Trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về Xóa Đói Giảm Nghèo ở Việt Nam từ năm 1945 tới nay - Pdf 66

CHỦ ĐỀ : Trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam về Xóa
Đói Giảm Nghèo từ năm 1945 tới nay.
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
I.Những vấn đề chung về đói nghèo
1.Các định nghĩa về đói nghèo
2.Nguyên nhân gây ra đói nghèo
3.Tác động của đói nghèo với kinh tế và xã hội
II. Công tác xóa đói giảm nghèo(XDGN)
1. Định nghĩa XDGN
2.XDGN với ASXH
3.Các chương trình xóa đói giảm nghèo
4.Nguồn tài chính XDGN
5.Mục tiêu Thiên Niên Kỷ XDGN
PHẦN II CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM TỪ 1945 TỚI NAY.
I.Quá trình thực hiện trước năm 1986
1. Giai đoạn 1945-1954
2. Giai đoạn 1955-1975
3. Giai đoạn 1975-1986
II.Quá trình thực hiện sau năm 1986.
1. Giai đoạn 1986-1990
2. Giai đoạn từ 1990 đến nay
III.Hạn chế, khó khăn và bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện XDGN
1. Hạn chế
2. Khó khăn
3. Bài học kinh nghiệm
PHẦN III : ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 2011-2020
1. Mục tiêu
2. Định hướng
KẾT LUẬN

giá mức độ đói nghèo và được gọi là chuẩn nghèo. Có thể có sự khác nhau
giữa các vùng, các địa phương và thay đổi theo thời gian.
• Nghèo tương đối: được hiểu theo nghĩa rộng hơn so với nghèo tuyệt đối,
gắn liền với tình trạng một cá nhân hay một bộ phận dân cư có thu nhập thấp
hơn thu nhập trung bình của các thành viên khác trong xã hội, nó trực tiếp
phản ánh sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các thành viên trong xã hội.
Theo WB, nghèo tương đối là những người có mức thu nhập bình quân dưới
2USD/1 ngày.
_ Chuẩn nghèo
Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức
độ giàu nghèo .
Ở VN, Chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 như sau: người có thu
nhập bình quân từ 200.000 đến 260.000 đồng/tháng là người nghèo.
Cụ thể, những hộ gia đình ở nông thôn có mức thu nhập bình quân dưới
200.000 đồng/người/tháng (2,4 triệu đồng/người/năm) được coi là hộ nghèo. Ở khu
vực thành thị, những hộ có mức thu nhập bình quân dưới 260.000
đồng/người/tháng (dưới 3,12 triệu đồng/người/năm) được coi là hộ nghèo. Mức
chuẩn nghèo mới cao hơn mức cũ 2 lần, kéo theo số hộ được xếp vào diện nghèo
cũng tăng lên 3 lần.
2.Nguyên nhân gây ra đói nghèo
Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng đói nghèo của người dân.
• Khách quan: Do sự không thuận lợi của điều kiện tự nhiên ở một số
vùng miền; do gặp phải những sự kiện bất thường trong cuộc sống như ốm
đau, bệnh tật, tai nạn; do mặt trái của nền kinh tế thị trường mà chưa có sự
can thiệp đầy đủ kịp thời của Chính phủ…
• Chủ quan: Từ bản thân người nghèo như trình độ văn hóa thấp, gia
đình đông con, tập tục lạc hậu, lười lao động…
Liên hệ ở Việt Nam, có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng đói nghèo
của các hộ dân. Theo số liệu điều tra của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
năm 2004, tình trạng đói nghèo ở Việt Nam do các nguyên nhân chủ yếu sau:

tượng được hưởng lợi từ bảo hiểm xã hội chủ yếu là tầng lớp dân cư có thu nhập
bậc trung chứ không phải người nghèo. Còn với chính sách cứu trợ xã hội, mặc dù
người nghèo là một trong những diện được hưởng nhiều nhưng các trợ giúp
này( trừ một số trợ cấp dài hạn )thường có tính chất tức thì và ngắn hạn. Vì vậy,
xóa đói giảm nghèo được coi là giải pháp có tính lâu dài và bền vững, giúp người
nghèo thoát nghèo, tự đảm bảo cuộc sống của mình, góp phần tạo ra mạng lưới an
sinh toàn diện cho mỗi quốc gia.
- Thứ ba, xóa đói giảm nghèo , xét về lâu dài góp phần làm giảm gánh nặng cho hệ
thống ASXH thông qua việc thu hẹp đối tượng cần trợ cấp ASXH. Khi tỉ lệ người
nghèo giảm xuống tất yếu sẽ có ít người hơn cần trợ giúp của chính sách ASXH.
- Cuối cùng, xóa đói giảm nghèo tạo điều kiện cho chính sách ASXH tăng chất
lượng hoạt động thông qua việc tăng mức trợ cấp ASXH. Khi đói nghèo giảm và xã
hội giàu có hơn, các quỹ ASXH sẽ dồi dào hơn trong khi các đối tượng cần trợ cấp
ASXH cũng giảm. Vì vậy. người nghèo nói riêng và những người gặp khó khăn
nói chung có điều kiện để nhận mức trợ cấp ASXH tốt hơn.

3.Các chương trình xóa đói giảm nghèo
Các chương trình xóa đói giảm nghèo có thể chia ra làm 3 nhóm chính:
a. Nhóm các biện pháp tạo điều kiện cho người nghèo phát triển sản xuất tăng
thu nhập
1. Tín dụng ưu đãi cho người nghèo
2. Hỗ trợ đất sản xuất
3. Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu
4. Chương trình khuyến nông, lâm, ngư
5. Các chương trình hỗ trợ khác ( Tùy điều kiện cụ thể của mỗi nước)
b. Nhóm các biện pháp tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản
1. Hỗ trợ về y tế cho người nghèo
2. Hỗ trợ người nghèo vè giáo dục
3. Hỗ trợ người nghèo về nhà ở

7. Đảm bảo bền vững môi trường.
8. Thiết lập quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển.
Những mục tiêu này mang kết quả trực tiếp và gián tiếp xóa đói giảm nghèo
một cách bền vững bởi nguy cơ đói nghèo, tái đói nghèo đều có thể xảy ra trong
những biến cố của môi trường thiên nhiên, của quá trình hội nhập và phát triển.
Một quốc gia khi không giải quyết dứt điểm xóa đói giảm nghèo thì luôn ẩn chứa
nguy cơ phát triển không bền vững dẫn đến những hậu quả bất ổn định kinh tế - xã
hội. Những mục tiêu đó cũng gợi mở những phương thức tác động trực tiếp hay
gián tiếp đến việc xóa đói giảm nghèo.
PHẦN II . CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM TỪ 1945
TỚI NAY.
I.Quá trình thực hiện trước năm 1986
Trong thời kì từ năm 1945-1986, tình hình đất nước gặp nhiều khó khăn, chiến
tranh tàn phá nặng nề. Chính vì vậy trong thời kì này bên cạnh chống giặc ngoại
xâm thì giặc đói là rất quan trọng. Nên Nhà nước tập nhiều chính phát triển nông
nghiệp, đảm bảo ổn định lương thực quốc gia. Công cuộc xóa đói giảm nghèo ở
giai đoạn nay đi sâu vào ‘ Xóa Đói’.
1. Giai đoạn 1945-1954
Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chính
quyền Cách mạng ra đời chưa có thời gian củng cố, đã phải đương đầu với hàng
loạt khó khăn thách thức của “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm”. Đảng và
Nhà nước ta đã bắt tay ngay vào giải quyết những khó khăn cấp bách của đời sống
nhân dân, tăng cường thực lực cách mạng trên tất cả các phương diện chính trị,
quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.. Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, một
trong những chủ trương hàng đầu của Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí
Minh lãnh đạo là “diệt giặc đói”. Ngày 6/1/1946, tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu
tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trong thời kỳ này (1946-1954) kinh tế nông thôn và sản xuất nông nghiệp có
vị trí đặc biệt quan trọng nên cùng với việc động viên nông dân tích cực tăng gia


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status