TIỂU LUẬN: “Áp dụng nguyên tắc khách quan và nguyên tắc toàn diện để phân tích các vấn đề còn tồn tại trong giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay” doc - Pdf 12

Tiểu luận triết học TIỂU LUẬN: “Áp dụng nguyên tắc khách quan và
nguyên tắc toàn diện để phân tích các vấn đề còn tồn tại
trong giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay”

Tiểu luận triết học Lời mở đầu

Từ khi ra đời, giáo dục đại học giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ hệ thống giáo
dục vì nó trực tiếp tác động đến trình độ phát triển của khoa học và công nghệ. Đã có
thời giáo dục phổ thông ở Mỹ bị chê là thua kém nhiều nước phương Tây, nhưng chưa
bao giờ nền đại học Mỹ bị đánh giá thấp. Chỉ cần nhìn quỹ riêng của 5 đại học nổi
tiếng của Mỹ (theo số liệu 2006, đơn vị tỉ USD): Havard 17.2; Yale 10.5, Princeton
8.3; Stanford 7.6; MIT 5.3 – đủ thấy xã hội Mỹ đầu tư cho các đại học như thế nào.
Cái chiến lược lấy giáo dục đại học làm đòn bẩy đã đưa Hoa Kỳ lên vị trí dẫn đầu trên
phần lớn các lĩnh vực khoa học, công nghệ then chốt hiện đại.
Cuộc cách mạng công nghệ và xu thế kinh tế tri thức từ vài thập kỷ lại đây càng
nêu cao vai trò của giáo dục đại học, không chỉ đối với các nước tiền tiến mà cả đối
với các nước khác. Cho nên tuy hiện nay dư luận xã hội đang quan tâm nhiều nhất về
chất lượng giáo dục phổ thông, tôi vẫn nghĩ giáo dục đại học mới là cái đáng lo hơn
cả.

Tiểu luận triết học Nội dung chính
I-Cơ sở lý luận
1- Nguyên tắc toàn diện của sự nhận thức khoa học
1.1- Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện của sự nhận thức khoa học
Thế giới vật chất có muôn ngàn sự vật, hiện tượng. Chúng khác nhau, vừa có
liên hệ biện chứng với nhau , tức là nương tựa vào nhau, làm tiền đề tồn tại và phát
triển cho nhau, quy định và chế ước lẫn nhau. Không có sự vật, hiện tượng nào tồn tại
một cách biệt lập, tách rời. Sự liên hệ đó là khách quan, vốn có của giới tự nhiên và xã
hội, không phụ thuộc vào ý muốn , nguyện vọng chủ quan của bất cứ một tổ chức xã ội

2.1- cơ sở khách quan của nguyên tắc khách quan của sự nhận thức khoa học
Thế giới vật chất bao gồm giới tự nhiên và xã hội, trong đốmị sự vật hiện tượng
tồn tại, vận động biến đổi và phát triển theo những quy luật khách quan vốn có của thế
giới vật chất, không phụ thuộc vào ý muốn, ý nguyện chủ quan của con người, cũng
không lệ thuộc vào bất kìmột đảng phái, một tập đoàn xã hội hay một vĩ nhân nào
Con người trước hết là sản phẩm lâu dài của giới tự nhiên. Tự nhiên là thân thể
vô cơ của con người. Nhưng con người khác với con vật ở chỗ :con vật hoạt động theo
bản năng còn con người hoạt động có ý thức chỉ đạo, nhờ đó con người có thể nhận
thức được các quy luật khách quan của sự vật, các điều kiện mà quy luật phát sinh tác
dụng, nếu điều đó có cơ hội cho con người và ngược lại, nếu điều đó không có lị cho
con người thì con người có thể tạo ra các điều kiện để quy luật đó không phát huy tác
dụng hay hạn chế tác dụng, chứ con người không thể tuỳ tiện xoá bỏ quy luật khách
quan của sự vật, nhờ đó mà con người cũng đã tạo ra giới tự nhiên của mình, xã hội
của mình. Như vậy, con người chỉ có tự do khi nhận thức được quy luật khách quan
của tự nhiên- xã hội và biết hnàh động theo quy luật đó. Vì thế tự do là tất yếu được
nhận thức và hành động theo cái tất yếu đó.
2.2 Yêu cầu nguyên tắc khách quan
Khi nghiên cứu, xem xét sự vật hiện tượng phải phản ánh đúng như nó có,
không được áp đặt ý muốn, nguyện vọng chủ quan của chủ thể nhận thức vào sự
vậ,hiện tượng
Sự vật, hiện tượng có vô vàn thuộc tính. Mỗi thuộc tính là mọtt chất,do đó sự
vật có vô vàn chất, mỗi chất lại có đặc tinh riêng, những quy luật riêng. Do đó nhận
thức sự vật phải có tính hệ thống
Tiểu luận triết học

Bất kì sự vật nào cũng có đặc điểm cấu trúc , tức là có các yếu tố cấu thành
riênh của nó. Giữa các yếu tố đó có liên hệ hữu cơ với nhau. Do đó, cũng những yếu tố
như nhau nhưng sắp xếp theo những cách thức khác nhau sẽ tạo ra các sự vật khác
nhau về chất. Vì vậy, nguyên tắc khách quan đòi hỏi nhận thức sự vật phải phản ánh
được đặc điểm cấu trúc của nó

ại
học của ta. Theo nhận thức chung trên thế giới, mô hình đó là giáo d
ục đại học Hoa kỳ,
một hệ thống đã hình thành và phát tri
ển gắn chặt với nhu cầu của kinh tế tri thức cho
nên tương đối phù hợp nhất với xã hội hiện đại. Ngay ở Châu Âu và Nhật b
ản, khi nói
hiện đại hoá đại học, mục tiêu họ nhắm tới cũng là một nền đại học tương đ
ồng với
Hoa kỳ. Các nước ASEAN cũng đi theo hướng đó. Không lẽ gì chúng ta mu
ốn hội
Tiểu luận triết học

nhập mà lại tự tách ra khỏi xu thế chung. Vì vậy cần dứt khoát
đ
ịnh h
ư
ớng việc hiện
đại hoá giáo dục đại học theo xu thế chung đó của thế giới và thời đại. Chỉ như th
ế
mới có thể tranh thủ được kinh nghiệm của họ, nhanh chóng thanh toán sự tụt hậu v
à
hội nhập thành công.
Để có định hướng phù hợp và những bước đi đúng đắn cho sự phát tri
ển hệ
thống giáo dục dại học, chúng ta cần sử dụng nguyên t
ắc khách quan của sự nhận thức
để phân tích những những vấn còn tồn tại trong giáo dục đại học hiện nay ở nư
ớc ta.
Chúng ta cần nhìn nhận vấn đề này một cách khách quan, không nên áp đặt ý mu

ều
tấm danh thiếp mang các học vị cao thì càng quảng cáo tốt, càng thể hiện trình đ
ộ văn
hoá, khoa học cao của đất nước. Hoàn toàn sai lầm. Thật đáng xấu hổ khi đất nước c
òn
nghèo và lạc hậu mà đã ra đời gần như một công nghiệp đào t
ạo thạc sĩ, tiến sĩ dỏm,
với những chợ luận văn, với nghề viết thuê lu
ận văn, với đủ thứ thủ đoạn phục vụ việc
sản xuất ra những luận văn mà giá trị không hơn nh
ững mảnh giấy lộn. Ngay cả những
Tiểu luận triết học

luận văn được làm đứng đắn, thì trừ một số do những giáo sư trình độ cao hư
ớng dẫn,
còn chất lượng nói chung khá thấp. Chưa kể có trường hợp thầy làm thay đ
ến 90%
luận văn mà nghiên cứu sinh cũng không biết tận dụng thời gian học thêm kiên th
ức.
Đó là kết quả khó tránh của ý muốn tập trung quan liêu: từ việc thi tuyển nghiên c
ứu
sinh đến thành l
ập Hội đồng chấm luận văn, tổ chức phản biện các luận văn (có cả
“phản biện kín”), v.v , tất cả đều do Bộ trực tiếp quyết định, với ảo tưởng như th
ế sẽ
bảo đảm chất lượng đào tạo. Song thực tế không như vậy, nhiều tiêu cự
c phát sinh mà
Bộ không tài nào kiểm soát nổi, và không ai biết đã có bao nhiêu bằng TS dỏm đư
ợc
sản xuất thời gian qua. Để chỉnh đốn từ gốc, cần rà soát lại để hạn chế chặt chẽ số đ

ớc ! Hoá ra GS, PGS,
TS của ta là “hàng nội”, phải theo tiêu chuẩn “nội”, không thể theo tiêu chu
ẩn quốc tế,
vì tiêu chuẩn này trên trời so với ta. Điều đáng nói là trong khi công nh
ận những giá trị
khoa học đáng ngờ thì tiêu chuẩn “nội” ấy lại gạt ra nhiều ngư
ời trẻ có năng lực. Với
tầm nhìn thiển cận như v
ậy, tôi chỉ e rồi đây đại học VN sẽ đến lúc tụt dốc không
phanh. Nguyên nhân tình trạng đáng lo đó lại cũng do tư duy quản lý: trong xã h
ội ta,
Tiểu luận triết học

hễ một cơ quan được lập ra để phụ trách một lĩnh vực công tác gì thì y như là nó ph
ải
bo bo ôm giữ hết mọi quyền, dù năng lực và trình độ bất cập. Mà có gì khó hi
ểu đâu:
GS, PGS là những chức vụ cụ thể ở một đại học thì chỉ đại học đó mới biết r
õ nên
chọn GS, PGS theo cách nào phù hợp nhất với yêu cầu của mình. L
ẽ ra Hội đồng chức
danh chỉ nên tập trung lo sao cho GS, PGS của bất kỳ đại học nào cũng đạt một tr
ình
độ tối thiểu theo chuẩn mực quôc tế, việc gì phải dành quyền trực tiếp làm vi
ệc tuyển
chọn GS, PGS, trong khi thành viên Hội đồng đâu phải là chuyên gia giỏi nhất, v
à toàn
năng đến mức quán xuyến được chuyên môn của từng đại học ?
1.4 Chính sách sử dụng giảng viên.
Hiện nay có điều lạ là các thầy dạy đại học của ta tuổi trung bình cao, trình đ


Đó là mấy vấn đề nhức nhối nhất bộc lộ rõ s
ự yếu kém, tụt hậu của giáo dục đại học,
cần có biện pháp chấn chỉnh ngay để mở đường tiến lên hiện đại hoá toàn di
ện. Chừng
nào còn chưa chấn chỉnh được các khâu công tác đó thì giáo dục đại học VN c
òn là
niềm tủi hổ của thế hệ chúng ta. Tiểu luận triết học

III - Giải pháp và kiến nghị
1- Những đặc điểm chủ yếu của xu thế đại học
Hiện đại hoá giáo dục đại học thực chất là một cuộc cải cách toàn diện từ
mục tiêu, đến nội dung, phương pháp và tổ chức, quản lý, để hướng tới một nền đại
học tương đồng với thế giới theo xu thế chung đã nói ở trên. Những đặc điểm chủ yếu
của xu thế đại học này là:
+ Nhấn mạnh năng lực sáng tạo trong mọi khâu đào tạo; đặc biệt coi trọng
nghiên cứu khoa học;
+ Bảo đảm cho mọi công dân quyền bình đẳng về cơ hội học tập và thành công
trong học vấn;
+ Tôn trọng phát triển cá tính, mở ra nhiều con đường, nhiều hướng, tạo nhiều
cơ hội lựa chọn cho thế hệ trẻ phát triển tài năng;
+ Mở rộng cửa đại học cho số đông, rồi cho đại bộ phận dân chúng;
+ Hết sức chú trọng tài năng, khắc phục bình quân chủ nghĩa trong đào tạo và
sử dụng;
+ Xây dựng giáo dục thường xuyên và xã hội học tập;
+ Sử dụng công nghệ thông tin hiện đại vào mọi khâu giáo dục;
+ Phi tập trung hoá quản lý, trao quyền tự chủ rộng rãi cho các đại học, xây

của Đại học chính là ở công tác này, thể hiện khá tập trung những khuyết điểm về
chính sách nhân tài. Do đó để mở đường hiện đại hoá Đại học, cần sớm chấn chỉnh
công tác chức danh GS, PGS, trước hết cải tổ "Hội đồng chức danh GS" thành một hội
đồng không trực tiếp công nhận các chức danh mà chỉ xét duyệt hàng năm, định kỳ, để
công nhận những người đủ tư cách ứng cử vào các chức danh GS, PGS ở các Đại học
và Viện nghiên cứu. Hàng năm các Đại học và Viện nghiên cứu công bố nhu cầu tuyển
GS, PGS (với sự chấp thuận của cấp có thẩm quyền) để cho bất cứ ai đã được công
nhận "đủ tư cách" đều có thể dự tuyển. Còn việc xét tuyển được trả lại cho các Hội
đồng tuyển chọn của từng Đại học và viện nghiên cứu, Hội đồng này gồm một số
chuyên gia thuộc biên chế đơn vị đó và có thể thêm một số chuyên gia ở ngoài. Quyết
định của Hội đồng được trình lên cấp trên có thẩm quyền thông qua trước khi thực
hiện.
2.4 Cải thiện chính sách sử dụng Giảng viên Đại học
Tình trạng phổ biến hiện nay ở các Đại học là giảng viên dạy quá nhiều giờ (25-
30 giờ mỗi tuần không phải là hiếm), kể cả giờ dạy trong trường, ngoài trường, dưới
nhiều hình thức khác nhau, dạy "liên kết” ở các địa phương, dạy tư, luyện thi, "dạy
Tiểu luận triết học

xô”… do đó, ngay ở các Đại học lớn, cũng rất ít nghiên cứu khoa học, và nhiều người
đã lâu không có thể quen cập nhật kiến thúc, nâng cao trình độ nhưng lại sản xuất đều
đều Cử nhân, Thạc sĩ, thậm chí cả Tiến sĩ. Trình độ GS, PGS của ta nói chung khá
thấp so với quốc tế, cả nước số GS đã được công nhận mới chiếm ti lệ chưa tới 0,1%,
số PGS chưa tới 5%, trong toàn bộ số giảng viên đã học. Nếu kể cả những người thực
tế có năng lực nhưng chưa được công nhận GS, PGS do chưa được công nhận GS,
PGS do cách tuyển chọn chưa hợp lý, đội ngũ giảng viên Đại học vẫn rất yếu về trình
độ và số lượng, mà tuổi tác lại khá cao, đó là tình trạng không thể chấp nhận được, cần
có biện pháp cải thiện nhanh, nếu không sẽ di hại qua nhiều thế hệ.
2.5- Đổi mới các trường sự phạm và chính sách đào tạo giáo viên phổ thông
Cần nghiên cứu lại chủ trương xây dựng những trường sư phạm trọng điểm, vì
theo kinh nghiệm các nước, chỉ giáo viên mẫu giáo, tiểu học mới cần được đào tạo kỹ

giúp đỡ có hiệu quả người nghèo và những người trong diện cần nâng đỡ.
Tiểu luận triết học Kết luận

Nền giáo dục nước ta có sứ mệnh đào tạo ra những người lao động có khả năng thích
ứng với những thay đổi, biến động của việc làm, sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế, sự thay đổi
công nghệ sản xuất. Người có trình độ đại học sẽ dễ dàng trong những chuyển đổi này, tự tạo


Tài liệu tham khảo

1. Bài giảng Triết học của PGS.TS Vũ Ngọc Pha
2. Giáo trình Triết học , Nhà xuất bản chính trị Quộc gia, 2004
3. Giáo trình kinh tế chính trị học, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, 2004
4. Website : www.vnn.vn
Tiểu luận triết học

Mục lục

Trang
Phần 1 :Lời nói đầu……………………………………… 1
Phần 2:Nội dung chính……………………………………… ……………………… 3
I-Cơ sở lý luận…………………………………………………………………………3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status