tĩnh vô cùng, ngòi bút chuyên tả tỉ mỉ những cái
rất nhỏ và rất đẹp, cảm tình, cảm giác con con…Buồn mà đẹp, tỉ mỉ và sâu sắc, đó là hai đặc
tính của những truyện xuất sắc nhất của Thạch Lam” [175, 134]…
Những đóng góp của Nhà văn hiện đại và Việt Nam văn học sử yếu ở bình diện văn
học sử và nghiên cứu thể loại là không nhỏ. Song do sự “bùng nổ” của sáng tác ở giai đoạn
này, và do sự thiếu nhất quán trong tiêu chí phân loại, nên hai công trình trên không tranh

2.2.2 Từ sau Cách mạng đến nay.
Từ sau Cách mạng đến nay, việc nghiên cứu truyện ngắn giai đoạn 1930-1945 đã đạt
đƣợc nhiều thành tựu cả về quy mô, số lƣợng công trình và chiều sâu của sự khám phá. Ở đây
chúng tôi chỉ xin dẫn ra các ý kiến tiêu biểu:
Giáo sƣ Nguyễn Đăng Mạnh, trong các công trình nhƣ Nhà văn- tư tưởng và phong
cách, Khái Luận (Tổng tập văn học Việt Nam, tập 30A)… đã có ý kiến nhận xét về một số
vấn đề có liên quan đề tài của chúng tôi. Ở đó, tác giả vừa đề cập đến những gì mang tính
chất khái quát về giai đoạn văn học, vừa đi sâu khám phá một cách độc đáo các hiện tƣợng
văn học cụ thể. Về truyện ngắn Việt Nam 1930-1945, ông viết: “Thành tựu đáng chú ý nhất
của văn xuôi hiện thực thời kỳ này là truyện ngắn. Thể tài này đã


16
đƣợc nâng lên tới mức độ có thể gọi là hoàn thiện”. Với mỗi nhà văn, ông cũng đã chỉ ra
đƣợc đích danh nét phong cách của họ. Ông gọi Nguyên Hồng là “nhà văn của một chủ nghĩa
nhân đạo thống thiết, sôi nổi”. Còn Nam Cao, theo ông, “đề tài tuy không mới, nhƣng tác
phẩm có nhiều đặc sắc, tân kì”; Tô Hoài là nhà văn “có nhãn quan phong tục độc đáo”.
Một trong những nhà nghiên cứu quan tâm nhiều đến truyện ngắn giai đoạn này là
giáo sƣ Nguyễn Hoành Khung. Trong Lời giới thiệu truyện ngắn Việt Nam 1930-1945 và
Lời giới thiệu văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930-1945, ông đã đề cập đến một số vấn đề cơ
bản của truyện ngắn thời kỳ này. Nhận xét về sự phát triển của truyện ngắn 1930-1945, ông
viết:
Trong tình hình phát triển, có tính bùng nổ của văn học, truyện ngắn đã trưởng thành
vượt bậc…trữ lượng của di sản truyện ngắn Việt Nam trươc cách mạng là giàu có mà chúng
ta chư phải đã khai thác hết. Nó phong phú, đặc sắc và đa dạng – đa dạng về phong cách, về
bút phap, về đề tài, về màu sắc địa phưưong và khuynh hướng sang tác [109, 1-2].
Ý kiến của ông đã bao quát đƣợc diện mạo và đặc điểm của truyện ngắn Việt Nam
1930-1945. Và ở một chỗ khác, ông đã khẳng định cụ thể hơn về khuynh hƣớng phát triển
chủ đạo của truyện ngắn giai đoạn này là từ truyền thống đến hiện đại. Điều đó đƣợc thể hiện
rõ qua sự phát triển của sáng tác từ Nguyễn Công Hoan “cây bút ký cựu mà tƣ duy nghệ

Có lúc diễn tả vượt ra ngoài câu chữ vì sức gợi mở và khơi sâu vào cảm giác, vừa cho ta
nhìn, vừa cho ta cảm [133, 20]…


18
Giáo sƣ Phan Cự Đệ là ngƣời đã sớm phát hiện ra nghệ thuật miêu tả tâm lý, kết cấu theo quy
luật tâm lý và độc thoại nội tâm trong sang tác của Nam Cao. Ông cũng là ngƣời đầu tiên đề
cập đến thứ “ngôn ngữ đa thanh, nhiều âm hƣƣỏng nhƣ trong tiểu thuyết Đôxtôiepxki” ở
Nam Cao [37, 124].
Về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, chúng tôi đặc biệt lƣu ý đến công trình Tìm hiểu
truyện ngắn Nguyễn Công Hoan của phó giáo sƣ Lê Thị Đức Hạnh. Qua công trình này và
một loạt bài báo viết về Nguyễn Công Hoan, tác giả đã khám phá đƣợc những nét đặc sắc về
nội dung và nghệ thuật của văn chƣơng, cũng nhƣ vai trò tiên phong của ông trong địa hạt
truyện ngắn và chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam. Theo tác giả, Nguyễn Công Hoan cần đƣợc
nghiên cứu “không chỉ đơn thuần với tƣ cách một sang tạo cá nhân mà còn với tƣ cách đại
biểu của một khuynh hƣớng, một thể loại, một phong cách có ý nghĩa về phƣơng diện mỹ
học” [66, 17]. Nguyễn Công Hoan “là nhà văn đầu tiên đạt đến trình độ viết truyện ngắn với
nghệ thuật điêu luyện” và nhiều truyện của ông “xứng đáng đƣợc xếp vào những truyện hay
trong vốn văn học dân tộc. Nó có ý nghĩa tiêu biểu và trở thành cổ điển”.
Đối với các nhà văn có nhiều đóng góp trên con đƣờng phát triển thể loại truyện ngắn
nhƣ Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam. Nam Cao, Những nhận xét từ khái quát đến cụ thể về
sáng tác của họ là rất phong phú. Chúng đƣợc tập hợp trong một số công trình lớn nhƣ cuốn
Nghĩ tiếp về Nam Cao [217], Nam Cao về tác giả và tác phẩm [197], Nguyễn Công Hoan,
về tác giả và tác phẩm [66]. Thạch Lam- văn chương và cái đẹp [1]… Đây cũng là các
nhà văn đƣợc viết nhiều trong các bài đăng trên Tạp chí văn học trong 40 năm (1960-1999):
có 10 bài viết về Thạch Lam, 13 bài viết về Nguyễn Công Hoan và 36 bài viết về Nam Cao
[218].
Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam và Nam Cao cũng là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều
luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ. Trong đó chúng tôi đặc biệt lƣu ý đến các luận án nhƣ: Ba
phong cách truyện ngắn trong văn

20
Cũng nhƣ vậy, luận án của Nguyễn Hoa Bằng tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản của
thi pháp truyện ngắn Nam Cao, từ “Ngôn ngữ đa thanh” (Chƣơng I), “Nhân vật của điểm
nhìn định kiên cố và nhân vật ý thức” (Chƣơng II). “Thời gian và không gian ý thức”
(Chƣơng III), “Kết cấu đa quan hệ, mơ hồ; cốt truyện một sự kiện, nhận biết, thể tài khách
quan triết lý” (Chƣơng IV). Các luận án trên ít nhiều đều có sự “gặp gỡ” với luận án của
chúng tôi ở đối tƣợng nghiên cứu, xét trên phạm vi rộng là tác giả và tác phẩm. Nhƣng chúng
chƣa đi sâu khám phá truyện ngắn Việt Nam 1930-1945 dựa trên một quan điểm thể loại cụ
thể, để từ đó khái quát đƣợc những đặc trƣng cơ bản cho truyện ngắn hiện đại.
Theo hƣớng nghiên cứu đó, chúng tôi quan tâm đến hai tác giả và nhiều ý kiến cụ thể
về truyện ngắn nói chung và vấn đề thể loại trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1930-1945
là Vƣơng Trí Nhàn và Lã Nguyên. Là ngƣời sƣu tầm, biên soạn cuốn Sổ tay người viết
truyện ngắn [158] và Những lời bàn về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam từ đầu thế
kỷ XX đến 1945 [164], cũng đồng thời là tác giả của một số bài viết đi sâu vào thể loại nhỏ
này nhƣ Truyện ngắn, một số vấn đề nghề nghiệp [158], Sự sáng tạo trong truyện ngắn
[159]…Vƣơng Trí Nhàn trở thành một trong những ngƣời quan tâm nhiều đến thể loại truyện
ngắn. Ở đó, tác giả đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của thể loại nhƣ: Những đặc điểm của
truyện ngắn đƣợc quy định bởi chính cách tồn tại của nó trên hai phƣơng diện báo chí và văn
học; sự đa dạng, sự sang tạo vô tận của truyện ngắn, quy luật vận động phát triển của truyện
ngắn từ truyền thống đến hiện đại…Theo ông:
Nếu nói rằng, trong sự đa dạng của truyện ngắn, có một cái trục thì vấn đề “có cần
cốt truyện căng thẳng hay không” đó chính là cái trục của nó. Truyện viết về một hay nhiều
nhân vật, truyện đi vào những giây lát đáng kể. hay nói tới cả đời người…là những truyện
cần cân nhắc, nhưng có một tiêu chuẩn nữa đáng chú ý hơn, tạo nên hai thái cực của truyện
ngắn.


21
Một, đó là loại truyện kể về một trường hợp đặc biệt nào đó và một là loại truyện kể
về một sự kiện đơn giản, bình thường [158, 148].

loại tổng hợp. Truyện ngắn cũng là một kiểu tổng hợp thể loại.
3.2. Nhiệm vụ trung tâm của luận án là nghiên cứu ba loại hình cơ bản của truyện
ngắn Việt Nam giai đoan 1930-1945: “Truyện ngắn - trữ tình hóa”; “Truyện ngắn - kịch
hóa”, “Truyện ngắn - tiểu thuyết hóa”. Mỗi loại hình truyện ngắn đƣợc khảo sát nhƣ một
kiểu cấu trúc chức năng. Nghĩa là, chính chức năng nghệ thuật đã quy định cấu trúc của từng
loại hình truyện ngắn nhƣ những kiểu tổng hợp thể loại.
3.3. Trên cơ sở nghiên cứu các loại hình cơ bản của truyện ngắn Việt Nam 19301945, luận án góp thêm một tiếng nói vào việc tìm hiểu quy luật vận đông của nền văn học
dân tộc trên con đƣờng hiện đại hóa.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Từ nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng
các phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản sau đây: Ngoài các phƣơng pháp chung của nghiên cứu
văn học nhƣ phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, phân loại, … chúng tôi đặc biệt quan tâm
đến phƣơng pháp hệ thống và phƣơng pháp loại hình. Đây là phƣơng pháp quán xuyến toàn
bộ quá trình tiến hành đề tài của chúng tôi. Phƣơng pháp này cho phép nghiên cứu truyện
ngắn trong quan hệ biện chứng của một cấu trúc chức năng. Tác phẩm là một cấu trúc chỉnh
thể, có quan hệ mật thiết, biện chứng


23
với chức năng nghệ thuật của nó. Đồng thời phƣơng pháp này cũng giúp chúng tôi hiểu đƣợc
sự phong phú, đa dạng của truyện ngắn. Ở truyện ngắn, mỗi tác phẩm có giá trị đều là một
sang tạo nghệ thuật độc đáo, nhƣng giữa chúng vẫn có sự “giống nhau về cách thức tổ chức
tác phẩm, về đặc điểm của các loại hiện tƣợng đời sống đƣợc miêu tả và về tính chất của mối
quan hệ giữa nhà văn với các hiện tƣợng đời sống ấy”, có sự “thống nhất quy định lẫn nhau
về các loại đề tài, cảm hứng, hình thức nhân vật, hình thức kết cấu và hình thức lời văn…”
[173, 203].
5. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về đặc trƣng
và loại hình hóa đặc trƣng truyện ngắn hiện đại trên cơ sơ dũ liệu truyện ngắn Việt Nam
1930-1945. Luận án không chỉ dừng lịa xem xét truyện ngắn ở vấn đề quy mô mà đi sâu vào

đại Việt Nam chƣa xuất hiện khái niệm truyện ngắn. Khi đó chỉ có khái niệm “đoản thiên tiểu
thuyết” đƣợc hiểu là một loại “tiểu thuyết ngắn” khác với “trung thiên tiểu thuyết” và “trƣờng
thiên tiểu thuyết” là những tiểu thuyết dài hơn: “Đoản thiên tiểu thuyết là tiểu thuyết ngắn,
thể thức cũng nhƣ thƣờng ( nhƣ tiểu thuyết nói chung), chỉ có ngắn hơn mà thôi”. “Đoản
thiên tiểu thuyết nghĩa là gì ? một câu chuyện nào có thể viết thành một “thiên tiểu thuyết”
trƣờng tức là dai, nay ta phải gọn ý nó lại thế nào cho trở nên một “thiên” tiểu thuyết “đoản”
tƣc là vắn…thƣờng thƣờng cái đảon là cái kết cuộc của một bản trƣờng thiên tiểu thuyết”
[174, 205].
Sau này, ở các giáo trình lý luận văn học, các từ điển văn học, truyện ngắn đƣợc nói đến một
cách đầy đủ, toàn diện hơn, nhƣng tựu trung lại vẫn xoay quanh tính chất “ngắn” của thể loại.
Chẳng hạn theo Từ điển thuật


25
ngữ văn học, truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ…cái độc đáo của nó là ngắn. Truyện
ngắn đƣợc viết ra và tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ…” [178, 252]. Còn theo
sách Lý luận văn học của Gulaiep, truyện ngắn “là một hình htƣc tự sự loại nhỏ. Nó khác
với truyện vừa ở dung lƣợng nhỏ hơn, tập trung mô tả một sự kiện nào đó thƣờng xảy ra
trong đời một nhân vật, hơn nữa thƣờng bộc lộ một nét nào đó của nhân vật…” [59, 257258].
Các nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình văn học ở Việt Nam và nƣớc ngoài đều có
chung ý kiến nhƣ vậy. Chẳng hạn, Aimatop cho rằng “xoay trên một mảnh đáy hẹp, chính đó
là chỗ làm cho truyện ngắn phân biệt với các thể loại khác”. Với Pantôpxki thì “truyện ngắn
là một truyện viết ngắn gọn”. Còn theo Antônốp, chính việc truyện ngắn phải ngắn khiến cho
nó tự phân biệt một cách dứt khoát và rành rọt bên cạnh truyện vừa và tiểu thuyết. Theo nhà
văn Nguyễn Quang Thân, truyện ngắn “là một câu chuyện đƣợc kể lại, dựng lại một cách
ngắn gọn” Và theo Nguyễn Kiên, “tiểu thuyết và truyện ngắn giống nhƣ hai nhánh của một
cành cây trên vòm cây nghệ thuật xum xúc. Chúng đều thuộc thể loại truyện, chỉ khác ở độ
ngắn dài”. Còn nhà nghiên cứu phê bình Vƣơng Trí Nhàn thì cho rằng: “Rút cục, cái đặc
điểm duy nhất mà cũng rõ nhất của truyện ngắn là nằm trong chính sự ngắn gọn của nó, với
điều kiện là sự ngắn gọn này đủ sức tạo nên mộ hiệu quả nhất định” [158, 48].

Còn trong Anh phải sống.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status