VẤN ĐỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TRONG LÝ LUẬN VĂN HỌC Ở VIỆT NAM TỪ1975 ĐẾN NAY - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH
VẤN ĐỀ CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC
TRONG LÝ LUẬN VĂN HỌC Ở VIỆT NAM
TỪ 1975 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC


LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2008

1
MỤC LỤC
trang
MỤC LỤC…………………………………………………………..…...................1
MỞ ĐẦU……………………………………………………………………............3
Chương 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHUNG VỀ VẤN ĐỀ CHỦ
NGHĨA HIỆN THỰC TRONG LÝ LUẬN VĂN HỌC
Ở VIỆT
NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY
................................................................. 10
1.1. Cơ sở xã hội và tư tưởng: .............................................................................. 10
1.1.1. Cơ sở xã hội:
...................................................................................................10
1.1.2. Cơ sở tư tưởng:
...............................................................................................15
1.2. Tình hình nghiên cứu: ................................................................................... 22

3.3. Văn học phản ánh hiện thực:....................................................................... 108
3.3.1. Khái niệm hiện thực:
....................................................................................108
3.3.2. Vấn đề văn học phản ánh hiện thực:
..........................................................115
3.4. Vị trí và quan hệ của chủ nghĩa hiện thực:.................................................. 131
3.4.1. Vị trí của chủ nghĩa hiện thực:
....................................................................131
3.4.2. Mối quan hệ của chủ nghĩa hiện thực với các trào lưu, phương pháp
sáng tác khác:
.................................................................................................136
3.5. Xu hướng vận động và phát triển của chủ nghĩa hiện thực:........................ 142
KẾT LUẬN ………………………………………………………………….….153
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 157
3
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài:
Sáng tác văn học có hai kiểu chính là hiện thực và lãng mạn. Bêlinxki từng đề
nghị hai kiểu sáng tác này là kiểu sáng tác tái hiện và kiểu sáng tác tái tạo. Kiểu sáng
tác tái tạo thiên về bộc lộ những yếu tố chủ quan hơn là phản ánh thế giới khách
quan, bày tỏ lý tưởng hơn là mô tả thực tại. Kiểu sáng tác tái hiện lại quan tâm trước
hết đến mảnh đất thực tại và luôn tôn trọng sự th
ực khách quan, mô tả cuộc sống
như nó vốn có hơn là cần có. Cả hai kiểu sáng tác ấy đều có vẻ đẹp riêng và không ít
khi cùng hiện diện trong từng tác phẩm cụ thể.
Tuy nhiên, khi đến với văn chương, con người mong muốn làm giàu cho

nghĩa hiện thực cấu trúc, chủ nghĩa hiện thực tâm lý,… đã ra đời, cho thấy đây là
một hiện tượng không ngừng vận động và phát triển.
Vì những lẽ đó, chủ nghĩa hiện thực luôn chiếm một vị trí đáng kể trong lý
luậ
n văn học. Các nền lý luận văn học lớn trên thế giới đều dành sự quan tâm đặc
biệt cho chủ nghĩa hiện thực. Tính đến nay, chủ nghĩa hiện thực đã ra đời gần 2 thế
kỷ, nhưng vấn đề này vẫn gợi cảm hứng cho các nhà lý luận trong những công trình
nghiên cứu cũng như trong các cuộc trao đổi, tranh luận. Tình hình nghiên cứu sôi
động trên thế giới thời gian qua không cho phép các nhà nghiên cứu Vi
ệt Nam xem
đây như một cái gì đã hoàn tất, mà phải liên tục nhận thức lại vấn đề để có được một
cái nhìn sâu sắc, toàn diện và tiến bộ về chủ nghĩa hiện thực. Từ năm 1975 đến nay,
xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi quan trọng. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu
lý luận nói chung và chủ nghĩa hiện thực nói riêng cũng có những dấu hiệu mới.
Nghiên cứu “Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong lý luận văn học ở Việt Nam từ
1975 đến nay” là một cơ hội để chúng ta nhận diện, đánh giá vấn đề lý luận không
mới này trong điều kiện, hoàn cảnh xã hội mới.
2. Lịch sử vấn đề:
Từ khi xuất hiện trong lý luận văn học Việt Nam đến nay, chủ nghĩa hiện
thự
c luôn là một vấn đề nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu. Được
giới thiệu trong nhiều công trình dịch thuật, có mặt trong những bộ giáo trình sử
dụng chung cho cả nước, xuất hiện trên nhiều tạp chí, tờ báo quan trọng, trong các
tập tiểu luận phê bình được đánh giá cao, là tâm điểm của nhiều cuộc tranh luận văn
học, chủ nghĩa hiện thực đã và
đang là một trong những vấn đề quan yếu của lý luận
văn học Việt Nam. Tuy nhiên, bức tranh toàn cảnh về tình hình nghiên cứu chủ
nghĩa hiện thực trong lý luận văn học ở Việt Nam lại chưa được một công trình nào
như vị trí của chủ nghĩa hiện thực.
Sau thời kỳ đổi mới, tính từ Đại hội Đảng lần thứ VI tháng 12 năm 1986,
việc đánh giá tình hình nghiên cứu lý luận nói chung và chủ nghĩa hiện thực nói
riêng được quan tâm nhiều hơn. Với cuốn Trao đổi ý kiến - Mấy vấn đề lý luận văn
nghệ trong sự nghiệp đổi mới (Nxb. Sự thật, 1991), Hà Minh Đức đã tập hợp các 6
bài viết về văn nghệ trong quá trình đổi mới. Những bài viết như Đổi mới và quy
luật của Phan Cự Đệ, Văn học trên con đường đổi mới của Nguyễn Văn Hạnh, Đôi
nét về một tư duy văn học đang hình thành của Nguyên Ngọc, Góp một cách nhìn
tình hình văn nghệ hiện nay của Ngô Thảo, Đôi điều về sách văn học hôm nay của
Vũ Tú Nam,…đã bước đầu đánh giá về những ưu, nhược của văn nghệ ta trên con
đường đổi mới. Tương tự như vậy, những bài viết như Lý luận trước yêu cầu đổi
mới và phát triển của Phan Trọng Thưởng (Tạp chí Nghiên cứu văn học số
12/2004), Mấy ghi nhận về thành tựu của lý luận văn học trong thời kỳ đổ
i mới của
Nguyễn Duy Bắc (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 1/2005) cũng không ngoài nội
dung đó. Có điều, những bài viết này chủ yếu nhận định về tình hình nghiên cứu
chung hơn là tình hình nghiên cứu vấn đề chủ nghĩa hiện thực. Chỉ với những bài
viết như Suy nghĩ và kiến nghị xung quanh vấn đề đổi mới lý luận văn học của
Ph
ạm Vĩnh Cư (Tạp chí Nghiên cứu văn học số 12/2004), Suy nghĩ về một vài
hướng tìm tòi đổi mới trong văn học của Hà Minh Đức, (Tạp chí Nghiên cứu văn
học số 4/2006), những suy nghĩ về tình hình nghiên cứu chủ nghĩa hiện thực mới
được đề cập. Đặc biệt, trong công trình Về một số vấn đề lý luận văn nghệ cơ bản
đang
được tranh luận qua công cuộc đổi mới (1987 – 1992), vấn đề được trình bày
tập trung hơn. Đây là một đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ do Lê Bá Hán làm chủ
nhiệm, hoàn thành năm 1993. Công trình này đã dành chương 1 để bàn về vấn đề

phái, phương pháp sáng tác khác nếu
được nhắc đến chỉ đóng vai trò là một yếu tố
tương tác, soi chiếu để làm rõ thêm vấn đề. Người viết cũng không đi sâu nghiên
cứu chủ nghĩa hiện thực thể hiện ở những tác giả và tác phẩm cụ thể mà chủ yếu
khai thác những quan niệm, những bàn luận về chủ nghĩa hiện thực. Để thực hiện
công việc đó, người viết sẽ
tiến hành các thao tác nghiên cứu trên cơ sở dữ liệu là
các bộ giáo trình, các tập tiểu luận, phê bình, chuyên khảo của các tác giả Việt Nam
có liên quan đến vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong giai đoạn từ 1975 đến nay. Bên
cạnh đó, người viết cũng sử dụng những công trình dịch thuật từ lý luận văn học
nước ngoài được giới thiệu ở Việt Nam từ 1975 đến nay, với t
ư cách là kết quả của
việc tiếp nhận và giới thiệu chủ nghĩa hiện thực của các nhà nghiên cứu Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Thực hiện luận văn này, chúng tôi đã sử dụng kết hợp các phương pháp sau:
Phương pháp lịch sử: tìm hiểu bối cảnh xã hội Việt Nam sau năm 1975 để
thấy được sự tác động của hoàn cảnh lịch sử đối vớ
i các nhà nghiên cứu, trên cơ sở
đó, tìm hiểu tình hình nghiên cứu vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong lý luận văn học ở 8
Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử từ 1975 đến nay, nhằm làm rõ sự vận động và phát
triển của chủ nghĩa hiện thực.
Phương pháp hệ thống: hệ thống hóa các quan điểm, ý kiến khác nhau về
chủ nghĩa hiện thực thành những hướng nghiên cứu, những vấn đề nhất định để tiện
theo dõi và đánh giá.
Phương pháp so sánh: so sánh chủ nghĩa hiện thực vớ
i chủ nghĩa lãng mạn,
chủ nghĩa tự nhiên,…, để có cái nhìn khách quan và đúng đắn về chủ nghĩa hiện

để nắm bắt được quan niệm của giới nghiên cứu trong giai đoạn mới về vấn đề này.
Thực tiễn sáng tác hiện nay ngày càng phong phú và phức tạp, kết quả đánh giá quá
trình đổi mới lý luận thời gian qua của luận văn sẽ giúp cho việc tiếp nhận tác phẩm
văn học dễ dàng và hiệu quả hơn.
7. Cấu trúc của luận văn:
Luận văn gồm 3 phần:
Phần mở đầu
Các chương:
Chương 1: Tình hình nghiên cứu chung về vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong
lý luận văn học ở Việt Nam từ 1975 đến nay
Chương 2: Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong các giáo trình lý luận văn học
Việt Nam từ 1975 đến nay
Chương 3: Vấn đề chủ nghĩa hiện thực trong các tiểu luận, chuyên khảo về lý
luận văn họ
c ở Việt Nam từ 1975 đến nay
Phần kết luận 10
Chương 1
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHUNG VỀ VẤN ĐỀ
CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC TRONG LÝ LUẬN VĂN HỌC
Ở VIỆT NAM TỪ 1975 ĐẾN NAY

1.1. Cơ sở xã hội và tư tưởng:
1.1.1. Cơ sở xã hội:
Từ xưa đến nay, như đã thành một quy luật, hễ lịch sử có sự thay đổi thì
trong văn học nhất định cũng có những đổi thay. Chứng kiến sức ảnh hưởng lớn
lao của cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại đối với văn học dân tộc chưa lâu, nay,
chúng ta lại chứng kiến thêm m

trong giai đoạn này như sau: “Thời kỳ này diễn ra một cuộc đối chứ
ng giữa
nhân cách và phi nhân cách, giữa hoàn thiện và chưa hoàn thiện, giữa ánh sáng
và những khoảng bóng tối còn rơi rớt bên trong tâm hồn của mỗi con người”.
Tuy nhiên, cuộc sống xã hội bên ngoài và cuộc sống âm thầm bên trong
mỗi con người càng phức tạp bao nhiêu thì lại càng có lợi cho văn học bấy
nhiêu, bởi việc mở rộng đề tài bao giờ cũng đem lại sự phong phú, đa dạng về
phong cách. Say sưa với mảnh đấ
t màu mỡ, trong Gặp gỡ cuối năm, nhà văn
Nguyễn Khải đã thổ lộ: “Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang bề
bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy dẫy những biến động,
những bất ngờ, mới thật là mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ”.
Một khi những người cầm bút đã bắt được mạch nguồn cảm hứng thì văn học
nhất định hứa hẹn một vụ mùa bội thu. Nhờ đó, nền văn học của nước nhà có
thêm một sức sống mới. Là người đi trước dẫn đường, đồng thời lại là người đi
sau để đúc rút kinh nghiệm, lý luận văn học do đó cũng sẽ có sự vận mình.
Giành được độc lập, nhân dân ta bắt tay ngay vào củng cố nền hòa bình
vững chắc và ki
ến thiết đất nước. Bên cạnh việc phát huy nội lực, tranh thủ sức
mạnh bên ngoài là một chủ trương mang tính chiến lược của Đảng và Nhà nước
ta. Do vậy, các mối quan hệ với thế giới bên ngoài ngày càng được mở rộng.
Việc đẩy mạnh hội nhập với thế giới ở nhiều lĩnh vực đã tạo điều kiện cho sự
đổi mới văn h
ọc. Trong Góp một cách nhìn tình hình văn nghệ hiện nay, Ngô
Thảo viết: “Đất nước giải phóng đã cho chúng ta thời cơ được giao lưu, tiếp 12
xúc một cách rộng rãi với văn hóa văn nghệ thế giới. [29, tr.135]. Trong xu thế
hội nhập, giao lưu văn hóa nói chung, văn học nói riêng, lý luận văn học cũng có

nước nhà, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu” [85, tr.17]. Như vậy, hiệu 13
quả cũng mới chỉ là bước đầu. Việc giao lưu có thực sự đạt hiệu quả như mong
đợi hay không còn tùy thuộc vào bản lĩnh của các nhà lý luận Việt Nam. Phải
làm sao giới thiệu cho công chúng những nguồn thông tin phong phú, đồng thời,
phải định hướng tốt cho người đọc, giúp họ biết gạn đục khơi trong giữa biển
kiến thức mà cái đúng và cái sai, cái nhất thời và cái muôn đời, cái tinh hoa và
giấy lo
ại luôn cùng tồn tại.
Nếu như quá trình giao lưu, hội nhập với thế giới đem lại nhiều cơ hội và
thách thức cho văn học nói chung và lý luận văn học nói riêng thì sự phát triển
của khoa học kỹ thuật cũng là một tiền đề tốt, đồng thời cũng là một thách thức
đối với quá trình sáng tạo, nghiên cứu và phổ biến văn học. Thật vậy, nhờ vào
công nghệ in ấn tiên tiến, việc xuất bản sách trở nên nhanh chóng hơn, nhờ các
phương tiện truyền thông và giao thông hiện đại, văn học đến với người đọc
mau lẹ hơn. Trong bài Văn học trở thành hàng hóa và văn học trong cơ chế thị
trường, Phong Lê đã nhận định: “tác động của khoa học kỹ thuật ở đây là đã
giúp cho sự phổ cập rộng hơ
n và giao lưu nhanh hơn của văn học. Trên khía
cạnh này mà xét thì văn học không bị chèn lấn mà còn có thêm phương tiện để
chuyên chở và phát huy tác dụng” [50, tr.464]. Thế nhưng, không chỉ là một
phương tiện hỗ trợ cho văn học, khoa học kỹ thuật còn là một thử thách của văn
học. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã tạo thêm nhiều hình thức giải trí,
nhiều cách thức khai thác thông tin cho con ng
ười, thu hút sự quan tâm của công
chúng. Văn học một mặt vẫn tiếp tục phát triển dựa trên sự phát triển của khoa
học kỹ thuật, mặt khác, vẫn không ngừng chạy đua để không đánh mất vị trí đặc
biệt của mình. Trước tình hình đó, lý luận văn học cũng phải luôn đổi mới để

thời cơ được giao lưu, tiếp xúc một cách rộng rãi với văn hóa văn nghệ thế giới.
Đó là mặt tích cực của tình hình. Nhưng do thiếu công tác tổ chức khoa học, các
c
ơ quan xuất bản lại thả nổi trong thương trường” [29, tr.135]. Cho nên, một
khi chấp nhận coi sách là một hàng hóa trong nền kinh tế thị trường, các nhà
quản lý phải có những chính sách hợp lý để kiểm soát thị trường sách, đồng thời
có những chính sách hỗ trợ thích đáng đối với những người viết sách cũng như
xây dựng một hệ thống kiểm định khách quan và chặt chẽ đối với loại hàng hóa
nhạy cảm này.
Tóm lại, xã hội Việt Nam sau 1975 là một xã hội của nhiều vận hội và
thử thách. Văn học nói chung và lý luận văn học nói riêng giờ đây cũng chịu sự
chi phối của quy luật mới – quy luật đời thường với những thuận lợi và khó 15
khăn riêng, song phần thuận lợi vẫn là đáng kể hơn. Đất nước độc lập, nhân dân
được tự do, đội ngũ các nhà lý luận có điều kiện chuyên tâm vào công việc
nghiên cứu của mình. Môi trường giao lưu văn hóa cởi mở là cơ hội lý tưởng để
các nhà lý luận Việt Nam được tiếp xúc với hệ thống các quan điểm hiện đại
trên thế giới, đưa nền lý luận Việ
t Nam bắt nhịp với sự phát triển chung của nền
lý luận hiện đại thế giới. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật sẽ là nhịp cầu đưa
các nhà lý luận của Việt Nam và thế giới đến gần nhau hơn, đến gần độc giả
hơn, đồng thời cũng cung cấp cho họ những phương tiện mới để khám phá giá
trị cũng như n
ắm bắt các quy luật của văn chương tốt hơn. Nền kinh tế thị
trường sẽ là một cuộc cạnh tranh tự do, bình đẳng. Đó sẽ là sàn đấu mà chỉ
những ai có đủ bản lĩnh mới trụ lại được. Với những thuận lợi ấy, chúng ta đã có
đủ lạc quan để vượt qua những khó khăn và thử thách. Đây chính là vận hội mới
cho sự đổi m

dạng, đa chiều của cuộc sống sau chiến tranh, nếu không muố
n nói là trong
nhiều trường hợp, đã trói buộc người cầm bút và tạo nên những tác phẩm kém
giá trị. Yêu cầu đổi mới văn học ngày càng trở nên bức thiết, từ quan niệm nghệ
thuật, quan niệm về hiện thực, quan niệm về con người, đến các thủ pháp nghệ
thuật. Yêu cầu này chỉ được thỏa mãn khi Đảng ta chủ trương công cuộc đổi
mới toàn diện.
Nếu như
đổi mới chính trị và đổi mới kinh tế là quyết định, có ý nghĩa
sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của chế độ, của đất nước thì đổi mới
trong văn hóa văn nghệ đã thực sự cởi trói cho người cầm bút, mang lại một sinh
khí mới cho nền văn nghệ đang mất dần sức sống. Nghị quyết của Đại hội VI
nêu rõ: “Chính sách xã hội nhằm phát huy mọi khả năng của con người và lấy
việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất”. Đây chính là sự thể hiện nhận
thức mới về chủ nghĩa nhân đạo: con người không phải là phương tiện của các
mục đích xã hội mà là nhân tố thúc đẩy mọi hoạt động xã hội và mọi hoạt động
xã hội đều phải hướng t
ới mục tiêu phục vụ con người. Trên cơ sở đó, cách nhìn
nhận, thẩm định các giá trị văn học nặng về ý thức hệ dần được điều chỉnh bằng
bằng cái nhìn toàn diện và sâu sắc từ trong bản chất của nghệ thuật. Những ràng
buộc khắt khe của tính tư tưởng có phần thô sơ, máy móc đối với tác phẩm được
gạt bỏ. Cách cư xử
, can thiệp thô bạo làm ảnh hưởng tới số phận nhà văn và tác
phẩm vì không am hiểu hoặc do cực đoan, bất công,… dần dần được khắc phục.
Với sự thay đổi đó, chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước được thể hiện 17
qua Đại hội VI thực sự là một thắng lợi to lớn. Mức độ thành công của sự đổi
mới có thể đo bằng thái độ của giới văn nghệ đối với Đại hội VI: “Đại hội VI
18
Như vậy, những điều kiện bên ngoài đã sẵn sàng cho sự đổi mới, vấn đề
còn lại là người cầm bút có thực sự đổi mới từ trong chính bản thân mình hay
không, có thanh toán được với những thói quen cũ, lối nghĩ cũ và cách viết cũ
hay không. Thực tế, người ta nhận thấy nhu cầu đổi mới trong bản thân giới cầm
bút thể hiện cấp bách hơn cả. Là những ng
ười quan sát và mô tả cuộc sống, họ
có nhiều điều muốn nói hơn là được nói, thậm chí họ nói cả trước khi được cho
phép. Chính vì vậy, khi được Đảng tạo điều kiện nói thẳng, nói thật, họ đã
“được lời như cởi tấm lòng”, càng hăng hái hơn đi sâu tìm hiểu và thể hiện hiện
thực phức tạp và phong phú đang chờ đợi. Tất nhiên, không chỉ bám vào mảnh
đất hiện thực, nhiều người đã mở lối đi riêng, tìm đến những vùng đất mới, nơi
dành cho những người giàu trí tưởng tượng và óc sáng tạo. Trong Suy nghĩ về
một vài hướng tìm tòi đổi mới trong văn học, Hà Minh Đức đã nhận thấy điều
này ở nhiều nhà văn: “Hiện thực, các mối liên hệ giữa hiện thực và phương thức
biểu hiện v
ẫn là một vấn đề cần được luận bàn. Một số nhà văn dường như
không tìm được sự hấp dẫn của hiện thực quen thuộc vốn đã hiện hình và được
nhận diện kỹ càng nên có xu hướng đi tìm cái lạ. Cái lạ trong hiện thực chắc
chắn là có sức hấp dẫn rồi vì trong nghệ thuật, nhiều lúc cái quen thuộc, cái cũ
tồn tại và kéo dài trong nhiều thập kỉ
(…). Cái lạ được chấp nhận cũng là cái
mới và không dễ đem lại trong văn chương cái lạ. Ý của Bélinski về nhân vật
điển hình lạ mà quen, phải chăng đã gợi mở hướng lạ hóa trong nghệ thuật”
[28, tr.24].
Thay đổi cái nhìn về hiện thực, về đối tượng phản ánh, các nhà văn còn
thay đổi quan niệm về con người. Nếu như trước đây, con người trong văn học
kháng chi

khác trước, trong văn xuôi, lối kể chuyện cũng có nhiều thay đổi:
“Vào những
thập kỉ đầu thế kỷ XX, lối kể chuyện theo chương hồi đã lỗi thời và hình thức kể
gần với chân lý cuộc sống và tâm lý người đọc của Tự lực văn đoàn và trào lưu
hiện thực phê phán đã thay thế. Từ đó, đất nước trải qua nhiều đổi thay, lối kể
trong văn xuôi cũng thay đổi nhiều. Ngày nay, cái khó với văn xuôi là các hình
thứ
c thông tin báo chí, truyền hình điện ảnh đã chuyển tải nhiều câu chuyện xã
hội và riêng tư. Văn học phải có cách đóng góp của riêng mình” [28, tr.23].
Như vậy, là những người báo hiệu sự đổi mới của văn nghệ nói riêng và
xã hội nói chung, khi có chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước, các nhà văn
cũng trở thành những người tiên phong trong đổi mới từ quan niệm về nghệ
thuật cho
đến các quan niệm nghệ thuật về hiện thực, về con người hay ngôn
ngữ và thủ pháp nghệ thuật. Bên cạnh đó, một quan niệm tiến bộ nữa mà chúng 20
ta cần ghi nhận đó là cái nhìn mới về mối quan hệ giữa nhà văn và công chúng.
Nếu như trước đây, quan hệ đó chỉ thường có một chiều, nhà văn thường nắm
vai trò độc diễn thì ngày nay, sự đối thoại giữa tác giả và độc giả đã được chú
trọng. Với tính đa thanh, tác phẩm thực sự là sản phẩm của sự kết hợp giữa
người sáng tạo và ng
ười đồng sáng tạo.
Sở dĩ có sự thay đổi này là vì văn học phải đáp ứng yêu cầu của một đối
tượng người đọc mới. Khi cái ăn chưa lo đủ, nhu cầu tìm tới văn học dù sao đi
nữa cũng vẫn không cao. Nhưng, một khi cuộc sống vật chất đã được đáp ứng
đến một mức độ nhất định thì nhu cầu về tinh th
ần trở nên thật bức thiết. Đó
cũng chính là hoàn cảnh xã hội ta những năm sau đổi mới: “Không phải chờ đến

Nói một cách công bằng thì không phải nhà văn là người chủ động nhận
thấy cần đối thoại với độ
c giả của mình trong tác phẩm, mà chính độc giả đã
buộc nhà văn phải làm như thế, phải trả lại không khí dân chủ cho quan hệ giữa
người sáng tác và người thưởng thức.
Như vậy, có thể nhận thấy văn học Việt Nam sau 1975 tồn tại trong một
môi trường thấm đẫm tinh thần đổi mới, đổi mới từ chính trong bản thân người
sáng tác, người thưởng thức, cho đến đổ
i mới từ phía người quản lý sinh hoạt
văn nghệ. Đó chính là tiền đề quý báu cho văn học thể hiện tính chất tiên tiến,
đồng thời giúp văn học luôn khẳng định được ý nghĩa, giá trị của nó đối với đời
sống tinh thần của nhân loại.
Trong không khí đổi mới chung đó, lý luận văn học Việt Nam sau 1975
cũng có sự chuyển mình. Điều này đã được Phan Cự
Đệ nêu rõ trong Đổi mới và
quy luật: “Quá trình đổi mới cũng diễn ra sôi động trong lĩnh vực lý luận phê
bình. Điều đó là tự nhiên vì lý luận phê bình xưa nay vẫn là một mặt trận giao
phong của những tư tưởng và quan điểm khác nhau. Những cuộc tranh luận
công khai, dân chủ đã tạo ra một khí sắc mới cho công tác lý luận phê bình,
giúp bạn đọc hiểu một cách sâu sắc và nhuần nhị hơn nhiều vấn
đề như mối
quan hệ giữa văn nghệ và chính trị, giữa văn nghệ và hiện thực cuộc sống…
Những quan điểm bảo thủ hoặc cơ hội, cứng nhắc, giáo điều hoặc xã hội học
dung tục đã bị tấn công quyết liệt nhằm làm sáng tỏ hơn những đặc trưng thẩm
mỹ của văn học nghệ thuậ
t và sự phát triển mới của lý luận hiện thực xã hội chủ
nghĩa” [29, tr.55]. Trong điều kiện “trời đã mới, người càng nên đổi mới”,
không khó để nhận thấy tinh thần đổi mới chung của các nhà nghiên cứu lý luận.
Bên cạnh những vấn đề mới, những điều đã được khẳng định từ lâu, nay có thể


trên hệ thống những quan điểm lý luận khoa học và nếu được viết thành giáo
trình để giảng dạy thì chúng lại có mặt trong phần lịch sử văn học, chứ không
phải là lý luận văn học. Chỉ sau Cách mạng tháng Tám 1945, đứng trước yêu
cầu đào tạo thế hệ mới cho đất nước, đội ngũ các nhà giáo, các nhà nghiên cứu
m
ới cho ra đời những bộ giáo trình đầu tiên, đánh dấu sự ra đời của lý luận văn 23
học Việt Nam. Với bộ giáo trình Sơ thảo nguyên lý văn học, xuất bản năm 1958
và Mấy vấn đề nguyên lý văn học, xuất bản năm 1960, giáo sư Nguyễn Lương
Ngọc được xem là người đặt viên gạch đầu tiên cho nền lý luận nước nhà. Trong
bài Về việc biên soạn giáo trình lý luận văn học bậc Đại học ở ta 50 năm qua,
Nguyễn Ngọc Thiện
đã nhận định: “Giáo sư Nguyễn Lương Ngọc, một cây bút
nổi tiếng từ trước Cách mạng tháng 8/1945, với uy tín và năng lực lý luận phê
bình sắc sảo đã thực hiện một cách xuất sắc vai trò khai sơn phá thạch, xây đắp
nền móng cho việc hình thành môn khoa học về văn học có tên Lý luận văn học.
Công lao và đóng góp bước đầu của ông cho lịch sử chuyên ngành là rất đáng
trân trọng” [82, tr.13]. Như
vậy, nền lý luận của chúng ta mới chỉ ra đời vào
nửa sau thế kỷ XX, khá muộn so với lý luận văn học thế giới.
Vì ra đời khi nền lý luận văn học thế giới đã định hình từ lâu nên lý luận
văn học Việt Nam đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nền lý luận ấy. Sẽ không quá
nếu nói rằng chúng ta không có người “lập ngôn”, mà chủ yếu chỉ ti
ếp thu những
thành quả của lý luận nước ngoài. Ngay từ những cuốn sách đầu tiên, sự ảnh
hưởng ấy đã thể hiện khá rõ. Theo Nguyễn Phúc, “Điều dễ nhận thấy là tác giả
chịu ảnh hưởng rõ rệt của sách giáo khoa về lý luận văn học của Liên Xô như
Abramôvits, Timôphêép và của Trung Quốc như Ba Nhân v.v…, về cả hệ thống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status