Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
MỤC LỤC........................................................................................................1
A. LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................4
B. NỘI DUNG..................................................................................................6
PHẦN I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ AN NINH LƯƠNG
THỰC VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO..........................................................6
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN NINH LƯƠNG THỰC VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM
NGHÈO.........................................................................................................6
1. Cơ sở lý luận về an ninh lương thực..................................................6
1.1 Khái niệm về an ninh lương thực.....................................................6
1.2 Vai trò của an ninh lương thực........................................................9
1.3 Đặc điểm về đảm bảo an ninh lương thực ở nước ta.....................12
1.4 An ninh lương thực trong chuẩn nghèo mới...................................14
2. Cơ sở lý luận về xoá đói giảm nghèo................................................15
2.1 Khái niệm về đói nghèo..................................................................15
2.2 Đặc điểm và tính đa dạng của nghèo đói ở nước ta.......................16
2.3 Nguyên nhân của nghèo đói...........................................................17
II. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ ĐẢM BẢO AN NINH
LƯƠNG THỰC HƯỚNG XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO...............................18
1. Bài học kinh nghiệm về đảm bảo an ninh lương thực hướng tới
xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Hà Tĩnh......................................................18
2. Một số bài học kinh nghiệm rút ra từ việc thực hiện và chỉ đạo
chương trình an ninh lương thực và hướng tới xoá đói giảm nghèo
của Tỉnh Yên Bái...................................................................................26
PHẦN 2. THỰC TRẠNG VỀ AN NINH LƯƠNG THỰC VÀ TÁC
ĐỘNG CỦA AN NINH LƯƠNG THỰC TỚI XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
Ở VIỆT NAM.................................................................................................28
I. THỰC TRẠNG VỀ ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC VÀ XOÁ
ĐÓI GIẢM NGHÈO ................................................................................28
1. Thực trạng về đảm bảo an ninh lương thực ..................................28
nghề dịch vụ nông thôn, ổn định dân cư..............................................47
1.10 Thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia............................47
1.11 Đồng thời với các chính sách phát triển chung, phối hợp liên
ngành và địa phương thực hiện các chính sách đặc thù, gắn tăng
trưởng với xoá đói giảm nghèo trên từng địa bàn, trong từng cộng
đồng dân cư.........................................................................................47
2. Tình hình thực hiện chính sách đảm bảo an ninh lương thực quốc
gia thời kỳ 2001-2005............................................................................47
2.1 Về sản xuất lương thực thực phẩm.................................................47
2.2 Về thị trường lương thực và thực phẩm.........................................50
2.3 Về tiếp cận lương thực...................................................................52
III. TÁC ĐỘNG CỦA ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC ĐẾN XOÁ
ĐÓI GIẢM NGHÈO...................................................................................54
1. Sản xuất lương thực đảm bảo an ninh lương thực hướng xoá đói
giảm nghèo.............................................................................................54
2. Chính sách thị trường lương thực và lưu thông lương thực nhằm
cân bằng cung cầu lương thực để đảm bảo an ninh lương thực
hướng tới xoá đói giảm nghèo..............................................................56
3. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chuyển giao khoa học kỹ thuật để
đảm bao an ninh lương thực sẽ tác động tới xoá đói giảm nghèo ....58
IV. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
VỀ AN NINH LƯƠNG THỰC HƯỚNG TỚI XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
.....................................................................................................................59
1. Những kết quả đạt được về an ninh lương thực ............................59
1.1 Về sản xuất lương thực .................................................................59
1.2 Về thị trường lương thực và lưu thông lương thực .......................60
1.3 Về tiếp cận lương thực...................................................................61
2
hoá học, sinh học… đó chỉ là những thành công, những thành tựu mà con
người đã đạt được, tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đó thì còn có nhiều
vấn đề bất cập khó khăn mà đòi hỏi con người cần phải giải quyết. Một trong
những vấn đề bất cập đó chính là vấn đề nghèo đói vá an ninh lương thực.
Điều tưởng như nghịch lý ấy lại là một sự thất nó vẫn đang tồn tại song song
với quá trình phát triển của con người và nó vẫn thách thức con người trong
quá trình phát triển kinh tế xã hội để đi tới một xã hội văn minh tốt đẹp
hơn.Trên thực tế nghèo đói và an ninh lương thực nó đang thách thức con
người như là một "điểm nóng", một đề tài thời sự được cả loài người quan
tâm.
Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế xã hội để đi lên chủ nghĩa
xã hội hiện nay, thì vấn đề nghèo đói và an ninh lương thực đã được Đảng và
Nhà nước đặc biệt quan tâm và coi trọng. Nó được xem là chiến lược để phát
triển bền vững nền kinh tế, đưa nền kinh tế đất nước tiến lên trở thành nền
kinh tế có trình độ công nghiệp hoá hiện đại hoá cao, sánh vai với các nước
trên thế giới. Với quan niệm" nghèo đói và vấn đề an ninh lương thực là hai
lĩnh vực có mối quan hệ biện chứng với nhau, đảm bao an ninh lương thực
tức là góp phần giảm số lượng người nghèo và ngược lại giảm số lượng người
nghèo sẽ góp phần tăng cường khả năng đảm bảo an ninh lương thực". Mối
quan hệ này càng có ý nghĩa to lớn trong bối cảnh đất nước ta hiện nay, với
mục tiêu giảm nghèo ở Việt Nam trước mắt là giảm tình trạng nghèo về lương
thực, thực phẩm.
Với nhận thức và quan niệm về nghèo đói và an ninh lương thực như
vậy Việt Nam đã tìm mọi cách để phát triển đất nước, và trong quá trình phát
4
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
(
: 6.280.688
: 6.280.688
B. NỘI DUNG
PHẦN I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ AN NINH
LƯƠNG THỰC VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN NINH LƯƠNG THỰC VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM
NGHÈO
1. Cơ sở lý luận về an ninh lương thực
1.1 Khái niệm về an ninh lương thực
Quan điểm về an ninh lương thực:
Khoá họp lần thứ 8 của Uỷ ban lương thực thế giới đã đúc rút kinh
nghiêm hoạt động thực tiễn và nhấn mạnh quan điểm về an ninh lương thực.
Quan điểm về an ninh lương thực được hiểu theo nghĩa rộng và toàn diện.
Cần khắc phục quan điểm phiến diện bấy lâu cho rằng, an ninh lương thực
đồng nhất với giản đơn với việc mở rộng canh tác lương thực, an ninh lương
thực là nhiệm vụ của người sản xuất lương thực. Với quan điểm lệch lạc đó,
người ta không đề ra được những chính sách đồng bộ và đã làm cho an ninh
lương thực ngày càng xấu thêm và thêm nghiêm trọng.
Ở mỗi quốc gia cụ thể có đặc điểm tự nhiên, kinh tế, khoa học, văn
hoá… khác nhau chính vì thế quan điểm về an ninh lương thực ở từng quốc
gia cụ thể cũng sẽ phải cụ thể hoá theo các đặc điểm phù hợp đó, nhằm phù
hợp và có các giải pháp, chính sách và phát huy hiệu quả và đạt kết quả cao
trong việc đảm bảo an ninh lương thực cho quốc gia mình. Như vậy quan
điểm về an ninh lương thực ở các quốc gia là khác nhau nhưng quan điểm
chung về an ninh lương thực, bao gồm năm nội dung cơ bản sau:
Một là: Đảm bảo an ninh lương thực không có nghĩa là chỉ tập trung
vào việc đẩy mạnh sản xuất lương thực, mặc dù đó là điều kiện tiên quyết.
Trên thực tế, an ninh lương thực không chỉ đơn thuần như vậy. Bởi lẽ, ở
những nơi trong cùng một quốc gia thì cùng có những điều kiện tự nhiên, kinh
6
La-tinh buộc người ta phải đặc biệt lưu ý vấn đề này. Thực tế cho thấy, hàng
năm, hàng chục triệu tấn lương thực cứu trợ của cộng đồng quốc tế cho các
7
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
(
: 6.280.688
khu vực này. Tuy rất quan trọng nhưng cũng chỉ làm dịu bớt phần nào nạn đói
và bất an an ninh lương thực đang diễn ra nghiêm trọng ở hàng loạt các nước.
Việt Nam mặc dù là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới nhưng thực
tế Việt Nam nằm trong vùng thường xuyên xảy ra hạn hán, lụt lội… gây mất
mùa và gây hậu quả nghiêm trọng cho người dân vì thế nội dung này hiện nay
Việt Nam rất quan tâm và làm khá tốt, đối phó được mọi tình huống được
cộng đồng thế giới công nhận và khen ngợi.
Bốn là: Đảm bảo an ninh lương thực là đảm bảo cho mọi người tiếp cận
đủ lương thực. Khả năng tiếp cận này có thể thực hiện theo hướng sản xuất
(tự cung tự cấp) hoặc theo hướng thương mại (mua hay nhập khẩu lương
thực). Mỗi hướng tiếp cận đều phải có điều kiện thoả đáng. Hướng thứ nhất,
phải có các điều kiện thuận lợi như đất đai, nước tưới tiêu, khí hậu, vốn, công
nghệ, chương trình phát triển nông nghiệp thích hợp. Hướng thứ hai, cần phải
có khả năng thực lực về tài chính để nhập khẩu lương thực ở cấp quốc gia
cũng như mức thu nhập ở cấp hộ gia đình để mua đủ số lượng lương thực cần
thiết. Việt Nam có các điều kiện theo hướng thứ nhất, đó chính là việc tự cung
cấp lương thực để đảm bảo an ninh lương thực cho mình hơn nữa Việt Nam
hiện nay cũng đã tận dụng tốt ưu thế này thể hiện ở kết quả mà nhưng năm
qua Việt Nam đạt được.
Năm là: Đảm bảo an ninh lương thực là đảm bảo cho mọi người ở mọi
nơi, mọi lúc có đủ lương thực đồng thời sử dụng lương thực có hiệu quả để
có thể duy trì được mức dinh dưỡng cần thiết cho sức khỏe lâu dài.
Đảm bảo an ninh lương thực sẽ giúp cho mọi người đều được tiếp cận
với lương thực. Một quốc gia có phát triển bền vững hay không thì trước tiên
quốc gia đó phải có một nền chính trị ổn định, một nên kinh tế phát triển và
một nền văn hoá đặc trưng phù hợp… nhưng để có được điều đó thì trước tiên
quốc gia đó phải duy trì cuộc sống của các công dân trên lãnh thổ của mình để
thực hiện các công việc, duy trì sự hoạt động của cả quốc gia vì vậy muốn
duy trì được điều đó đòi hỏi các quốc gia sẽ phải quan tâm đến đời sống của
các công dân về mọi mặt như ăn, uống , ở, mặc, đi lại… để họ yên tâm làm
việc và giúp quốc gia đó phát triển.
9
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
(
: 6.280.688
Vấn đề quan trọng trước tiên đó chính là giải quyết vấn đề ăn cho
người dân, đòi hỏi các quốc gia phải có các chính sách, chiến lược về lương
thực, để đảm bảo an ninh lương thực hay nói cách khác thì các quốc gia phải
đảm bảo là mọi người dân trong quốc gia mình sẽ được tiếp cận với lương
thực, có đủ lương thực để đảm bảo duy trì cuộc sống và duy trì công việc.
Vậy đảm bảo an ninh lương thực sẽ có vai trò hết sức quan trọng, nó sẽ giúp
cho mọi người đều được tiếp cận với lương thực. Ở mỗi vùng khác nhau thì
việc tiếp cận lương thực lại theo các hướng khác nhau, như ở thành thị không
sản xuất được lương thực thì hướng tiếp cận là mua bán, trao đổi (thương
mại), còn ở các vùng như nông thôn sản xuất được lương thực nên việc tiếp
cận với lương thực sẽ theo hướng tự cung, tự cấp. Các vùng núi, vùng sâu,
vùng xa vừa sản xuất tự cung tự cấp, vừa thương mại trao đổi lương thực do ở
khu vực này sản xuất lương thực có năng suất thấp, diện tích gieo trồng ít, kỹ
thuật canh tác thấp kém, đi lại khó khăn nên tình trạng thiếu lương thực
thường xuyên xẩy ra gây nên tình trạng đói về lương thực. Điều này càng thể
Nhờ có đảm bảo an ninh lương thực với những chính sách và chiến lược hợp
lý nên lương thực đã đến và đảm bảo, ít xảy ra biến động về cung cầu cũng
như giá cả lương thực giúp cho người dân sử dụng lương thực yên tâm hơn và
tích cực làm việc, giúp cho các quốc gia, các vùng phát triển một cách bền
vững và ổn định.
Đảm bảo an ninh lương thực nhằm thực hiện nhanh quá trình xoá đói
giảm nghèo. Trên thế giới hiện nay vấn đề nghèo đói vẫn đang là vấn đề nóng
bỏng, đặc biệt là các quốc gia phát triển với tỷ lệ nghèo còn cao và đòi hỏi các
quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế đất nước phải tìm mọi cách để giảm
nghèo, giảm dần khoảng cách giữa các vùng. Ở Việt Nam, hiện nay trong quá
trình xoá đói giảm nghèo của mình thì việc giải quyết đẩu tiên đó chính là
giảm nhanh vấn đề nghèo về lương thực, thực phẩm để giải quyết vấn đề ăn
cho nhân dân, để họ yên tâm làm việc và thực hiện nhiệm vụ của mình, thúc
đẩy nhanh quá trình xoá đói giảm nghèo.
Đảm bảo an ninh lương thực cấp cơ sở tạo điều kiện để chuyển đổi cơ
cấu cây trồng, cơ cấu kinh tế nông nghiệp và kinh tế nông thôn. khi đảm bảo
an ninh lương thực thì chúng ta phải làm từ cấp cơ sở, bởi lẽ đối tượng để
11
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
(
: 6.280.688
chúng ta tác động chính là nông dân và họ đều sinh sống ở nông thôn và họ
sản xuất nông nghiệp là chính, vì vậy đảm bảo được an ninh lương thực cấp
cơ sở sẽ tạo điều kiện để chuyển đổi và phát triển kinh tế ở nông thôn. khi
đảm bảo an ninh lương thực chúng ta thực hiện sản xuất lương thực, đặc biệt
là thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và nó sẽ đem lại hiệu quả
kinh tế cao, có đủ lương thực đảm bảo cho người dân có lương thực để dùng
và có thể đem bán và sẽ tăng thu nhập, cải thiện đời sống, tạo điều kiện phát
Do thu nhập giữa các vùng, các địa phương là khác nhau và có sự
chênh lệch nên đảm bảo an ninh lương thực đói với từng vùng, từng địa
phương đối tượng là khác nhau.
Khu vực thành thị thu nhập cao, việc đảm bảo an ninh lương thực
không còn là việc đảm bảo vấn đề ăn về số lượng nà còn đảm bảo an ninh
lương thực còn phải là cả về số lượng, chất lượng, mẫu mã và văn hoá, đảm
bảo về dinh dưỡng, đảm bảo an ninh lương thực ở trình độ cao.
Khu vực nông thôn, đồng bằng có thu nhập thấp nhưng ở khu vực này
lại sản xuất được nhiều lương thực nên vấn đề đói về lương thực cũng không
đáng quan tâm vì thế đảm bảo an ninh lương thực ở khu vực này tiến dần tới
tăng thu nhập cho họ, sử dụng lương thực chất lượng , có dinh dưỡng cao và
sử dụng lương thực sạch, huy động dự trữ phòng trừ các tình huống xảy ra.
Vùng núi, vùng sâu, vùng xa, có thu nhập thấp, đói về lương thực xẩy
ra thường xuyên nên cần phải đảm bảo an ninh lương thực trước tiên là về số
lượng, giúp họ có lương thực để duy trì cuộc sống và tích cực thoát nghèo, tự
lo được cho mình.
Việt Nam nằm trong miền nhiệt đới gió mùa nên đảm bảo an ninh
lương thực có đặc điểm là đảm bảo an ninh lương thực với các biến động đột
xuất do những yếu tố khách quan đem lại như hạn hán, lũ lụt, mất mùa…
Thực tế cho thấy ở Việt Nam thời tiết luôn biến động thất thường mưa, bão,
lũ, hạn hán thường xuyên xẩy ra nên trong chương trình đảm bảo an ninh
lương thực của Việt Nam luôn quan tâm tới tình huống này nhằm đáp ứng
lương thực kịp thời cho người dân khi xẩy ra các tình huống đột suất từ đó
nhằm ổn định về kinh tế, chính trị đất nước, đưa đất nước phát triển bền vững.
13
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
(
: 6.280.688
(
: 6.280.688
2. Cơ sở lý luận về xoá đói giảm nghèo
2.1 Khái niệm về đói nghèo
Thế giới thường dùng khái niệm nghèo khổ và nhận định nghèo khổ
theo bốn khía cạnh về thời gian, không gian, giới và môi trường.
Về thời gian: Phần lớn người nghèo khổ là những người có mức sống
dưới “chuẩn” trong một thời gian dài để phân biệt với số người nghèo
khổ tình thế. Ví như những người thất nghiệp, những những người quá
nghèo do suy thoái kinh tế hoặc do thiên tai, dịch hoạ, tệ nạn xã hội ….
Về không gian: Nghèo đói diễn ra chủ yếu ở nông thôn nơi có đông dân
số sinh sống. Tuy nhiên tình trạng đói nghèo ở thành thị, trước hết là ở
các nước đang phát triển đang có xu hướng gia tăng.
Về giới: Nghèo đói là phụ nữ đông hơn nam giới. Những hộ gia đình
nghèo nhất là những hộ do phụ nữ là chủ hộ. Trong các hộ nghèo đói
do đàn ông làm chủ hộ thì phụ nữ khổ hơn nam giới
Về môi trường: Phần lớn người nghèo đều sống ở những vùng sinh thái
khắc nghiệt mà ở đó tình trạng đói nghèo và sự xuống cấp về môi
trường đều đang ngày càng trầm trọng thêm.
Từ bốn phía khía cạnh trên Liên hiệp quốc đưa ra hai khái niệm chính
về đói nghèo như sau:
Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng
những nhu cầu cơ bản tối thiểu. Nhu cầu cơ bản tối thiếu cho cuộc sống
là những đảm bảo ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở giao tiếp xã hội, vệ
sinh, y tế và giáo dục. Ngoài ra nhu cầu cơ bản nêu trên còn bao gồm
quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng.
Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức sống trung bình của cộng đồng tại địa phương đang xét
15
31%, Tây Nguyên 3%, Duyên Hải Miền Trung 9%.
16
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
(
: 6.280.688
Thiếu điều kiện cơ bản để sản xuất , hạ tầng cơ sử kém phát
triển, công cụ sản xuất thô sơ, thiếu vốn chưa tiếp cận được thị trường
tiêu thụ sản phẩm.
Thiếu kiến thức sản xuất do tình độ văn hoá kém, mù chữ
(15,2%), hoạt dộng chủ yếu trong lĩnh vực nông - lâm - ngư - nghiệp,
không có chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ lao động qua đào tạo ở những hộ
nghèo là bằng không.
Tập quán lạc hậu, nhất quán ma chay, cưới xin lãng phí và tốn
kém. Nhiều hộ ở dân tộc khi tổ chức ma chay còn bán cả trâu,bò mua
bằng tiền của vốn vay ngân hàng để nhờ thầy lang.
Người dân nhập cư đô thị thì không có việc làm ổn định, thu
nhập thấp, chưa được bình đẳng trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm
sóc sức khoẻ, giáo dục, một bộ phận con cái của họ vẫn lang thang
kiếm sống.
2.3 Nguyên nhân của nghèo đói
Nguyên nhân khách quan là xuất phát điểm của nền kinh tế nước ta khi
đổi mới thấp, do phải trải qua 30 năm chiến tranh, nguồn nhân lực của nhà
nước chưa đáp ứng ngay được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của các địa
phương và điều kiện tự nhiên không thuận lợi ở một số vùng.
Nguyên nhân chủ quan: Do tác động của chính sách chi tiêu cho y tế,
giáo dục và chính sách đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước chưa
cân đối giữa các cấp hành chính, giữa các vùng miền, giữa các ngành kinh tế
(giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa khu vực nông thôn với khu vực thành
thoát nghèo và hướng tới làm giầu. vì thế sản xuất lương thực có hiệu quả là
điều kiện tiền đề cho việc đảm bảo an ninh lương thực và từ đó hướng tới xoá
đói giảm nghèo.
Về thực phẩm:
Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm để đảm bảo lấy sức kéo( đối với
trâu, bò), đồng thời nâng cao sản lượng thịt gia súc, gia cầm theo hướng sind
18
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
(
: 6.280.688
hoá đàn bò và nạc hoá đàn lợn. So với năm 2001, năm 2005: đàn trâu 116.596
con, tăng 16,6%; đàn bò 181.839 con tăng 22,8% , đàn lợn 416.130 con tăng
24,1%, đàn dê 20.400 con tăng 58,9% , đàn hươu 11.340 con tăng 43,5% ,
đàn gia cầm 4.158.000 con tăng 15%. Tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị sản
xuất nông nghiệp từ 29,73% năm 2001 lên khoảng 32% năm 2005, hàng năm
cung ứng khoảng 40.000 tấn thịt hơi các loại
Ngoài lượng thịt gia súc gia cầm, các loại rau đậu thực phẩm khác khá
phong phú, diện tích và sản lượng đều tăng. So với năm 2001 thì năm 2005
sản lượng lạc đạt 35.053 tấn, tăng 39,6% sản lượng vừng đạt 540 tấn tăng
19,5%, sản lượng rau đậu đạt 68.900 tấn , tăng 10%.
Với kết quả đạt dược về sản xuất thực phẩm Hà tĩnh đã đảm bảo được
an ninh lương thực không chỉ về lương thực mà còn đảm bảo cả về thực
phẩm, đảm bảo về vấn đề dinh dưỡng cho mọi người dân,giúp đảm bảo sức
khoẻ đảm bảo duy trì các hoạt động sản xuất…
Về sức khoẻ và dinh dưỡng
Sự phát triển của kinh tế nói chung mà đặc biệt là sự tăng nhanh về số
lượng và chất lượng lương thực, thực phẩm nên đời sống của nhân dân không
ngừng được cải thiện một cách rõ rệt
Mục tiêu an ninh lương thực và xoá đói giảm nghèo phải đưa vào nghị
quyết củ tỉnh uỷ. Đặc biệt vấn đề an ninh lương thực được tỉnh Hà Tĩnh xác
định là mục tiêu hàng đầu, là cơ sở để phát triển bền vững, ổn định xã hội là
tiền đê để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội khác trong quá trình phát triển
kinh tế của tỉnh, mà trước tiên là mục tiêu xoá đói giảm nghèo. Trong chiến
lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh phát triển kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá hiện đại hoá thì trước tiên phải giải quyết được đòi nghèo, ngay cả
việc giải quyết đói nghèo mà còn chưa được thì không thể phát triển công
nghiệp dược vì vậy Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ làn thứ XIII nhiệm
kỳ(1991-1995) đã xách định:" Tập trung sản xuất nông nghiệp, coi trọng sản
xuất lương thực, thực phẩm. Phấn đấu đến hết năm 1995 đạt 30-33van tấn
lương thực, đưa bình quân lương thực đầu người đạt 250kg/người/năm". Tiếp
20
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
(
: 6.280.688
sau đó Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ làn thứ XIV nhiệm kỳ (1996-2000)
đã đè ra: " Sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm cơ bản
lâu dài để ổn định đời sống và tăng trưởng kinh tế. Phát triển mạnh , toàn diện
Nông - Lâm - Ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá và đảm bảo an ninh
lương thực hướng tới xoá đói giảm nghèo", và phát triển kinh tế của tỉnh theo
hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, phát triển bền vững và ổn định. Nghị
quyết Đảng bộ lần thứ XV nhiệm kỳ (2001-2005) tiếp tục khẳng định" tiếp
tục coi nông nghiệp và phát triển nông thôn là trong điểm".
Trên cơ sở nghị quyết của Tỉnh uỷ, UBND Tỉnh đề ra các chỉ tiêu cụ
thể, các giải pháp cụ thể tổ chức thực hiện, các chính sách khuyến khích phát
triển nông nghiệp nông thôn và bố trí kinh phí nhằm thực hiện các chính sách
đã ban hành.
sâu, vùng xa.
• Tranh thủ mọi nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
cho phát triển nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là xây dựng hệ thống thuỷ lợi
và phát triển hệ thống giao thông nông thôn.
Đây là hoạt động hết sức quan trọng nhằm mang lại hiệu quả thiết thực
vì mục tiêu an ninh lương thực hướng tới xoá đói giảm nghèo, vì nó đã tạo ra
cơ sở vật chất phục vụ cho sản xuất lương thực thực phẩm. Ngoài những công
trình xây dựng cơ bản tập trung của Nhà nước, thì đối với các công trình xây
dựng hạ tầng nông thôn, cần phân cấp quản lý, giao quyền chủ động về tài
chính, huy động nhân lực, năng lực sẵn có, quyền chủ động sáng tạo trong
điều hành cho địa phương, gắn với cộng đồng dân cư, với người hưởng lợi.
Kết quả xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn tỉnh Hà Tĩnh trong
những năm qua đã khẳng định: khi một chủ trương đúng đắn hợp lòng dân,
đem lại lợi ích trực tiếp cho người hưởng lợi thì sẽ huy động được tối đa sức
dân, đạt được những kết quả to lớn. Vậy kinh nghiệm cho thấy muốn phát
triển kinh tế của tỉnh lâu dài và bền vững thì việc phát triển cơ sở hạ tầng
nông thôn là hết sức quan trọng, nó là tiền đề, là nền tảng cơ bản cho sự phát
triển kinh tế của vùng và của tỉnh, nố không chỉ giúp đảm bảo an ninh lương
thực mà còn giúp bà con nông dân xoá đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu
chính trên mảnh đất quê hương mình, nó sẽ làm thay đổi bộ mặt kinh tế, xã
22
CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận
(
: 6.280.688
hội của nông thôn noi riêng và của tỉnh nói chung, vì thế nên đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng nông thôn là mục tiêu chiến lược trong quá trình phát triển kinh
tế và trong chiến lược thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước đó là
chương trình: Đảm bảo an ninh lương thực và chương trình mục tiêu quốc gia
kể góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế từ đó tích cực giảm
nghèo thể hiện ở tỉ lệ hộ nghèo giảm nhanh trong vong 5 năm.
Việc chuyển đổi cơ cấu mùa vụ là một điều hết sức có ý nghĩa trong sản
xuất lương thực trên đất Hà Tĩnh; nó đã làm thay đổi tập quán sản xuất lâu
đời của nông dân, chuyển hẳn từ sản xuất vụ mùa bấp bênh sang vụ Hè thu
chắc ăn, né tránh được bão lũ, lụt lội, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho
sản xuất cây vụ Đông, đặc biệt là cây ngô đông trên đất 2 lúa, đưa vụ Đông
thành vụ sản xuất chính. Qua đó sản lượng lương thực ngày một tăng lên cả
về số lượng và chất lượng qua đó đảm bảo được an ninh lương thực và hương
dần tơi xoá đói giảm nghèo ở một số địa phượng còn gặp khó khăn, và trước
tiên là giải quyết vấn đề đói về lương thực cho những vùng này. Giúp họ thoát
nghèo và vươn lên làm giàu rút ngắn khoảng cách về thu nhập giữa các vung
trong tỉnh.
• Đẩy mạnh công tác khuyến nông, nâng cao năng lực cán bộ khuyến
nông 3 cấp, đặc biệt là khuyến nông viên cơ sơ.
Phát huy vai trò của khuyến nông viên cơ sở và tăng cường hoạt động
của câu lạc bộ khuyến nông cấp thôn. Chính đây là lực lượng và là nơi để
chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật mới cho bà con nông dân, vì vậy cần bố trí
kinh phí để nâng cao năng lực cũng như hỗ trợ cho lực lượng khuyến nông
viên cơ sở. Đây chính là trọng tâm của việc đảm bảo an ninh lương thực từ đó
sẽ thúc đẩy tự túc lương thực và giúp bà con tư thoát nghèo dựa vào chính bản
thân mình và sự hướng dẫn của cán bộ khuyến nông cơ sở.
Phương thức xây dựng mô hình, các tiếp cận, chuyển giao phải phù hợp
với đặc điểm, điều kiện kinh tế xã hội, trình độ tập quán canh tác của người
dân. Việc xây dựng mô hình nhất thiết phải gắn với hộ nông dân, nông dân
góp vốn, ngày công lao động, Nhà nước chỉ hỗ trợ kỹ thuật, giống, vật tư chủ
yếu. Khi xây dựng mô hình có hiệu quả thì tiến hành các buổi hội thảo đầu bờ
để trao đổi học tập kinh nghiệm, phối hợp liên kết cộng đồng để triển khai ra
24
cao cuộc sống. Ngoài đẩy mạnh sản xuất, phát triển ngành nghề, đào tạo nghề,
25