ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH VẤN ĐỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC
TRONG KHOA NGHIÊN CỨU VĂN HỌC
Ở VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 62 22 32 01 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2015
Công trình được hoàn thành tại:
giờ là một công việc lỗi thời và vô bổ.
1.2. CNHT đã trở thành tâm điểm chú ý của rất nhiều nhà nghiên cứu
suốt hơn hai thế kỷ nay, song, thành quả nghiên cứu về chủ nghĩa hiện thực
tuy phong phú nhưng vẫn đòi hỏi tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện.
1.3. Việc khảo sát và đánh giá công tác nghiên cứu vấn đề chủ ngh
ĩa
hiện thực ở Việt Nam từ 1975 đến nay chưa được thực hiện một cách hệ thống
và toàn diện nên luận án này ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu đó.
2. Lịch sử vấn đề
Những nghiên cứu về chủ nghĩa hiện thực bao gồm hai loại chính:
2.1. Những nghiên cứu về chủ nghĩa hiện thực: bao gồm những giáo
trình và những công trình nghiên cứu lý luận vă
n học, lịch sử văn học, phê
bình văn học về văn học hiện thực của các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng
như của các nhà nghiên cứu nước ngoài được biên dịch và đã đi vào đời sống
sinh hoạt học thuật của Việt Nam. Loại này được nhắc đến trong nội dung
luận án.
2.2. Những nghiên cứu nhằm tìm hiểu, phân tích, đánh giá về việc
nghiên cứu chủ nghĩa hi
ện thực từ 1975 đến nay ở Việt Nam: loại này là
những tư liệu quan trọng có tính chất cơ sở để nghiên cứu vấn đề. Chúng tôi
tạm sắp xếp theo chủ đề và theo trình tự thời gian như sau:
2
- Những nghiên cứu có tính chất nêu vấn đề, nhằm đổi mới nhận thức về
mối quan hệ giữa văn học và hiện thực, phản ánh và sáng tạo, giữa yếu tố chủ
quan và khách quan trong sáng tạo và tiếp nhận văn học: Viết về chiến tranh
(Văn nghệ quân đội, 11/1978) và Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn
nghệ minh họa (
Văn nghệ, 49/1987) của Nguyễn Minh Châu, Về một đặc
vũ cái mới, cái tiến bộ: công trình Lý luận và phê bình văn học – Những vấn
đề và quan niệm hiện đại (Hội Nhà văn, 1996), những bài viết như Đổi mới lý
luận tức là hiện đại hóa lý luận (Văn nghệ
, 2/1994), Phương diện chủ quan
của phản ánh và đặc trưng của văn nghệ (Cộng sản, 1995), Văn học và hiện
thực trong tầm nhìn hiện đại, tham luận hội thảo Văn học phản ánh hiện thực
đất nước hôm nay (2010), Phản ánh tức là kiến tạo (Kiêm bàn phản ánh luận
trong tầm nhìn hiện đại) (2012),…, của Trần Đình Sử; Vì một nề
n lý luận phê
bình văn học chất lượng cao (Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005) của Nguyễn
Văn Dân, … Những nghiên cứu này nói về ưu nhược của phản ánh luận, và
kiến nghị quan tâm nhiều hơn đến bản thể luận, với sự chú ý đến vai trò của
chủ thể sáng tạo, đến hình thức và ngôn ngữ của tác phẩm.
- Những công trình nghiên cứu về lịch sử nghiên cứu lý luận, phê bình
củ
a Việt Nam: Phê bình văn học Việt Nam (Nửa đầu thế kỉ XX 1900 – 1945)
(Đại học quốc gia tp. Hồ Chí Minh, 2004) của Nguyễn Thị Thanh Xuân, Phê
bình văn học – con vật lưỡng thê ấy (Tư tưởng phê bình văn học Việt Nam,
Một cái nhìn lịch sử) (Hội Nhà văn, 2010) của Đỗ Lai Thúy, Phê bình văn học
Việt Nam hiện đại (Văn học, 2011) và Lịch sử lý luận phê bình văn học Việ
t
Nam (Khoa học xã hội, 2013) của Trịnh Bá Ðĩnh và do ông chủ biên,…
Những công trình này khái quát lịch sử hình thành và phát triển các phương
pháp lý luận phê bình, trong đó có phê bình văn học Marxist với những ưu
nhược điểm khác nhau.
- Những bài viết liên quan đến việc nghiên cứu và giảng dạy lý luận có
liên quan đến chủ nghĩa hiện thực như: Bàn về khái niệm phương pháp sáng
tác trong văn học, Góp phần xác định các khái niệm: phong cách, trào lưu
v
ăn học, phương pháp sáng tác, kiểu sáng tác, thi pháp, Nội dung và ý nghĩa
động của lý luận văn học nước ngoài đối với lý luận văn học Việt Nam của
Lộc Phương Thủy (Nghiên cứu văn học, 1/2005), Suy nghĩ vì một vài hướng
tìm tòi đổi mới trong văn học của Hà Minh Đức (Nghiên cứu văn học,
4/2006), Tính phản biện và tranh luận trong nghiên cứu, lý luận phê bình v
ăn
5
học của Nguyễn Hữu Sơn (Nghiên cứu văn học, 5/ 2006),… Do có dung
lượng nhỏ nên có tính cơ động cao, các bài viết này cho phép các nhà nghiên
cứu phát biểu những ý kiến cá nhân chủ quan, những đề xuất có tính khởi
phát, thử nghiệm, những phát hiện mang tính tiên phong, dự đoán, … Nhờ
vậy, vấn đề chủ nghĩa hiện thực đã được soi rọi, mổ xẻ khá kĩ lưỡng.
Những công trình nghiên cứu tiêu biểu
được kể trên đã cho thấy một sự
quan tâm lớn mà giới chuyên môn Việt Nam dành cho chủ nghĩa hiện thực.
Tính đến thời điểm này, vẫn còn nhiều khía cạnh để khai thác, nhiều công
trình vẫn đang được thai nghén, ấp ủ chờ ngày ra mắt. Trong số đó, có thể nói,
Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam từ
1975 đến nay cũng là một công trình như
vậy, bởi nó cần sự bao quát rộng và
sự hiểu biết sâu sắc mà một cá nhân khó lòng đảm trách chu toàn. Vì vậy,
người viết luận án này chỉ mong có thể nêu lên vấn đề với những phác thảo
ban đầu, ngõ hầu gợi ý cho các công trình nghiên cứu chuyên sâu về sau.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu văn học là một chuyên ngành khoa học xã hội và nhân
văn bao gồm nhiều bộ môn nghiên cứu độc lập nhưng chúng tôi chủ yế
u khảo
sát việc nghiên cứu vấn đề chủ nghĩa hiện thực ở ba bộ phận chính là lý luận
văn học, phê bình văn học và lịch sử văn học, vốn là những bộ phận nghiên
cứu có bề dày hơn cả, những bộ phận khác chỉ được nhắc đến với một mức độ
ận án
Luận án có dung lượng 210 trang, trong đó có 190 trang chính văn.
Ngoài phần dẫn nhập, kết luận, tài liệu tham khảo, luận án bao gồm 3 chương:
Chương 1. Chủ nghĩa hiện thực - khái niệm, lịch sử và đặc điểm
29 trang (tr. 19 – tr. 47)
Chương 2. Tiếp thu và vận dụng lý luận về chủ nghĩa hiện thực
52 trang (tr. 48 – tr. 99)
Chương 3. Đổi mới nghiên cứu về chủ nghĩa hiện thực
85 trang (tr. 100 – tr. 184)
7
Chương 1
CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC
KHÁI NIỆM, LỊCH SỬ VÀ ĐẶC ĐIỂM
1.1. Khái niệm
1.1.1. Sự xuất hiện của thuật ngữ
Thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực (realism) đã xuất hiện vào cuối thế kỉ
XVIII, trong trước tác của I. Kant, F. Schelling và J. Schiller nhưng để chỉ chủ
nghĩa cổ điển. Chỉ đến năm 1857, trong tập tiểu luận mang tên Réalisme của
nhà tiểu thuyết Pháp Champfleury, thuật ngữ này mới xuất hiện với tư cách là
một trào lưu văn học ra đời vào thế kỉ XIX. Sau đó, chủ nghĩa hiện thực đã trở
thành thuật ngữ vô cùng phổ biến trong sáng tác và lý luận, phê bình văn học.
1.1.2. Một số cách lí giải khái niệm
Chủ nghĩa hiện thực đã và đang được lí giải và sử dụng theo nhiều ý
nghĩa khác nhau:
- Một trong hai kiểu sáng tác, hai khuynh hướng sáng tác chủ yếu trong
nghệ thuật của nhân loại – kiểu sáng tác tái hiện.
- Một trong hai phương pháp phản ánh cuộc sống, hiện thực và phản
hiện thực (réalisme và antiréalisme) (G.A. Nedosivin), một đúng đắn, sâu sắc,
tiến bộ và một nông cạn, sai lệch, phản động.
ện từ thời kỳ Phục hưng ở châu Âu, trong sáng tác của
Shakespeare, Cervantes, Rabelais, …
- Ý kiến thứ hai, với những đại biểu như Konrad, Blagoi, Arnuse,
Vinogradov, Fridlender, …, chỉ chấp nhận sự xuất hiện chính thức của chủ
nghĩa hiện thực vào thế kỉ XIX trong những sáng tác của Stendhal, Balzac,
Dickens, Gogol,
Hai ý kiến trên có chỗ gặp nhau. Trong khi cho rằng chủ nghĩa hiện thực
bắt đầu từ văn học Phục hưng, các nhà nghiên cứu c
ũng quan tâm đến những
điểm chưa hoàn thiện của chủ nghĩa hiện thực trong giai đoạn văn học này.
9
Ngược lại, trong khi quả quyết chủ nghĩa hiện thực chỉ xuất hiện vào thế kỷ
XIX, những nhà nghiên cứu theo quan điểm này cũng cho rằng đó là đỉnh cao,
là thời điểm cực thịnh của chủ nghĩa hiện thực, vì những dấu hiệu của trào
lưu, phương pháp sáng tác này đã có từ văn học Phục hưng, văn học Khai
sáng…
Cả hai quan niệm này đều có hạt nhân hợp lí. Rõ ràng, sẽ không thể có
được chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XIX nếu không có chủ nghĩa hiện thực trong
văn học Phục hưng, văn học Khai sáng,… vì chủ nghĩa hiện thực đã kế thừa
những thành tựu, đồng thời khắc phục những hạn chế của các nền văn học
này. Tuy nhiên, nếu xem chủ nghĩa hiện thực với tư cách là một trào lưu văn
học hoàn chỉnh thì chỉ đến thế kỉ XIX, mới có đủ những cơ sở xã hội và cơ sở
tư tưởng cho sự hình thành và phát triển của nó.
1.2.2. Cơ sở hình thành của chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XIX
Chỉ đến thế kỉ XIX, chủ nghĩa hiện thực mới có đủ điều kiện để hình
thành với tư cách là một trào lưu văn học. Cơ sở xã hội cho sự ra đời của trào
lưu này là mâu thuẫn gay gắt giữa các giai cấp, đặc biệt là giữa tư sản với vô
sản và cuộ
c đấu tranh giải quyết mâu thuẫn đó. Cơ sở tư tưởng là sự phát triển
dục vọng, có triết lí sống là tôn thờ “con bê vàng”, với một lòng tham không
đáy và những thủ đoạn kiếm tiền quỷ quyệt. Giữa con người chỉ giữ lại một
mối quan hệ “trả tiền ngay không tình nghĩa”. Xoay quanh nhân vật trung
tâm này còn một số loại nhân vật khác nhân vật vỡ mộng, con người thừa, con
người bé mọn, …
Hiện thực cuộc sống đen tối cùng những con người tiêu cực chiếm vị trí
trung tâm quyết định cảm phê phán của văn học hiện thực chủ nghĩa, mặc dù
có khi, nhà văn cũng thể hiện cảm hứng ngợi ca hay thương cảm, khiến văn
học hiện thực luôn thể hiện rõ tính giai cấp, tính nhân dân, tính khuynh hướng
và giá trị nhân đạo sâu sắc. 11
1.3.3. Nguyên tắc điển hình hóa
Điển hình hóa được xem như một nguyên tắc đặc trưng cho chủ nghĩa
hiện thực, yêu cầu kết hợp hài hòa sự khái quát hóa và cụ thể hóa, giữa tính
chung và tính riêng, giữa quen và lạ, trong đó, cái khái quát được thể hiện
thông qua cái cụ thể. Nguyên tắc điển hình hóa giúp văn học hiện thực không
những chọn lựa được những chi tiết điển hình, mà còn xây dựng được những
tính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình, giữa chúng có mối liên hệ qua lại
với nhau, hoàn cảnh luôn vận động và làm thay đổi tính cách, tính cách cũng
tác động trở lại hoàn cảnh. Các nhà văn hiện thực cũng xem việc thể hiện thế
giới tinh thần của nhân vật như là một trong những yêu cầu quan trọng nhất để
xây dựng tính cách điển hình.
1.3.4. Mối quan hệ giữa chủ quan và khách quan
Nhà văn hiện thực chủ nghĩa không để nhân vật trở thành cái loa phát
ngôn cho mình, không quá nuông chiều hay ác cảm với nhân vật mà luôn giữ
thái độ khách quan. Sự vận động của tính cách được quyết định bởi logic nội
tại của nó trong mối quan hệ với hoàn cảnh xung quanh. Nguyên tắc khách
quan phát triển đến cao độ thì sinh ra nhân vật nổi loạn, hiện tượng nhân vật
trước khi du nhập vào Việt Nam. Lý luận về chủ nghĩa hiện thực cũng đã
được nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh trong các công trình nghiên cứu nước
ngoài. Vì vậy, nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực trong lý lu
ận văn học Việt Nam
phải nhận thấy quá trình tiếp thu và vận dụng những thành quả nghiên cứu của
nước ngoài về chủ nghĩa hiện thực.
2.1. Tiếp thu lý luận về chủ nghĩa hiện thực từ các nghiên cứu nước
ngoài
Việc nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam được tiến hành chủ
yếu trên nền tảng tư tưởng văn nghệ
Marx – Lenin. Vì vậy, nói đến lịch sử
13
nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam không thể không nói đến việc tiếp
thu và truyền bá lý luận văn nghệ Marxist.
2.1.1. Tiếp thu và truyền bá lý luận văn nghệ Marxist
Marx – Lenin luôn coi văn nghệ là một hình thái ý thức xã hội đặc thù,
có nguồn gốc trong đời sống xã hội, gắn liền với quá trình lao động và đấu
tranh của con người, phản ánh thực trạng và những quan hệ xã hội nhất định.
Phản ánh luận được xem là cơ sở triết học và mỹ học để giải quyết đúng đắn
mối quan hệ giữa văn học với hiện thực. Về mối quan hệ giữa thế giới quan và
sáng tác, Marx – Engels xem nhà văn là người phát ngôn cho giai cấp của
mình.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx còn rất quan tâm đến phương
pháp sáng tác. Xuất phát từ chức năng nhận thức và vai trò cải tạo xã hội của
văn nghệ, Marx và Engels trong nhiều trường hợp đã phê phán chủ nghĩa lãng
mạn ở thái độ quay lưng lại với thực tại đen tối, ngược lại, đánh giá cao sáng
tác của các nhà văn hiện thực, đề xuất nhiều luận đ
iểm quan trọng về chủ
nghĩa hiện thực. Tư tưởng của Lenin còn đặt nền móng cho đường lối, chính
nhiều cuốn sách mới.
Sau 1975, với sự đóng góp của các nhà nghiên cứu đầu ngành như Lê
Đình Kỵ, Hà Minh Đức, Phương Lựu, Nguyễn Văn Hạ
nh, …, nhiều công
trình quan trọng nghiên cứu về chủ nghĩa Marx được biên dịch và giới thiệu,
thể hiện sự tiếp nhận cũng như vận dụng lý luận văn nghệ Marxist vào thực
tiễn nghiên cứu văn học Việt Nam. Nội dung chính của các công trình trên
đều tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ Marxist, chỉ ra
nguồn gốc xã hội của văn nghệ, m
ối quan hệ giữa phản ánh với nhận thức, với
biểu hiện, sáng tạo và tác động, về vai trò quyết định của thế giới quan đối với
sáng tác, những phạm trù như tính giai cấp, tính đảng, về mối quan hệ giữa
văn nghệ và chính trị, vai trò lãnh đạo của đảng trong việc hướng đến một nền
văn nghệ tiên tiến của tương lai, trách nhiệm của văn nghệ
sĩ trong việc xây
dựng và phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, … Đây cũng chính
là đặc điểm có mối liên hệ thiết thân của văn học hiện thực chủ nghĩa. Hơn
15
nữa, hoạt động của các nhà nghiên cứu nhằm quảng bá cho chủ nghĩa Marx,
đã góp phần kích thích sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực trong văn học
Việt Nam thời kì trứng nước và làm điểm tựa cho nghiên cứu lý luận, phê
bình và lịch sử văn học nói chung và về chủ nghĩa hiện thực nói riêng từ đó về
sau.
Bên cạnh việc tiếp thu tư tưởng văn nghệ Marxist, các nhà lý lu
ận Việt
Nam còn tiếp thu lý luận về chủ nghĩa hiện thực trong các công trình nghiên
cứu nước ngoài.
2.1.2. Tiếp thu lý luận về chủ nghĩa hiện thực của nước ngoài
Trước 1975, để xây dựng bộ môn lý luận văn học, bên cạnh việc biên
Kỵ, Phương Lựu và Đỗ Văn Khang.
Tìm hiểu những giáo trình lý luận văn học Việt Nam, không khó để
chúng ta nhận thấy những điểm tương đồng với các giáo trình lý luận Soviet,
từ quan điểm và phương pháp tiếp cận (xem chủ
nghĩa hiện thực là kết quả
của quá trình phát triển tất yếu của mọi nền nghệ thuật chân chính và mọi nhà
văn, do đó, đề cao chủ nghĩa hiện thực hơn các giai đoạn văn học trước đó)
cho đến những luận điểm về chủ nghĩa hiện thực (nguyên lí khách quan,
nguyên tắc lịch sử - cụ thể, nguyên tắc điển hình hóa,…).
Tư
tưởng Marxist và lý luận về chủ nghĩa hiện thực còn thể hiện qua
nhiều nghiên cứu chuyên sâu khác, bên ngoài phạm vi học đường. Hệ thống lý
luận được trình bày trong các công trình này thống nhất cao độ với quan điểm
của các giáo trình lý luận văn học, do cùng chịu ảnh hưởng của lý luận
Marxist nói chung và lý luận về chủ nghĩa hiện thực nói riêng. Đến lượt mình,
hệ thống lý luận này đã chi phối sâu sắc hoạ
t động nghiên cứu lịch sử và phê
bình văn học.
17
2.2.2. Nghiên cứu lịch sử văn học
Trước 1975, đã có những nghiên cứu nhằm vận dụng quan điểm Marxist
vào nghiên cứu lịch sử văn học như trường hợp của nhóm Lê Quý Đôn hay
Trương Tửu.
Sau 1975, với sự ra đời của lý luận văn học Việt Nam, nghiên cứu lịch
sử văn học ở Việt Nam đã có nền tảng lý luận tương đối vữ
ng chắc. Các giáo
Khi phân chia văn học thành các khuynh hướng văn học yêu nước, vă
n
học hợp pháp, văn học cách mạng, văn học lãng mạn, văn học hiện thực, …,
các nhà nghiên cứu cũng xuất phát trên tinh thần giai cấp, cho mỗi dòng là do
một giai cấp, xuất phát từ chỗ đứng xã hội và tâm lí nảy sinh từ chỗ đứng ấy,
tạo ra. Từ dó, đã có sự phân biệt đối xử với giữa các khuynh hướng văn học
với nhau. Trong khi văn học cách mạng và văn họ
c hiện thực được đề cao thì
văn học lãng mạn, nhất là văn học “suy đồi” (tức mang dấu ấn hiện đại chủ
nghĩa hoặc tự nhiên chủ nghĩa) bị đánh giá thấp. Tình hình trên cũng ít nhiều
xuất hiện trong các nghiên cứu lịch sử văn học nước ngoài được biên soạn bởi
các nhà nghiên cứu Việt Nam.
Ngoài những bộ giáo trình còn có các công trình nghiên cứu chuyên sâu
về lịch sử văn h
ọc. Bộ phận này cũng quán triệt sâu sắc tư tưởng văn nghệ
Marx – Lenin nói chung và lý luận về chủ nghĩa hiện thực nói riêng. Tuy
nhiên, sự có mặt của các công trình này đã làm cho phạm vi và nội dung
nghiên cứu phong phú hơn, cho phép chúng ta hình dung một cách đầy đủ hơn
về lịch sử văn học, nhất là lịch sử văn học Việt Nam, trong đó có lịch sử hình
thành và phát triển của chủ nghĩa hiện thự
c trong văn học dân tộc.
2.2.3. Nghiên cứu phê bình văn học
Việc vận dụng tư tưởng Marxist và lý luận về chủ nghĩa hiện thực vào
phê bình đã tạo nên khuynh hướng phê bình xã hội học Marxist. Có nguồn
gốc từ Pháp, nơi ngành xã hội học ra đời, nhưng phê bình xã hội học lại phồn
thịnh ở Nga, bởi gắn với sự phát triển của chủ nghĩa hiện thực thế kỉ
XIX và
chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa thế kỉ XX. Khuynh hướng phê bình này
19
20
nghĩa hay tự nhiên chủ nghĩa. Tiêu chí để đánh giá ở đây là chỗ đứng và thái
độ chính trị của nhà văn cũng như chất lượng phản ánh cuộc sống trong tác
phẩm.
Sự quán triệt lý luận văn nghệ Marxist nói chung và cảm tình dành cho
chủ nghĩa hiện thực nói riêng cũng thể hiện trong phê bình văn học nước
ngoài. Các nhà nghiên cứu Việt Nam khi nghiên cứu văn học Nga, văn học
Pháp hay văn học Trung Quố
c, …, đều tỏ rõ quan điểm ủng hộ các nhà văn có
ý thức xã hội cao, những tác phẩm giàu giá trị hiện thực.
Nhìn chung, nghiên cứu văn học dựa trên tư tưởng văn nghệ Marxist đã
đem lại cho chúng ta nền tảng lý luận hệ thống và nhất quán, lí giải một cách
khách quan, khoa học những vấn đề nguồn gốc, bản chất, và quy luật vận
động và phát triển của văn học. Đố
i với chủ nghĩa hiện thực, lý luận văn nghệ
Marxist đã trở thành người đỡ đầu tận tụy và người quảng bá nhiệt thành.
Việc vận dụng quan điểm lý luận văn nghệ Marxist vào nghiên cứu văn học lý
luận, lịch sử và phê bình văn học đã đem lại cho chúng ta những thành quả
không nhỏ. Song, việc độc tôn một phương pháp đã khiến cho nền nghiên cứu
văn học của chúng ta trở nên máy móc và đơn điệu. Để khắc phục tình trạng
trên, chúng ta đã và đang đổi mới nghiên cứu văn học nói chung và nghiên
cứu chủ nghĩa hiện thực nói riêng.
Chương 3
ĐỔI MỚI NGHIÊN CỨU VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC
Việc đổi mới nghiên cứu văn học được bắt đầu từ việc đổi mới lý luận
vă
n nghệ Marxist, bởi nền lý luận này tuy có nhiều ưu điểm nhưng cũng có
Tuy nhiên, việc đổi mới ở ông chủ yếu là tăng cường vai trò chủ quan c
ủa
nghệ sĩ trên cơ sở kế thừa phần khách quan đã có trước đây, trong khi, một số
nhà nghiên cứu khác ra sức giới thiệu những thành quả đổi mới của lý luận
văn nghệ Marxist phương Tây. 22
3.1.2. Đổi mới lý luận văn nghệ Marxist trên thế giới
Trương Đăng Dung, Phương Lựu, Lộc Phương Thủy, Lê Huy Tiêu, là
những người đã ra sức dịch thuật và giới thiệu các nghiên cứu của các nhà
Marxist phương Tây của thế kỉ XX, như Plekhanov, Lukacs, Caudwell,
Fischer, R.Garaudy, Goldmann, Macherey, … Mặc dù mỗi người đều có
hướng đi riêng của mình nhưng các nhà Marxist phương Tây thế kỷ XX vẫn
luôn quan tâm đến mối quan hệ giữa văn h
ọc và hiện thực, đến đặc trưng mĩ
học của chủ thể sáng tạo cũng như khách thể thẩm mĩ trong tác phẩm nghệ
thuật nói chung và văn học hiện thực chủ nghĩa nói riêng, góp phần đưa lý
luận Marxist sang một giai đoạn phát triển mới.
Ở Trung Quốc, tồn tại ba khuynh hướng đối với chủ nghĩa Marx, gồm:
bảo vệ và phát triển (Lý Trạch Hậ
u, …), nhận thức lại những ý kiến của các
nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx (Tưởng Khổng Dương, Từ Tuấn Tây, …)
và xem xét lại những vấn đề chủ nghĩa Marx đặt ra gắn với tình hình cụ thể
của đất nước (Khiết Mẫn, Ba Kim, Vương Xuân Nghiêm, Trương Quýnh, …).
Nói chung, sự đổi mới lý luận văn nghệ Marxist đã tạo tiền đề cho việc
đổi mới quan đi
ểm và phương pháp tiếp cận chủ nghĩa hiện thực trong nghiên
cứu văn học ở Việt Nam.
3.2. Đổi mới quan điểm và phương pháp nghiên cứu chủ nghĩa hiện
n cao hơn, hoàn thiện hơn chủ nghĩa hiện thực và chủ
nghĩa hiện thực không phải là bệ phóng, là tiền thân của chủ nghĩa hiện thực
XHCN, mà đó là hai phương pháp sáng tác có mối quan hệ đồng đẳng với
nhau. Thậm chí, có người còn yêu cầu nhận thức lại khái niệm phương pháp
sáng tác, vốn ra đời cùng với phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa
vì cho rằng khái niệm này không có hạt nhân khoa học vữ
ng chắc. Những
người tham gia gồm có Nguyễn Văn Dân, Phạm Vĩnh Cư, Phong Lê, Trần
Đình Sử, …Qua việc nhận thức lại ấy, chủ nghĩa hiện thực đã được nhìn nhận
trong mối quan hệ bình đẳng hơn với chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa,
đồng thời được nghiên cứu sâu sắc hơn.