593 Thực trạng và giải pháp nhằm bảo vệ người đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 23

mở đầu

1. Lý do nghiên cứu đề tài:
Đối với một nền kinh tế thị trờng thì thị trờng chứng khoán luôn đóng
một vai trò sống còn đối với sự phát triển và ổn định của cả nền kinh tế. Phát
triển và đảm bảo sự ổn định của thị trờng chứng khoán luôn là mối quan
tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới bởi thị trờng chứng khoán giúp
khơi thông các nguồn vốn trong xã hội và phân bổ một cách có hiệu quả các
nguồn vốn này vào những dự án đầu t mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Hiện nay, trên thế giới các học giả cũng nh các nhà quản lý kinh tế đang có
những quan điểm rất khác nhau về việc làm thế nào để tổ chức và quản lý thị
trờng chứng khoán một cách tối u, tuy nhiên, họ đều thống nhất ở một
điểm là các nhà đầu t luôn phải đợc coi là trọng tâm của thị trờng. Một
thị trờng chứng khoán sẽ không thể đóng vai trò là trung tâm huy động và
phân bổ vốn có hiêụ quả cho nền kinh tế khi các nhà đầu t không có niềm
tin vào thị trờng này hay nói cách khác là tiền bạc và các quyền lợi gắn liền
của họ không đợc tôn trọng và bảo vệ.
Thị trờng chứng khoán Việt nam đã bớc đầu đợc hình thành với sự ra
đời của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy
vậy, với đặc điểm là một thị trờng mới phát triển, các định chế hỗ trợ cho sự
phát triển của thị trờng cha đợc hình thành một cách đầy đủ và toàn diện,
việc quyền lợi của các nhà đầu t trên thực tế đợc bảo vệ nh thế nào đang
là một mối quan tâm hàng đầu không những của cơ quan quản lý mà còn cả
của các nhà đầu t tiềm năng trong nớc cũng nh giới đầu t quốc tế.
Từ khi đợc thành lập năm 1996 đến nay, Uỷ ban Chứng khoán Nhà
nớc luôn coi việc bảo vệ các nhà đầu t nh là một nhiệm vụ trung tâm của

1
mình. Tuy nhiên, việc các chính sách của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nớc
cũng nh pháp luật liên quan đợc thực thi và phát huy tác dụng nh thế nào
trong thực tế vẫn cha đợc nghiên cứu một cách thực sự toàn diện và đầy

Silanes, Andrei Shleifer, và Robert Vishny. Những nghiên cứu của các nhà
khoa học này hiện đang là những tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà
nghiên cứu khác cũng nh đa ra những cơ sở khoa học cho việc xây dựng
chính sách của các nhà quản lý thị trờng chứng khoán trên thế giới.
Tại Việt nam, do thị trờng chứng khoán mới ra đời nên vấn đề bảo vệ
các nhà đầu t trên thị trờng này vẫn là một vấn đề cha nhận đợc nhiều sự
quan tâm của các nhà khoa học. Gần đây, cùng với sự quyết tâm của Chính
phủ trong việc áp dụng các nguyên tắc quản trị công ty tốt đối với các công
ty niêm yết trên thị trờng chứng khoán vấn đề bảo vệ các nhà đầu t cũng
bắt đầu đợc nghiên cứu. Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại
ở một số bài viết nhỏ trên một có tính chất giới thiệu chứ cha thực sự là
những nghiên cứu một cách có hệ thống.

2. Mục tiêu nghiên cứu
Nh đã đợc đề cập, việc bảo vệ các nhà đầu t là một nhu cầu cấp bách của
các nhà quản lý thị trờng chứng khoán của Việt nam. Do vậy, đề tài đợc
thực hiện nhằm thu đợc một số mục tiêu sau nh sau:
Phát hiện những khiếm khuyết cần bổ sung của hệ thống này nhằm
bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các nhà đầu t.
Mức độ quyền lợi của các nhà đầu t đợc bảo vệ trong thực tế.
Các giải pháp và cơ chế nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của các nhà
đầu t tại Việt nam.

3. Phạm vi của đề tài

3
- Đề tài chủ yếu nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền lợi của các cổ đông
trên thị trờng cổ phiếu Việt Nam. Do vậy, những vấn đề liên quan
đến các nhà đầu t trái phiếu hay đầu t vào các công cụ khác nh
quyền lựa chọn, các hợp đồng tơng lai hay các chứng khoán ngắn hạn

vệ lợi ích nhà đầu t trên thị trờng chứng khoán
Thị trờng chứng khoán là huyết mạch của một nền kinh tế thị trờng.
Mục đích cơ bản của nó là cung cấp một kênh cho chính phủ và các công ty
nhằm huy động vốn trực tiếp từ các nhà đầu t những ngời có nguồn vốn
nhàn rỗi. Thị trờng thứ cấp, đến lợt nó, sẽ cung cấp một cơ chế định giá và
cho phép các nhà đầu t luân chuyển các nguồn vốn với nhau theo một cách
thức công bằng, hiệu quả và minh bạch. Tham gia hoạt động trên thị trờng
chứng khoán có rất nhiều đối tợng nh các tổ chức phát hành, niêm yết, tổ
chức kinh doanh chứng khoán, tổ chức cung cấp dịch vụ thị trờng, cơ quan
quản lý, nhng xét cho cùng thì nhà đầu t chứng khoán là một chủ thể
trung tâm của thị trờng, chủ thể chính của thị trờng. Nhà đầu t chứng
khoán đợc hiểu là ngời bỏ tiền ra mua chứng khoán, họ đầu t nhằm mục
đích thu lời trong tơng lai, mục đích của họ là thu lợi nhuận hoặc hạn chế
rủi ro tổn thất tài chính. Nếu không có nhà đầu t chứng khoán thì không thể
có thị trờng chứng khoán. Sở dĩ có thể nói nh vậy bởi vì đối với bất kỳ loại
hình thị trờng nào thì hai lực lợng cung và cầu hàng hoá của thị trờng đó
là hai lực lợng thiết yếu tạo nên một thị trờng. Một thị trờng không thể
tồn tại nếu thiếu một trong hai chủ thể cung hoặc cầu hàng hoá. Nhng, đối
với thị trờng chứng khoán, thì lực lợng cầu hàng hoá - tức là ng
ời đầu t
chứng khoán hay ngời mua chứng khoán, còn đóng vai trò quan trọng hơn

5
chủ thể cầu hàng hoá trên các thị trờng khác do chứng khoán là loại hàng
hoá đặc biệt hơn các loại hàng hoá thông thờng khác.
Hiện có nhiều quan niệm và cách phân lợi khác nhau về ngời đầu t
chứng khoán cũng nh có nhiều cách phân loại nhà đầu t chứng khoán.
Chẳng hạn có quan niệm phân biệt theo mục đích đầu t (phân biệt ngời
đầu t và ngời đầu cơ chứng khoán); hay ngời ta thờng phân loại ngời
đầu t theo tiêu chí tổ chức hoặc cá nhân; phân loại theo mức độ chuyên

Sở dĩ nh vậy bởi chứng khoán là một loại hàng hoá đặc biệt, khác với hàng
hoá thông thờng là ngời mua có thể đánh giá, kiểm tra ngay đợc giá trị sử
dụng, chất lợng của hàng hoá khi mua thông qua việc có ngay sản phẩm để
kiểm tra chất lợng, còn đối với hàng hoá là chứng khoán, nhất là cổ phiếu,
muốn đánh giá chất lợng của nó, ngời đầu t phải có đủ lợng thông tin
cần thiết, chính xác, và đặc biệt phải có khả năng phân tích, xử lý thông tin
thông qua những phơng pháp chuyên nghiệp. Ngời đầu t mua cổ phiếu
của một công ty không phải chỉ mua tài sản thanh lý của công ty, mà là mua
tiềm năng tạo ra lợi nhuận của công ty, đây là hàng hoá vô hình luôn chứa
đựng nhiều rủi ro. Hàng hoá này đợc định giá thông qua những thông tin
đánh giá tiềm năng tạo lợi nhuận, thông tin xác định những rủi ro có thể gặp
phải và các thông tin liên quan khác. Thực tế là ngời đầu t phải bỏ ra một
tài sản có thực là tiền, để đổi lấy một tờ giấy cam kết mà giá trị của nó phụ
thuộc vào rất nhiều yếu tố rủi ro, có thể làm cho nó trở thành không có chút
giá trị nào, nhng cũng có thể có giá trị rất lớn. Cũng chính vì vậy, bên cạnh
những rủi ro khách quan liên quan đến những vận động ngoài chủ ý của
ngời tham gia thị trờng, ng
ời đầu t thờng gặp nhiều rủi ro chủ quan
khác, đặc biệt là những rủi ro mang tính chủ định, cố ý xâm hại lợi ích của
ngời đầu t, có nguồn gốc từ những xung đột lợi ích với các đối tợng khác
tham gia thị trờng, chẳng hạn nh thiếu thông tin hay mất lợi thế có thông
tin sớm, thông tin quan trọng để xác định giá trị chứng khoán khi mua

7
bán; rủi ro gặp phải những hoạt động lừa đảo trên thị trờng; rủi ro khi bị
ngời khác lợi dụng lợi thế, vị thế để chiếm đoạt lợi ích; rủi ro khi bị lỗi do
dịch vụ thị trờng không hoàn thiện Khi gặp phải những rủi ro này, lợi ích
của ngời đầu t có thể bị xâm hại nghiêm trọng. Chính vì vậy, một thị
trờng vốn sẽ không thể phát triển hay sẽ không có ngời đầu t trên thị
trờng, nếu không đợc tạo ra những luật chơi, không có cơ chế quản lý,

t. Về cơ bản, tất cả chúng ta đều cùng hớng đến cùng một mục tiêu hệ
thống quản lý bảo vệ ngời đầu t và tính tin cậy của thị trờng và một thị
trờng cung cấp nhiều cơ hội đầu t đa dạng cho ngời đầu t và giàu nguồn
vốn cho doanh nghiệp. Tất cả chúng ta đều muốn có một hệ thống bảo vệ
ngời đầu t có hiệu quả, tránh đợc hoạt động lừa đảo và những hành vi lạm
dụng nh đã đợc phát hiện trong rất nhiều vụ scandal trên TTCK thế giới
thời gian qua. Tất cả chúng ta đều muốn thấy các nhà môi giới giao dịch, nhà
t vấn c xử với khách hàng của họ một cách trung thực, công bằng, và cung
cấp dịch vụ t vấn không bị ảnh hởng bởi lợi ích của chính họ.
Khi thị trờng có nhiều rủi ro, lòng tin của ngời đầu t bị suy giảm,
ng
ời đầu t sẽ trả giá thấp để mua cổ phiếu, hoặc sẽ rất khó khăn để thuyết
phục họ mua cổ phiếu, thậm chí kể cả khi các tổ chức phát hành làm ăn hiệu
quả. Nh vậy dẫn đến chi phí huy động vốn của các tổ chức phát hành sẽ
tăng. Các trờng hợp tranh chấp, kiện tụng sẽ làm tăng cao chi phí hoà giải,
xử lý và giải quyết hậu quả. Thực tế diễn ra còn cho thấy, đi kèm với những
gian lận, lừa đảo của thị trờng chứng khoán có thể dẫn đến sự đổ vỡ lan
truyền cho cả nền kinh tế nói chung, chứ không chỉ bó hẹp trong phạm vi thị
trờng chứng khoán.
Nghiên cứu thị trờng chứng khoán thế giới, chúng ta thấy rằng đối với
mỗi thị trờng, các yếu tố nh phạm vi quy mô và chiều sâu của thị trờng,

9
tiến độ và chi phí của các đợt phát hành chứng khoán mới, tính hiệu quả của
việc phân bổ nguồn vốn đầu tđều phụ thuộc vào việc thị trờng đó bảo vệ
ngời đầu t nh thế nào. Việc bảo vệ ngời đầu t bằng hệ thống luật pháp
cũng là căn cứ quan trọng để đánh giá các mô hình tài chính công ty ở các
nớc trên thế giới. Nghiên cứu cho thấy, ở các nớc có cơ chế bảo vệ ngời
đầu t kém thì thờng tồn tại các công ty tập trung sở hữu và kiểm soát, có
nghĩa là ít số lợng công ty đại chúng hoặc công ty ở nớc đó ít tính đại

xảy ra trên TTCK và những cơ chế cần có để bảo vệ nhằm tránh những xâm
hại này.
1.1.2.1 Lợi ích cổ đông bị xâm hại từ phía các công ty phát hành cổ
phiếu
Khi ngời đầu t mua cổ phiếu của một công ty, anh ta là cổ đông của
công ty phát hành cổ phiếu đó, hay là đồng chủ sở hữu của công ty cùng với
các cổ đông khác, vì vậy anh ta phải có đợc các quyền làm chủ sở hữu một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Với cách tổ chức thông thờng của một công ty
cổ phần hiện nay, có rất nhiều cách thức, mà nếu không đợc lu ý thì các
quyền và lợi ích của những cổ đông, đặc biệt là cổ đông nhỏ, không chuyên
nghiệp, sẽ bị xâm phạm. Đây là nhóm lợi ích lớn, quan trọng nhất và dễ bị
xâm phạm nhất. Để tìm đợc cách bảo vệ, cần phải hiểu rõ những cách thức
xâm hại lợi ích liên quan đến công ty phát hành, cổ đông lớn và ban quản lý
công ty.
- Vấn đề ngời trong cuộc và ngời ngoài cuộc
Các nhà đầu t nắm giữ một khối lợng lớn cổ phiếu (cổ đông lớn),
hay những ngời đợc lựa chọn để quản lý công ty (gọi là ngời trong
cuộc - insider) thờng nắm thông tin và kiểm soát công ty. Ngợc lại,
những ngời đầu t nắm giữ một lợng thiểu số cổ phiếu (cổ đông nhỏ),
không nằm trong số những ngời kiểm soát công ty (còn gọi là ngời ngoài

11
cuộc outsider) là ngời dễ bị tổn thơng do những ngời trong cuộc
chiếm đoạt tài sản.
Thông thờng, thuật ngữ đào ngạch-tunneling đợc dùng để mô tả
việc chuyển các nguồn lực của công ty ra khỏi công ty và vào tay những
ngời trong cuộc của công ty, làm tổn hại cho những cổ đông nhỏ của
công ty. Điều này có thể bao gồm cả việc ăn trộm công khai, tồn tại dới rất
nhiều hình thức và rất khó phát hiện và xử lý, ví dụ nh bán hoặc thuê mua
tài sản hay dịch vụ công ty cho những ngời trong cuộc với giá u đãi; hớt

hợp lý không?. Câu hỏi đặt ra là tại sao các công ty không muốn tự nguyện
công bố thông tin chính xác nếu pháp luật không bắt buộc? Mặc dù họ biết
rằng những công ty công bố thông tin hữu ích có thể thu hút nhiều nhà đầu t
cổ phiếu của họ và công ty có thể dễ dàng huy động vốn tài trợ? Thực tế cho
thấy, có rất ít công ty công bố thông tin xấu, trừ khi pháp luật yêu cầu. Trong
nhiều trờng hợp, rất nhiều công ty kinh doanh lâu năm có lãi, do thẳng thắn
công khai thông tin xấu, đã phải trả giá bởi việc tăng chi phí ngắn hạn cho
việc công khai sự thật về mình. Thứ hai là, không phải tất cả các nhà đầu t
đều hiểu biết, và một số hành vi bảo vệ của pháp luật (đặc biệt là bảo vệ khỏi
những hoạt động lừa đảo) là cần thiết để bảo vệ các nhà đầu t ít hiểu biết.
Mặt khác, thuận lợi về huy động vốn của việc tiết lộ thông tin đầy đủ có thể
lớn hơn so với những khó khăn phải cạnh tranh. Chẳng có công ty nào muốn
những ngời cạnh tranh biết đợc những chi tiết trong hoạt động kinh doanh
của mình. Hầu hết các công ty đối mặt với sự cạnh tranh quyết liệt hàng
ngày, trong khi việc tăng vốn chỉ là những hoạt động thi thoảng. Vì vậy, nếu
không có yêu cầu của pháp luật sẽ không đem đến việc tiết lộ thông tin hữu
ích.
Trên thị trờng chứng khoán, một hình thức xâm hại lợi ích khá đặc thù là
hình thức giao dịch nội gián, ở đây những ngời trong cuộc hay ngời

13
có liên quan với họ thờng lợi dụng vị thế kiểm soát công ty của mình, họ có
đợc u thế về thông tin, họ có đợc thông tin trớc, thông tin quan trọng
cha công bố của công ty, khi các cổ đông thiểu số cha biết đợc, để thu
lợi cá nhân thông qua việc lợi dụng thời cơ mua bán trớc cổ phiếu công ty.
Đây là một hoạt động không công bằng điển hình thờng xảy ra trên thị
trờng chứng khoán. Hành vi này không phải dễ phát hiện và xử lý tơng đối
phức tạp. Giao dịch nội gián đặc biệt luôn là đối tợng của việc giám sát ở
các nớc phát triển, tuy nhiên ở các thị trờng chứng khoán mới nổi vấn đề
này cha đợc coi trọng thích đáng.

khác nh môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành hay quản lý tài khoản
đầu t, thì sẽ tách đợc vấn đề xung đột lợi ích. Tuy nhiên, ở nhiều nớc,
trong đó có Việt nam, các dịch vụ này đợc phép do một tổ chức cung
ứng, nên không thể đảm bảo lợi ích cho ngời đầu t. Chẳng hạn nh
một công ty chứng khoán tổng hợp, có lợi ích từ dịch vụ môi giới, có
nghĩa là hởng phí môi giới giao dịch tỷ lệ với khối lợng chứng khoán
giao dịch cho khách hàng. Nếu công ty này cũng cung cấp dịch vụ t vấn
đầu t, thì tất yêú sẽ dẫn đến tình trạng t vấn sai lệnh để thuyết phục
khách hàng có quyết định giao dịch lớn và công ty sẽ hởng thêm lợi
nhuận từ giao dịch. Chính vì vậy, để bảo vệ ngời đầu t, rất nhiều nớc
trên thế giới đã tách độc lập hoạt động cung ứng dịch vụ t vấn đầu t
chứng khoán với môi giới và giao dịch chứng khoán, nhằm đảm bảo tính
khách quan trong hoạt động t vấn, đảm bảo nhà t vấn có đợc những
khuyến nghị hợp lý, cẩn trọng và trung thực.
- Đối với dịch vụ môi giới, dịch vụ này dễ bị lạm dụng khi công ty cung
ứng dịch vụ đồng thời hoạt động tự doanh. Vì lợi nhuận, ngời hoạt động
môi giới rất dễ lạm dụng tiền đặt cọc của khách hàng đầu t, hay tài

15
khoản chứng khoán của khách hàng. Ngoài ra, trên thực tế thờng xảy ra
những trờng hợp gian lận đánh tráo lệnh đặt mua bán của khách hàng
với lệnh của công ty khi thị trờng có biến động giá, làm mập mờ giữa
lệnh của khách hàng với lệnh của chính công ty để xâm hại lợi ích ngời
đầu t.
Một khía cạnh quan trọng khác dễ làm ảnh hởng đến lợi ích ngời
đầu t từ phía các trung gian môi giới chứng khoán là cách thức định giá
và lấy giá của họ khi mua bán cổ phiếu cho khách hàng. Đây là một vấn
đề luôn gây nhiều chú ý của các nhà quản lý thị trờng nhằm bảo vệ
ngời đầu t. Đây cũng là khía cạnh đợc coi là văn hoá đầu t của một
quốc gia. Để giảm thời gian và chi phí giao dịch, các nhà môi giới thờng

cả những ngời hành nghề. Nếu các khía cạnh nêu trên đây thể hiện đạo
đức hành nghề, làm thiệt hại cho ngời đầu t, thì kỹ năng hành nghề của
tất cả các đối tợng cung ứng dịch vụ cho ngời đầu t cũng có thể gây
thiệt hại cho ngời đầu t, do tính chất nghề nghiệp của lĩnh vực kinh
doanh này.
Bảo vệ ngời đầu t liên quan đến nhóm xung đột lợi ích này là một trong
những nhiệm vụ quan trọng của các nhà quản lý thị trờng. Thông thờng,
để bảo vệ lợi ích ngời đầu t trong nhóm này, cần có những cơ chế chống
lạm dụng tài khoản của ngời đầu t; giá cả phải đợc hình thành minh bạch
và tin cậy; ngời đầu t phải có đ
ợc dịch vụ thuận tiện, cẩn trọng và t vấn
hợp lý; các giao dịch nhầm lẫn phải đợc giải quyết và bồi thờng ; tránh
mất khả năng thanh toán cho ngời đầu t; đảm bảo năng lực và đạo đức
hành nghề của ngời cung ứng dịch vụ
1.1.2.3 Lợi ích bị xâm phạm từ phía các nhà đầu t khác
Hoạt động lừa đảo trên thị trờng chứng khoán, ngoài những hình thức
tơng tự nh ở tất cả các lĩnh vực khác nh bán chứng khoán giả, các loại

17
giấy tờ giả, lừa đảo, còn tồn tại một số hình thức hoạt động lừa đảo điển
hình để chiếm đoạt lợi ích của ngời đầu t khác, đó là hoạt động thao túng
giá cổ phiếu dới nhiều hình thức khác nhau nh tung tin đồn nhảm, sai sự
thật, che đậy, giấu diếm thông tin, tác động làm méo giá cổ phiếu trên thị
trờng, tạo ra thị trờng sôi động hay ảm đạm giả tạo, làm hiểu sai lệch tình
hình thị trờng, tác động đến tâm lý của ngời đầu t để họ có những hành vi
mua bán hớ, dẫn đến lợi ích bị chiếm đoạt. Điển hình là việc mua bán giả
tạo, không thay đổi quyền sở hữu thực sự, sử dụng các biện pháp giao dịch
giả tạo làm tăng, giảm hay biến động giá chứng khoán, ví dụ nh đồng thời
mua vào và bán ra cùng số lợng chứng khoán với cùng mức giá, liên tục
mua vào hay bán ra để làm tăng hay giảm giá, làm hiểu sai về tình hình thị

t.
- Đối với hệ thống giao dịch: cần đảm bảo tính thứ tự u tiên về giá, về
thời gian, tính chính xác;
- Đối với hệ thống lu ký chứng khoán, cần đảm bảo tính an toàn, tin
cậy, bí mật, chính xác;
- Đối với hệ thống thanh toán bù trừ: cần đảm bảo độ tin cậy của qúa
trình thanh toán bù trừ cũng là một trong những yếu tố cực kỳ quan
trọng. Độ tin cậy này đợc đảm bảo bởi các yếu tố sau:
+ áp dụng giao chứng khoán đồng thời với thanh toán tiền;
+ Hệ thống cho phép ngời đầu t có thể truy cập thông tin nhanh về
kết quả thanh toán.
+ Thanh toán qua hệ thống bút toán ghi sổ thay cho hệ thống chứng
chỉ.
+ áp dụng quỹ thanh toán phòng trừ rủi ro mất khả năng thanh toán

19
- Đối với hệ thống giám sát thị trờng: Chức năng giám sát thị trờng
của sở giao dịch đợc tăng cờng bởi hệ thống giám sát điện tử .
- Đối với hệ thống công bố thông tin thị trờng: Kịp thời, thông qua các
phơng tiện tiện lợi cho ngời theo dõi, thông tin đầy đủ để ngời đầu
t có thể đánh giá và phân tích thị trờng.

Từ quan điểm bảo vệ nhà đầu t cá nhân, anh ta đợc bảo vệ tốt nhất
thông qua khả năng có thể lựa chọn dịch vụ mà anh ta muốn và những điều
kiện mà anh ta muốn, trong một thị trờng đợc quản lý tốt và công khai, nơi
có nhiều nguồn cung ứng và có nhiều ngời cạnh tranh tìm kiếm cái mà anh
ta cung cấp. Sự nỗ lực cản trở thị trờng trở thành độc quyền hoặc gần nh
độc quyền dờng nh lại dẫn đến làm giảm sự cạnh tranh và tăng chi phí cho
ngời sử dụng.


Họ dễ hy sinh lợi ích của ngời đầu t và đứng về phía lợi ích của các
tổ chức phát hành, công ty chứng khoán. Để bảo vệ lợi ích của ngời
đầu t, không thể không quản lý, giám sát hoạt động của các công ty
kiểm toán trên thị trờng xét cả từ góc độ đạo đức hành nghề lẫn năng
lực hành nghề.
1.2 Nội dung và phơng pháp bảo vệ nhà đầu t cổ phiếu trên TTCK
(cơ chế bảo vệ)
1.2.1 Nội dung bảo vệ ngời đầu t
Căn cứ vào cơ chế xâm hại lợi ích cổ đông thờng xảy ra trên thị
trờng chứng khoán nh đã trình bày trong mục1.2 trên đây, các chủ thể
quản lý hoặc tham gia thị trờng sẽ đa ra những cơ chế bảo vệ ngời cổ
đông rất đa dạng. Những nội dung cơ bản nhất nhằm bảo vệ ngời đầu t cổ
phiếu có thể đợc nhóm vào các nhóm nh sau:

21
(i) Nhóm 1: Cơ chế bảo vệ nhằm tránh các hành vi xâm hại lợi ích từ phía
tổ chức phát hành chứng khoán, hay chính xác hơn là từ phía các cổ đông
nắm quyền kiểm soát công ty và các nhà quản lý công ty, cần tạo ra cơ chế
để các cổ đông nhỏ thực sự có đợc các quyền cổ đông đối với công ty, trong
đó bao gồm các quyền tham gia quản lý trực tiếp hoặc gián tiếp công ty,
quyền đợc giám sát quản lý và hoạt động của công ty, quyền có đợc thông
tin cân xứng với các cổ đông khác, quyền đợc thông tin đầy đủ, chính xác
và kịp thời; quyền đợc nhận cổ tức/cổ phiếu tơng đơng với những cổ
đông lớn; quyền đợc biểu quyết những vấn đề quan trọng của công ty trong
đó có quyền đợc bầu hội đồng quản trị công ty; và quyền đợc bồi thờng
và quyền đợc khởi kiện công ty vì những tổn thất công ty gây ra. Song song
với nó là việc đảm bảo trách nhiệm quản lý công ty trung thực, công bằng,
không lạm dụng lợi ích chung của công ty. Đây là nhóm nội dung quan trọng
nhất trong việc bảo vệ lợi ích cổ đông. Nội dung của nhóm này đảm bảo rằng
ngời đầu t phải nhận đợc thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác và công

chính xác tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của công ty hay không
- phụ thuộc vào chất lợng hệ thống kế toán kiểm toán của một thị trờng.
Bởi vậy, một hệ thống kế toán kiểm toán tốt là một lợi thế để bảo vệ ngời
đầu t trên thị trờng.
Trong cơ chế này, những hành vi mua bán chứng khoán nội gián do có đợc
lợi thế thông tin sẽ bị xử phạt nặng.
Quyền tham gia quản lý công ty gián tiếp (antidirector right)
Liên quan đến các quyền của ngời đầu t trong công ty phát hành,
quyền tham gia quản lý gián tiếp công ty, cổ đông là những ngời sở hữu

23
công ty mà họ đầu t vào nên họ có quyền tham gia quản lý trực tiếp hoặc
gián tiếp. Bộ máy quản lý, bao gồm cả hội đồng quản trị, phải do cổ đông
bầu ra và có trách nhiệm với cổ đông. Nhng ở hầu hết các nớc và các công
ty đợc khảo sát, thực tế thì những cổ đông đợc quyền quản lý và kiểm soát
công ty (ngời trong cuộc) có quyền hạn lớn hơn nhiều so với các cổ đông
thiểu số (ngời ngoài cuộc).
Điều đầu tiên một cổ đông cần có là thông tin về kế toán chính xác và
các thông tin khác. Giả sử một cổ đông có đợc một số thông tin và không
đồng ý với định hớng kế hoạch hoạt động của công ty, anh ta có hai cách
giải quyết, đó là bầu cử hoặc thoát ra khỏi t cách cổ đông. Sử dụng quyền
bầu cử, anh ta có thể cố gắng lựa chọn một hội đồng quản trị mới để thay thế
hội đồng cũ trong một đại hội cổ đông thờng niên. Sử dụng cách thoát ra,
anh ta sẽ bán cổ phiếu cho ngời chủ mới. Cả hai cách này đều yêu cầu phải
đợc luật pháp bảo vệ tích cực.
Tiếp đến là những vấn đề liên quan đến quyền biểu quyết của cổ đông.
Một cổ phiếu một quyền biểu quyết: ở một số nớc, nguyên tắc một cổ
phiếu một quyền biểu quyết đợc luật quy định bắt buộc. Điều này đảm
bảo rằng giá trị kinh tế và quyền bầu cử luôn đi liền với nhau. Rất nhiều
nớc trên thế giới, tuy nhiên, cho phép rất nhiều cơ cấu tách biệt quyền biểu

cần phải bảo vệ cơ chế này. Ví dụ ở Mỹ, quy định chi tiết về uỷ quyền qua
th đợc quy định bởi Uỷ ban Chứng khoán Mỹ, không những chỉ yêu cầu
công ty phải cho phép biểu quyết thông qua th uỷ quyền mà còn bắt buộc
công ty cho phép cổ đông đợc gửi th phản đối khi không tán thành. Th
tranh luận uỷ quyền (the proxy contests) là đặt ra những vị thế theo hai phía
trong một văn bản uỷ quyền, đợc gửi cho Uỷ ban chứng khoán và gửi cho
tất cả các cổ đông. Thực tế thì th tranh luận uỷ quyền tơng đối hiếm có,

25

Trích đoạn Nhẹn thục cĐa nhÌ ợđu t− vồ mục ợé bộo vơ quyồn lỵi cĐa cĨc nhÌ ợđu t− cho rững thỡng tin cỡng bè cĐa tă chục niởm yỏt khĨ minh bĨch Cờu 31 TÝnh ợđy ợĐ cĐa phĨp luẹt vồ CK vÌ TTCK Nờng cao nÙng lùc ợiồu hÌnh vÌ giĨm sĨt cĐa cĨc cŨ quan quộn lý nhÌ n−ắc PhĨt triốn cĨc tă chục tù quộn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status