toàn văn LUẬN án TIẾN sĩ NGỮ văn vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở việt nam từ 1975 đến nay - Pdf 30


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH
VẤN ĐỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC
TRONG KHOA NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
Ở VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2015ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


Tôi xin cam đoan luận án là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép
bất kì luận án nào khác. Những nội dung có tham khảo và sử dụng những thông tin
từ các tài liệu, những ý kiến, phát hiện của các nhà nghiên cứu khác trong luận án
đều đã được chú thích và thống kê trong danh mục tài liệu tham khảo.

Người viết luận án
Nguyễn Thị Hồng Hạnh MỤC LỤCTrang

Mở đầu
01
1. Lí do chọn đề tài…….……………….…………………….…… ……… 01
2. Lịch sử vấn đề………………… ….……………………… ……… 02
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……………….………… ….…… 14
4. Phương pháp nghiên cứu.…………….………….……… …….……… 15
5. Đóng góp của luận án………… ……….……………………….…… 16
6. Cấu trúc của luận án…………… ……………….…………….…… …. 17
Chương 1. Chủ nghĩa hiện thực - khái niệm, lịch sử và đặc điểm… …. 19
1.1.
Khái niệm
……………………………………………… …………………
1.1.1.

2.1.2. Tiếp thu lý luận về chủ nghĩa hiện thực của nước ngoài …… 53
2.2. Vận dụng tư tưởng văn nghệ Marxist và lý luận về chủ nghĩa hiện
thực trong nghiên cứu văn học Việt Nam ………………………

59
2.2.1. Nghiên cứu lý luận văn học………………… ………… 59
2.2.2. Nghiên cứu lịch sử văn học .……… ….………………………… 68
2.2.3. Nghiên cứu phê bình văn học ….……….………….…… 81
Chương 3. Đổi mới nghiên cứu về chủ nghĩa hiện thực 100
3.1. Đổi mới lý luận văn nghệ Marxist ………………….…………… 100
3.1.1. Đổi mới lý luận văn nghệ Marxist ở Việt Nam .…………………… 100
3.1.2. Đổi mới lý luận văn nghệ Marxist trên thế giới……… 109
3.2. Đổi mới quan điểm và phương pháp nghiên cứu chủ nghĩa hiện
thực ………………………………………………………………… …….

117
3.2.1. Đổi mới quan điểm trong nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực…… 117
3.2.2. Đổi mới phương pháp trong nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực…… … 139
3.3. Số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực …… …… 151
3.3.1. Chủ nghĩa hiện thực trong thế kỉ XX ………….…………… 151
3.3.2. Nhận diện chủ nghĩa hiện thực trong văn học những năm đầu thế kỷ
XXI.………………………………………………………………… …

175
Kết luận…………………… ………………….…………… …… …… 185
Những công trình liên quan đến luận án……………………… 190
Tài liệu tham khảo…………………………………….…… 191

một công trình nghiên cứu thực hiện nhiệm vụ này.
2

Vì vậy, nghiên cứu Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn
học ở Việt Nam từ 1975 đến nay là cơ hội để chúng tôi khảo sát lịch sử nghiên cứu
vấn đề chủ nghĩa hiện thực, qua đó, có thể nhận thức chủ nghĩa hiện thực một cách
đầy đủ hơn, đồng thời thấy được mức độ quan tâm và khả năng tiếp cận, xử lí một
vấn đề học thuật mang tầm vóc quốc tế như chủ nghĩa hiện thực trong điều kiện
nghiên cứu ở Việt Nam.
2. Lịch sử vấn đề
Lịch sử nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam, có thể nói, được bắt đầu
từ khi sáng tác hiện thực chủ nghĩa đầu tiên xuất hiện trong văn học Việt Nam. Vì
vậy, khó có thể kể hết được những công trình lớn nhỏ đề cập đến chủ nghĩa hiện
thực. Song, có thể tạm chia ra hai loại, một loại nghiên cứu về bản thân chủ nghĩa
hiện thực và một loại nghiên cứu về việc khảo sát, phân tích, đánh giá vấn đề chủ
nghĩa hiện thực.
2.1. Loại thứ nhất bao gồm những giáo trình và những công trình nghiên cứu
lý luận văn học, những giáo trình và những công trình nghiên cứu lịch sử văn học,
những nghiên cứu phê bình về văn học hiện thực của các nhà nghiên cứu Việt Nam
cũng như của các nhà nghiên cứu nước ngoài đã được dịch thuật và giới thiệu đến
bạn đọc Việt Nam, đồng thời đã đi vào đời sống sinh hoạt học thuật của Việt Nam.
Loại nghiên cứu này là những tài liệu chúng tôi đã tham khảo và có nhắc đến trong
luận án ở những phần khảo sát nhất định, xin không kể ra trong lịch sử vấn đề của
luận án.
2.2. Loại thứ hai bao gồm những nghiên cứu về các vấn đề đặt ra xung quanh
lý luận và lịch sử, sáng tạo và tiếp nhận văn học hiện thực chủ nghĩa. Đây chính là
những tài liệu có ý nghĩa quan trọng giúp chúng tôi thực hiện đề tài luận án.
Việc nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực trước 1975 đã sớm được thực hiện và
có những thành quả nhất định. Đặc biệt, không khí nghiên cứu cũng khá sôi nổi với
không ít những sự kiện quan trọng trong đời sống nghiên cứu phê bình văn học như

vào cuộc, với không ít ý kiến trái chiều, song đã gây một tác động tích cực đến sự
thay đổi tư duy văn nghệ.
4

Đến năm 1986, khi Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới, Nguyễn Minh
Châu tiếp tục viết bài Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa
(Văn nghệ, 49/1987). Nhà văn cho rằng sự độc đoán và áp chế của lãnh đạo văn
nghệ trong nhiều năm qua đã sản sinh ra một nền văn nghệ nặng tính minh họa, “nó
công thức và sơ lược, nó nhạt, và càng ngày người đọc càng thấy nó giả, mỗi ngày
người đọc càng cảm thấy rõ ở những tác phẩm minh họa và ca ngợi một chiều sự
giả dối không thể nào bào chữa nổi, đắp đậy nổi, so với cuộc đời bên ngoài” [27, tr.
130], những nghệ sĩ chân chính “phải giấu đi cái phần nhà văn trong con người
mình”, “tự mài mòn đi mọi cá tính và tính trung thực trong ngòi bút” [27, tr. 134] vì
“tự do sáng tạo chỉ có đối với lối viết minh họa” [27, tr. 130]. Do đó, cần phải có
“chủ trương khuyến khích cá tính, khuyến khích sáng tạo và chấp nhận đa dạng,
chấp nhận sáng tối, hoàn toàn đặt lòng tin vào lương tri của nhà văn” [27, tr. 138]
mới mong văn nghệ của chúng ta có được những giá trị để đời. Đây chính là biểu
hiện của hành động “cởi trói” cho nghệ sĩ để có được những tác phẩm văn học
thành thật hơn.
Tiếp đó, với hai bài viết đăng trên báo Văn nghệ: Văn nghệ và chính trị
(1987), Vấn đề văn học phản ánh hiện thực (1988), Lê Ngọc Trà đều đã yêu cầu
nhận thức lại những ý kiến về văn nghệ của Marx, Engels và Lenin cũng như những
vấn đề cơ bản của lý luận, như mối quan hệ giữa văn học và chính trị và mối quan
hệ giữa văn học và hiện thực. Theo ông, “Trên bình diện lý luận nghệ thuật (khác
với bình diện lý luận phản ánh), văn học trước hết không phản ánh hiện thực mà là
sự nghiền ngẫm về hiện thực” [212, tr. 43] do đó, “phản ánh hiện thực là thuộc tính
chứ không phải nhiệm vụ của văn học” [212, tr. 40]. Ý kiến của Lê Ngọc Trà đã
góp thêm một đợt sóng mới cho nghiên cứu văn học Việt Nam, vốn đang có nhiều
sóng gió, nhất là khi những bài viết này được tập hợp trong cuốn Lý luận và văn học
(Trẻ, 1990) và được trao giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam, đã làm dấy lên một

dùng để công kích phản ánh luận, cái khái niệm mà các nhà lý luận giáo điều
dùng để cắt nghĩa văn học một cách dung tục. Khi viết câu “trên bình diện lý
luận nghệ thuật, văn học trước hết không phản ánh hiện thực mà nghiền
ngẫm về hiện thực”, mặc dù có ý đồ tốt muốn đề cao ý thức chủ động sáng
6

tạo của nghệ sĩ, nhưng về lý thuyết, Lê Ngọc Trà vẫn phạm một lúc ba sai
lầm về lôgich. Một là, nghiền ngẫm không đặc trưng cho sáng tác nghệ thuật,
cho nên việc tách riêng “trên bình diện lý luận nghệ thuật” ở đây là không
ổn. Hai là, nghiền ngẫm cũng là một hình thức của phản ánh, cho nên viết
như vậy là tạo thêm một đối lập thiếu lôgích. Ba là, quy cho phản ánh một
nội dung phản chiếu, ghi chép giản đơn mà cụm từ “văn học phản ánh hiện
thực” thông thường không ai hiểu thế [82, tr. 32].
Năm 1994, nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành tập tiểu luận Những tín hiệu
mới của Huỳnh Như Phương. Với bài Một đóng góp vào tiến trình tự ý thức của văn
học, Huỳnh Như Phương đã góp thêm ý kiến về cuốn Lý luận và văn học của Lê
Ngọc Trà, với tinh thần cơ bản là đồng tình. Qua những bài viết như Đi tìm cái mới
trong văn học, Văn học trên con đường dân chủ hóa, Một nền văn học đang tự vấn
hay Cảm hứng phê phán trong văn học hiện nay,…, tác giả giúp người đọc bước
đầu nhận diện văn học đương đại, với những tín hiệu của một nền văn học đang trên
đường đổi mới, để có thể rộng đường hơn trong nghiên cứu vấn đề chủ nghĩa hiện
thực.
Cùng khai thác các vấn đề văn nghệ trong quá trình đổi mới, nhưng với một
tinh thần khác, Hà Minh Đức đã tập hợp được các bài viết của các nhà văn, các nhà
lý luận, phê bình từ Bắc chí Nam trong cuốn Mấy vấn đề lý luận văn nghệ trong sự
nghiệp đổi mới (Sự thật, 1991). Tuy còn có những suy nghĩ và cách lý giải riêng cần
trao đổi thêm, nhưng nhìn chung các bài viết đã gặp gỡ nhau ở chỗ cùng khẳng định
tính đúng đắn trong đường lối văn nghệ của Đảng, những thành tựu của văn nghệ
cách mạng cũng như mối liên hệ giữa văn nghệ và đời sống, trách nhiệm xã hội của
nhà văn và nhiệt tình đóng góp cho sự nghiệp chung nhằm đổi mới văn nghệ nước

Thỉnh chủ biên, được nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành tại Hà Nội năm 1997, cũng
tập hợp các bài viết của nhiều tác giả về nhiều vấn đề khác nhau trong suốt một giai
đoạn văn học dài 50 năm. Liên quan đến việc nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực, bài
viết Một chặng đường phát triển của việc biên soạn giáo trình lý luận văn học của
Nguyễn Phúc là một trường hợp đáng lưu ý. Kết hợp bài viết này với bài Về việc
biên soạn giáo trình lý luận bậc đại học ở ta năm mươi năm qua của Nguyễn Ngọc
8

Thiện đăng trên Nghiên cứu văn học, số 5/2006, sẽ cho chúng ta một cái nhìn toàn
cảnh về công việc biên soạn giáo trình trong 50 năm qua, trong đó bao gồm cả
phương pháp sáng tác hiện thực chủ nghĩa.
Năm 1990, Phong Lê chủ biên cuốn Văn học và hiện thực (Khoa học xã hội,
1990) đi sâu bàn về vấn đề văn học và hiện thực, bao gồm các vấn đề “Văn học và
hiện thực” trước yêu cầu lớn của sự phát triển văn học Việt Nam hiện đại: cách
mạng văn hóa và hiện đại hóa, “Văn học và hiện thực” trên mối quan hệ giữa chức
năng giáo dục – tuyên truyền và chức năng nhận thức, khám phá cuộc sống, “Văn
học và hiện thực” trên yêu cầu tiếp cận trực tiếp và trong khoảng lùi của thời gian
trước một đối tượng lớn là cuộc chiến tranh cách mạng, “Văn học và hiện thực”
trước yêu cầu của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, “Văn học và
hiện thực” trước yêu cầu “Nhìn thẳng vào sự thật…” và phát huy vai trò của chủ thể
sáng tạo. Mối quan hệ giữa tác giả và công chúng, Hiện thực hôm nay và người viết
hôm nay. Đây có thể nói là chuyên luận nghiên cứu chuyên sâu về một vấn đề cơ
bản của văn nghệ mọi thời và là vấn đề nổi lên những năm 90. Năm 1997, ông cho
ra mắt cuốn Văn học trên hành trình thế kỉ XX (Đại học Quốc gia Hà Nội), tập hợp
nhiều bài viết ở những thời điểm khác nhau. Trong đó, có bài Nhận thức lại vị trí
của chủ nghĩa hiện thực và vấn đề chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa đã yêu cầu
nhận thức mối quan hệ giữa chủ nghĩa hiện thực với các trào lưu, khuynh hướng
văn học khác, đồng thời xem xét tính khả thi của việc vận dụng nguyên tắc sáng tác
của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa như một công cụ để đánh giá văn học
trong giai đoạn văn học mới. Hai cuốn sách này sau được tập hợp lại trong cuốn

ánh luận trong tầm nhìn hiện đại) (2012),… với mục đích khẳng định vai trò sáng
tạo của nhà văn trong phản ánh hiện thực đời sống như một yêu cầu cần được ý thức
sâu sắc.
Nghiên cứu vấn đề chủ nghĩa hiện thực, còn phải kể đến cuốn Vì một nền lý
luận phê bình văn học chất lượng cao (Khoa học xã hội, 2005) của Nguyễn Văn
Dân. Trong đó, bài Những bài học rút ra từ các cuộc tranh luận văn học, đã được
Nguyễn Văn Dân tổng hợp có chỉnh lý, bổ sung hai bài viết đã đăng trên tạp chí
Thông tin khoa học xã hội số 5/1990 và tạp chí Văn học, số 2/1991. Bài viết này đã
10

trả lời những câu hỏi: Có phải văn nghệ chỉ có một nhiệm vụ là phục vụ chính trị
không? Chủ nghĩa hiện thực có phải là tiền thân trực tiếp của chủ nghĩa hiện thực xã
hội chủ nghĩa không? Sự phản ánh hiện thực khác với các kiểu phản ánh hiện thực ở
chỗ nào? Chủ nghĩa hiện thực XHCN là giá trị thẩm mỹ hay phương pháp sáng tác?
Nếu không bỏ nhiều tâm sức để nghiên cứu các vấn đề này cùng những tranh luận
văn học xung quanh đó, hẳn nhà nghiên cứu đã không đặt ra cho mình gánh nặng
khi phải trả lời những câu hỏi hóc búa như vậy. Có thể những kiến giải của ông chỉ
là một cách trả lời nhưng nó thể hiện một thái độ dứt khoát và một lối suy nghĩ cấp
tiến.
Trong cuốn Văn học Việt Nam sau 1975, Những vấn đề nghiên cứu và giảng
dạy (Giáo dục, 2006) do Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn đồng chủ biên, ở phần
Những vấn đề chung, các tác giả đã tập hợp các bài viết của những nhà nghiên cứu
tên tuổi của Việt Nam như Phương Lựu, La Khắc Hòa, Nguyễn Nghĩa Trọng,
Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Ngọc Thiện, Nguyễn Văn Long,… Những bài viết
của họ như Những vấn đề cơ bản đang đặt ra trong các cuộc tranh luận của giới
văn học hiện nay, Ba mươi năm lý luận, phê bình, nghiên cứu văn học – thành tựu
và suy ngẫm, Những trăn trở tiến bước của lý luận văn học giai đoạn 1975 – 1985,
Văn học Việt Nam trước và sau 1975 – nhìn từ yêu cầu phản ánh hiện thực, Sự phát
triển của lý luận – phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và từ sau 1975
đến nay,…đã cung cấp cho chúng ta những tư liệu về tình hình xã hội sau năm 1975

mối quan hệ tác phẩm – hiện thực thành lí thuyết phản ánh, chú ý đến cái điển hình
xã hội, tính giai cấp và là cơ sở cho chủ nghĩa hiện thực phê phán. Đỗ Lai Thúy cho
đây là “thứ phê bình sự thực chứ không phải phê bình giá trị” vì nó bỏ qua tính
tượng trưng, tính thơ, tính nghệ thuật và thế giới bên trong tác phẩm. Phương pháp
này trở thành phương pháp phê bình chủ đạo sau cách mạng tháng Tám và kháng
chiến chống Pháp, trở thành phương pháp phê bình duy nhất sau sự kiện tập thơ
Việt Bắc của Tố Hữu đạt giải nhất mặc dù còn có nhiều ý kiến phản đối. Những thế
hệ các nhà phê bình gồm có Hải Triều, Đặng Thai Mai, Nguyễn Bách Khoa –
Trương Tửu, Hoài Thanh, Trương Chính; Nguyễn Đức Đàn, Nhị Ca, Phong Lê,
Phương Lựu, Nguyễn Văn Hạnh, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ. Khi phê bình Marxist
12

trở nên công thức, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Mạnh, Lại Nguyên Ân, Lê
Ngọc Trà,… đã tìm cách phục hồi sức mạnh ban đầu của nó, trong không khí chung
của công cuộc mở cửa, đổi mới.
Trịnh Bá Ðĩnh cũng góp mặt với công trình Phê bình văn học Việt Nam hiện
đại (Văn học, 2011). Đây là công trình tập hợp những bài viết về phê bình văn học
Việt Nam của tác giả trong mười năm trở lại đây, xoay quanh những vấn đề của nền
phê bình văn học hiện đại nước nhà, đó là lịch sử phê bình, các phương pháp của nó
và những vấn đề đang được đặt ra trong lý luận phê bình hiện nay. Trong đó, tác giả
đã lí giải hạn chế của phê bình văn học Marxist ở Việt Nam. Theo ông, trong giới
thiệu, tiếp nhận các quan điểm lý luận Marxist đã bộc lộ những phiến diện “làm tổn
hại đến một trào lưu lý thuyết về văn học nghệ thuật chứa đựng nhiều chân lý và
sáng tạo” [59, tr. 278]. Về phía người tiếp nhận, hậu quả của quá trình tiếp thu máy
móc và phiến diện đó là những quan điểm văn học nghệ thuật giáo điều, lý luận, phê
bình văn học “đã đi từ những uyển chuyển mềm mại đến những sự quy phạm hóa
cứng nhắc, áp đặt”, “làm giảm uy tín của phê bình nghiên cứu văn học theo tinh
thần phản ánh luận” [59, tr. 266]. Từ những năm 80 trở lại đây, cùng với quá trình
đổi mới kinh tế - xã hội, phê bình văn học đã “từ chân trời một phía đến chân trời
nhiều phía”. Bản thân tác giả cũng giới thiệu và phân tích những phương pháp phê

12/2004), Một ý kiến nhỏ về cách nhìn mới đối với lý luận văn học và một lời thỉnh
cầu khẩn thiết của Lưu Văn Bổng (Nghiên cứu văn học, 12/2004), Về sự hình thành
của chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam của Phạm Quang Long (Nghiên
cứu văn học, 1/2005), Mấy ghi nhận về thành tựu của lý luận văn học trong thời kỳ
đổi mới của Nguyễn Duy Bắc (Nghiên cứu văn học, 1/2005), Tác động của lý luận
văn học nước ngoài đối với lý luận văn học Việt Nam của Lộc Phương Thủy
(Nghiên cứu văn học, 1/2005), Suy nghĩ vì một vài hướng tìm tòi đổi mới trong văn
học của Hà Minh Đức (Nghiên cứu văn học, 4/2006), Tính phản biện và tranh luận
trong nghiên cứu, lý luận phê bình văn học của Nguyễn Hữu Sơn (Nghiên cứu văn
học, 5/ 2006), … Do có dung lượng nhỏ nên có tính cơ động cao, các bài viết này
cho phép các nhà nghiên cứu phát biểu những ý kiến cá nhân chủ quan, những đề
14

xuất có tính khởi phát, thử nghiệm, những phát hiện mang tính tiên phong, dự
đoán,… Nhờ vậy, vấn đề chủ nghĩa hiện thực đã được soi rọi, mổ xẻ khá kĩ lưỡng.
Có thể nói, lịch sử nghiên cứu vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên
cứu văn học ở Việt Nam từ 1975 đến nay đã có một bề dày đáng kể. Những công
trình kể trên chỉ mới được nhắc đến với tư cách là những công trình tiêu biểu. Danh
sách những công trình nghiên cứu về chủ nghĩa hiện thực trên thực tế dài hơn nhiều.
Tuy nhiên, bấy nhiêu cũng đã cho thấy một sự quan tâm lớn mà giới chuyên môn
Việt Nam dành cho vấn đề này. Tính đến thời điểm này, vẫn còn nhiều khía cạnh để
khai thác, nhiều công trình vẫn đang được thai nghén, ấp ủ chờ ngày ra mắt. Trong
số đó, có thể nói Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt
Nam từ 1975 đến nay cũng là một công trình như vậy, bởi nó cần sự bao quát rộng
và sự hiểu biết sâu sắc mà một cá nhân khó lòng đảm trách chu toàn. Vì vậy, người
viết luận án này chỉ mong có thể nêu lên vấn đề với những phác thảo ban đầu, ngõ
hầu gợi ý cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu về sau.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu văn học là một chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn
mà đối tượng nghiên cứu là nghệ thuật ngôn từ, có lịch sử hình thành và phát triển

dịch thuật) để có được nhận thức mang tính hệ thống và toàn diện về vấn đề. Tuy
nhiên, do chủ yếu tìm hiểu việc nghiên cứu vấn đề chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam
nên chúng tôi tập trung khảo sát các công trình của các nhà nghiên cứu Việt Nam,
trên cơ sở tiếp thu những thành tựu nghiên cứu của thế giới.
3.4. Chủ nghĩa hiện thực vốn đã được các nhà nghiên cứu Việt Nam quan
tâm khá sớm nhưng chúng tôi tập trung khảo sát các công trình nghiên cứu từ 1975
đến nay, vì đây là giai đoạn phát triển sôi nổi, có nhiều chuyển biến quan trọng và
có ý nghĩa thời sự trong tiến trình văn học Việt Nam cũng như thế giới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
4.1. Phương pháp lịch sử: chúng tôi đặt chủ nghĩa hiện thực trong lịch sử phát
triển của văn học thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng để xác định đúng vị trí,
vai trò, đặc điểm và sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực trên tiến trình văn học.
16

4.2. Phương pháp hệ thống: phương pháp này giúp chúng tôi hệ thống hóa
các quan điểm, ý kiến khác nhau về chủ nghĩa hiện thực trong những bộ phận khác
nhau của khoa nghiên cứu văn học như lịch sử văn học, lý luận văn học và phê bình
văn học, trong các công trình nghiên cứu văn học nước ngoài và văn học Việt Nam,
trong những giai đoạn nhất định theo trình tự thời gian và theo những tiêu chí nhất
định để tiện theo dõi và đánh giá.
4.3. Phương pháp so sánh: phương pháp này được dùng trong việc so sánh
chủ nghĩa hiện thực với các trào lưu, phương pháp sáng tác khác, so sánh các kết
quả nghiên cứu của Việt Nam với các kết quả nghiên cứu của thế giới, của việc
nghiên cứu giữa các giai đoạn, nhất là trước và sau 1975, giữa các quan điểm và
phương pháp nghiên cứu khác nhau để có cái nhìn khách quan và toàn diện về chủ
nghĩa hiện thực.
4.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp: phương pháp này được sử dụng để
phân tích tình hình cụ thể của các bộ phận nghiên cứu nói chung cũng như chỉ ra đặc
điểm nghiên cứu của các nước và các tác giả nói riêng. Những kết quả phân tích này

vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp của luận án, cấu trúc của luận án.
Nội dung chính: gồm 3 chương.
Chương 1. Chủ nghĩa hiện thực - khái niệm, lịch sử và đặc điểm: 29 trang
(tr.19 – tr. 47).
Chương này đi vào những vấn đề lí thuyết khái quát về khái niệm, lịch sử
hình thành và đặc điểm của chủ nghĩa hiện thực, làm cơ sở lí thuyết cho các chương
sau.
Chương 2. Tiếp thu và vận dụng lý luận về chủ nghĩa hiện thực: 52 trang
(tr. 48 – tr. 99)
Trình bày việc tiếp thu tư tưởng văn nghệ Marxist và lý luận về chủ nghĩa
hiện thực trong lý luận văn học nước ngoài, đặc biệt là Liên Xô cũ, từ đó vận dụng
vào việc nghiên cứu lý luận, lịch sử và phê bình văn học ở Việt Nam từ 1975 đến
nay.
18

Chương 3. Đổi mới nghiên cứu về chủ nghĩa hiện thực: 85 trang (tr. 100 –
tr. 184)
Trình bày những đổi mới của lý luận văn nghệ Marxist, từ đó dẫn đến những
đổi mới trong quan điểm và phương pháp nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực, trên cơ sở
kế thừa những thành quả lý luận trước đó. Sự đổi mới này chính là tiền đề để nhận
thức tiếp về số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực trong sáng tác lẫn nghiên cứu.
Kết luận: 5 trang (tr. 185 – tr. 189)
Tài liệu tham khảo: 19 trang (tr. 191 – tr. 209)

19

Chương 1
CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC – KHÁI NIỆM, LỊCH SỬ VÀ ĐẶC ĐIỂM

Chủ nghĩa hiện thực là một hiện tượng quan trọng trong tiến trình văn học

1830, các nhà văn như Stendhal, Balzac, Thakeray, Dickens, … trong sáng tác của
mình, đã miêu tả cuộc sống của mọi tầng lớp người trong xã hội có nhiều biến động
sau cuộc cách mạng công nghiệp và thương mại, với những chi tiết xác thực và tiêu
biểu. Đến năm 1857, nhà tiểu thuyết Pháp Champfleury đã cho xuất bản tập tiểu
luận mang tên Réalisme (Chủ nghĩa hiện thực), chủ trương tái hiện một cách chân
thực, hoàn chỉnh và chính xác hoàn cảnh sống của con người. Sau đó, chủ nghĩa
hiện thực phát triển và trở thành thuật ngữ vô cùng phổ biến trong sáng tác và lý
luận, phê bình văn học. Thực tế nghiên cứu cho thấy, khái niệm chủ nghĩa hiện thực
đã được lí giải theo nhiều cách khác nhau.
1.1.2. Một số cách lí giải khái niệm
Trong cuốn Từ điển giản yếu về văn học nước ngoài, J.J. Abrams đã cho
rằng chủ nghĩa hiện thực bao gồm hai tầng ý: một là chỉ “trào lưu văn học thế kỉ
XIX”, đặc biệt là chỉ trào lưu văn nghệ trong tiểu thuyết (lấy Balzac của nước Pháp,
George Eliot của Anh, Westinghouse, George của Mĩ làm chủ soái); hai là chỉ “thủ
pháp miêu tả hiện thực cuộc sống xuất hiện trong mọi thời đại”, điển hình là những
tác phẩm trong trào lưu lịch sử này. Weikang Xiapu, năm 1890, khi bình luận về
tiểu thuyết của William Dean Howells đã cho rằng có lẽ, chủ nghĩa hiện thực trong
văn học nghệ thuật có thể định nghĩa là “một loại kĩ xảo miêu tả tinh tế, chính xác
dựa trên sự tổng hợp về hiện thực, đối với rất nhiều sự vật phức tạp hoặc trừu
tượng” [250]. Như vậy, ngoài cách hiểu là một hiện tượng văn học có tính lịch sử,
chủ nghĩa hiện thực còn được xem là một “thủ pháp” hay “kĩ xảo” nghệ thuật nhằm
phản ánh cuộc sống.
Ngoài hai cách hiểu trên, theo thống kê của Nguyễn Văn Hạnh, trong bài Về
nội dung khái niệm chủ nghĩa hiện thực trong văn học (Văn học, 1987), chủ nghĩa
hiện thực có thêm nhiều cách hiểu khác.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status