MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QLNN BẰNG PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 7
1.1 Khái niệm và đặc điểm QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực
giáo dục đại học 7
1.1.1. Khái niệm QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục
đại học 7
1.1.2 Đặc điểm của QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục
đại học 20
1.2 Nội dung của QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục
đại học 28
1.3 Những xu hƣớng QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực
giáo dục đại học trên thế giới 30
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QLNN BẰNG PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC
GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM 42
2.1 Thực trạng xây dựng pháp luật về QLNN trong
lĩnh vực giáo dục đại học 42
2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật 51
2.2.1 Về bộ máy tổ chức thực hiện pháp luật về giáo dục đại học 51
2.2.2 Thực trạng quá trình đưa pháp luật về giáo dục đại học vào
cuộc sống 54
2.3 Thực trạng công tác thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật
trong QLNN trong lĩnh vực giáo dục đại học 61
2.4 Đánh giá chung và nguyên nhân của những hạn chế 64
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
QLNN: Quản lý nhà nước
UNESCO: Tổ chức văn hoá, khoa học, giáo dục của Liên Hợp Quốc
XHCN: Xã hội chủ nghĩa 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do
dân, vì dân ở nước ta ngày nay, pháp luật ngày càng phát huy mạnh mẽ vai trò
điều chỉnh các quan hệ xã hội. Việc tăng cường QLNN bằng pháp luật đối với
các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội trở thành một trong những yêu
cầu cơ bản nhằm bảo đảm ổn định trật tự kinh tế- xã hội, góp phần thực hiện
thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Phát triển giáo dục và đào tạo được Đảng và Nhà nước ta xác định là
một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá; là điều kiện để phát huy nguồn lực con người- yếu tố cơ bản để
phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. QLNN đối với lĩnh
vực giáo dục nói chung và lĩnh vực giáo dục đại học nói riêng, do đó, có vai
trò thực sự quan trọng trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Khi nền kinh tế chuyển
từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường theo định hướng
XHCN, cùng với những lĩnh vực xã hội khác, giáo dục đại học đã có những
thay đổi to lớn, đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động QLNN đối với
lĩnh vực này. Có thể nói, giáo dục đại học của nước ta trong những năm đổi
mới đã có bước phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng hoá về loại hình và hình
thức đào tạo, bước đầu điều chỉnh cơ cấu hệ thống, cải tiến chương trình, quy
trình đào tạo và huy động được nhiều nguồn lực xã hội. Số lượng sinh viên
nghề, mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, quy trình đào tạo, phương pháp giảng
dạy, học tập, đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục và hiệu quả sử
dụng các nguồn lực cho giáo dục đại học. Những hạn chế đó đã phần nào làm
giảm sút niềm tin của người dân đối với lĩnh vực giáo dục đại học, nơi cung 3
cấp nguồn nhân lực có tri thức cao, phục vụ trực tiếp cho công cuộc xây dựng
và bảo vệ đất nước. Một lần nữa, vai trò của nhà nước đối với giáo dục đại
học cần phải được nhìn nhận lại một cách nghiêm túc, vai trò đó không thể
giảm nhẹ mà phải được tăng cường hơn nữa trong điều kiện nền kinh tế thị
trường ở nước ta hiện nay. Tình hình nói trên đặt ra yêu cầu cấp bách trong
việc nghiên cứu, tìm tòi những giải pháp khả thi, từ đó bảm đảm tăng cường
QLNN trong lĩnh vực giáo dục đại học, đặc biệt là quản lý nhà nước bằng
pháp luật, nhằm góp phần vào sự nghiệp chấn hưng nền giáo dục nước nhà.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Tăng cường quản lý nhà nước
bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay để
nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu vấn đề QLNN bằng pháp
luật trong nhiều lĩnh vực. Ví dụ: “Tăng cường QLNN bằng pháp luật đối với
hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay” (Trịnh Đăng Thanh, Luận án Tiến sĩ
Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2004); “Tăng cường
QLNN bằng pháp luật đối với bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay” (Nguyễn
Kim Thái, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, 2005); “Tăng cường QLNN bằng pháp luật đối với doanh nghiệp nhà
nước ở Việt Nam hiện nay” (Lê Văn Trung, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2001) Tuy nhiên, chưa có công trình
nào nghiên cứu vấn đề QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học
ở Việt Nam.
- Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau: 5
+ Phân tích cơ sở lý luận về QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo
dục đại học và luận chứng yêu cầu khách quan của việc tăng cường QLNN
bằng pháp luật trong lĩnh vực này ở Việt Nam hiện nay.
+ Phân tích, đánh giá khái quát thực trạng của QLNN bằng pháp luật
trong lĩnh vực giáo dục đại học ở Việt Nam từ năm 1998, khi Luật Giáo dục
đầu tiên được ban hành.
+ Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường QLNN bằng
pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam về đổi mới giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói
riêng.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học Mác-
Lênin, như: phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp phân
tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử- cụ thể; bên cạnh đó còn vận dụng một
số phương pháp của các bộ môn khoa học khác như phương pháp thống kê,
phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp luật học so sánh, v.v
6. Điểm mới của luận văn:
Luận văn là chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối toàn
diện, có hệ thống vấn đề QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại
học. Vì vậy, luận văn có những đóng góp mới khoa học cụ thể sau:
- Luận giải và đưa ra các khái niệm, nêu các đặc điểm và nội dung của
QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học.
Quản lý đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học tự nhiên
và khoa học xã hội như điều khiển học, ngôn ngữ học, khoa học quản lý, khoa
học pháp lý, v.v
Về mặt ngôn ngữ, thuật ngữ “quản lý” được hiểu là hành động điều
khiển, tổ chức hoạt động của một cơ quan, đơn vị nào đó [7, tr. 1363].
Theo quan điểm của hành chính công, quản lý là việc thực hiện một số
chức năng như soạn thảo chính sách, quy hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát
và đánh giá; sử dụng một số kỹ năng như ra quyết định, thông tin liên lạc, đổi
mới, giải quyết xung đột và các kỹ năng thương thuyết [62, tr. 274].
Dưới góc độ khoa học quản lý, quản lý được định nghĩa là phương thức
làm cho những hoạt động được hoàn thành với một hiệu suất cao, bằng và
thông qua những người khác [57, tr. 3]. Nói cách khác, quản lý là một công
việc có mục tiêu làm cho một hiện trạng đang ở tình hình hiện nay được
chuyển sang trạng thái sắp tới, mà trạng thái sắp tới phải tốt hơn, hiệu quả
hơn và có chất lượng hơn so với tình trạng ban đầu. 8
Có thể nói, tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau mà người ta có những định
nghĩa khác nhau về quản lý. Tuy nhiên, cho đến nay, quan điểm của ngành
điều khiển học đang được xem là quan niệm chung nhất về quản lý, theo đó
quản lý được hiểu là “sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó
nhằm trật tự hoá nó và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất
định. Hệ thống được hiểu là những yếu tố cấu thành có những đặc trưng riêng
mà những đặc trưng đó không phải là thuộc tính của mỗi yếu tố riêng rẽ nằm
trong hệ thống” [60, tr. 85]. Quan niệm này không những phù hợp với sự vận
động của thiết bị tự động hoá, máy móc cơ giới, với cơ thể sống, mà còn phù
hợp với một tập thể người, một tổ chức hay một cơ quan nhà nước nhất định,
tức là cũng phù hợp với quản lý xã hội, bởi trong đó đã xác định tương đối
đầy đủ chủ thể, đối tượng và mục đích của hoạt động quản lý.
yếu do hệ thống các cơ quan nhà nước, mà đứng đầu là Chính phủ thực hiện.
Tính chất chấp hành thể hiện ở mục đích QLNN là đảm bảo thực hiện
trên thực tế các văn bản pháp luật của các cơ quan quyền lực nhà nước. Mọi
hoạt động quản lý hành chính nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở pháp
luật và để thực hiện pháp luật.
Tính chất điều hành của quản lý hành chính nhà nước thể hiện ở chỗ để
đảm bảo cho các văn bản pháp luật của các cơ quan quyền lực nhà nước được
thực hiện trên thực tế, các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước phải tiến
hành hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc
quyền.
Đặc trưng của hoạt động điều hành là ra văn bản dưới luật mang tính
chất pháp lý (hay còn gọi là hoạt động lập quy). Hoạt động chấp hành đồng
thời bao hàm sự điều hành, bởi trong đa số trường hợp, thiếu hoạt động điều
hành thì không thể chấp hành pháp luật một cách nghiêm chỉnh được. 10
Nghiên cứu các tài liệu hiện hành cho thấy, so với các dạng quản lý xã
hội khác, hoạt động QLNN có những đặc điểm khác biệt sau đây:
Thứ nhất, QLNN mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính
mệnh lệnh đơn phương của Nhà nước. QLNN được thiết lập trên cơ sở mối
quan hệ “quyền uy” và “sự phục tùng”. Quyền lực nhà nước được ghi nhận,
củng cố bằng pháp luật và đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế
của nhà nước.
Thứ hai, QLNN là hoạt động, tác động mang tính tổ chức và điều
chỉnh. Tổ chức ở đây được hiểu như là một khoa học về sự thiết lập những
mối quan hệ giữa con người với con người để thực hiện quá trình quản lý xã
hội. Tính điều chỉnh là sự tác động của nhà nước trên cơ sở pháp luật và bằng
các quyết định quản lý cụ thể nhằm tạo sự cân bằng, cân đối các mặt hoạt
động của các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người.
trình xã hội, các hành vi của con người) nhằm đạt mục tiêu của quản lý thông
qua hệ thống pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện trong
cuộc sống.
Pháp luật có vị trí đặc biệt quan trọng trong QLNN. Mặc dù Nhà nước
thực hiện các chức năng và nhiệm vụ quản lý của mình thông qua nhiều
phương tiện, công cụ quản lý khác nhau, nhưng trong đó pháp luật luôn là
công cụ quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đối với hiệu lực, hiệu quả của
hoạt động QLNN.
Ngay từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng lớn của thế giới, ở phương Đông
cũng như phương Tây, đã nhận thức được vai trò to lớn của pháp luật trong
việc cai trị đất nước. Chẳng hạn, ở Trung Hoa thời cổ đại, Hàn Phi Tử, đại
diện tiêu biểu cho trường phái Pháp gia đã đề cao pháp luật, coi đó là một tiêu 12
chuẩn để phân biệt đúng sai, là công cụ quan trọng của nhà nước để duy trì
trật tự xã hội theo ý chí của mình: “sửa chữa được sai lầm của người trên, trị
được cái gian của kẻ dưới, trừ được loạn, sửa được điều sai, thống nhất đường
lối của dân không gì bằng pháp luật” [29, tr. 49].
Trong giai đoạn cách mạng tư sản, sự ra đời và phát triển của lý thuyết
về nhà nước pháp quyền cũng khẳng định, trong hoạt động của nhà nước, pháp
luật có vị trí thượng tôn và nhà nước phải thực hiện việc quản lý xã hội bằng
pháp luật.
Đối với nhà nước ta, tư tưởng Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật
tuy được nhận thức muộn, song có thể nói, đó là đường lối đúng đắn của
Đảng và Nhà nước ta trong lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Ngay từ Đại hội toàn quốc
lần thứ VI, khi quyết định xoá bỏ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung để
chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng ta chỉ rõ: “Quản
lý đất nước bằng pháp luật, chứ không phải bằng đạo lý. Pháp luật là thể chế
khác vào thực tiễn QLNN. Các công cụ khác như kế hoạch, cơ chế, chính
sách, các nguồn lực của khu vực kinh tế nhà nước, các công cụ đòn bẩy kinh
tế, nếu không được chuyển hoá bằng một hình thức pháp luật nhất định thì
hiệu lực và hiệu quả của việc thực hiện chúng sẽ không đảm bảo, thậm chí
không thể tiến hành được. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong một nhà
nước pháp quyền, ở đó yêu cầu quan trọng hàng đầu là Nhà nước quản lý mọi
mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, thông qua pháp luật.
Nói tóm lại, QLNN bằng pháp luật là hoạt động quản lý của nhà nước,
sử dụng công cụ quản lý riêng có của nhà nước là pháp luật (thông qua các
hoạt động xây dựng luật pháp, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật) để thực 14
hiện sự tác động điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước lên các quá trình
xã hội và hành vi của con người nhằm tăng cường pháp chế, thiết lập một trật
tự các quan hệ xã hội trong khuôn khổ luật pháp, thực hiện mục tiêu xây dựng
một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong điều kiện hiện nay, đây còn
là một yêu cầu tất yếu khách quan thể hiện đặc trưng cơ bản trong nội dung
hoạt động quản lý đất nước của nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân
và vì dân.
1.1.1.3 Khái niệm QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại
học
Giáo dục đại học không chỉ là đối tượng nghiên cứu của khoa học pháp
lý, mà còn được nghiên cứu bởi nhiều ngành khoa học khác nhau, đặc biệt là
khoa học quản lý giáo dục. Để tìm hiểu khái niệm QLNN bằng pháp luật
trong lĩnh vực giáo dục đại học, trước hết cần phải làm rõ khái niệm giáo dục
đại học. Giáo dục đại học trước hết phải được xem như một bộ phận không
thể thiếu của hệ thống giáo dục quốc dân và nếu hình dung hệ thống giáo dục
quốc dân như một hình chóp nhọn thì giáo dục đại học là phần đỉnh cao của
hình chóp giáo dục ấy. Phần đỉnh này bao giờ cũng nhỏ hơn phần đáy nhiều
2005 còn quy định, mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người có phẩm
chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực
thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng
yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Như vậy, có thể thấy, giáo dục đại học là hoạt động giáo dục ở bậc cao,
là sự tiếp nối của giáo dục phổ thông. Không thể đồng nhất giáo dục đại học
chỉ với giáo dục ở trình độ đại học hay hoạt động đào tạo cử nhân của các 16
trường đại học, bởi nội hàm của khái niệm giáo dục đại học rộng hơn, nó bao
gồm giáo dục ở các trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học. Tuy nhiên, trên
thực tế, trong cơ cấu số lượng người theo học giáo dục đại học, những người
theo học ở trình độ đại học luôn chiếm số lượng áp đảo, tỷ lệ những người
theo học ở trình độ trên đại học (thạc sĩ và tiến sĩ) bao giờ cũng ít hơn do yêu
cầu thi tuyển đầu vào cao hơn, chỉ tiêu của các cơ sở đào tạo về loại đối
tượng này cũng ít hơn. Chính vì vậy, giáo dục ở trình độ đại học luôn giành
được sự quan tâm lớn nhất khi người ta bàn tới giáo dục đại học nói chung và
nói đến giáo dục đại học thông thường người ta hay nói tới giáo dục ở trình
độ đại học.
Giáo dục đại học bao gồm những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, giáo dục đại học là giáo dục sau trung học phổ thông. Đó là
đặc điểm cơ bản do tổ chức UNESCO đưa ra và được thừa nhận chung trên
toàn thế giới. Giáo dục đại học là sự tiếp nối của giáo dục trung học phổ
thông ở một trình độ cao hơn, là một bước tiến mới về chất so với giáo dục
phổ thông. Giáo dục đại học và giáo dục trung học phổ thông có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau, giáo dục trung học phổ thông là tiền đề, là nền tảng cho
giáo dục đại học, còn giáo dục đại học là sự kế thừa của giáo dục trung học
phổ thông, nhờ đó giáo dục là một quá trình liên lục, lâu dài và học tập cũng
vì thế mà trở thành mục tiêu suốt đời của người học.
lẫn người học, khi đó giáo dục đại học chỉ là giáo dục kinh viện thuần tuý và
xã hội không thu được lợi ích nào từ giáo dục đại học (trong khi giáo dục đại
học là nơi cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao cho xã hội). Mối quan hệ
chặt chẽ giữa giáo dục dạy nghề và giáo dục đại học cũng là cơ sở nhận thức
quan trọng đối với việc QLNN trong lĩnh vực giáo dục đại học, đặc biệt là 18
trong việc tổ chức bộ máy quản lý và sắp xếp cơ cấu nhân sự sao cho phù hợp
nhất.
Thứ tư, giáo dục đại học luôn gắn chặt cùng nghiên cứu khoa học.
Không nghiên cứu khoa học nghiêm túc thì có nghĩa là không phải và không
còn là đại học nữa. Bản thân giáo dục đại học đã hàm ẩn trong nó ý nghĩa
khoa học, nói đến môi trường đại học trước hết là nói đến môi trường nghiên
cứu khoa học. Trường đại học là nơi nghiên cứu nhiều lĩnh vực khác nhau của
đời sống xã hội, từ khoa học tự nhiên, kỹ thuật cho đến khoa học xã hội và
nhân văn. Nghiên cứu khoa học là một bộ phận không thể tách rời của giáo
dục đại học. Không thể hình dung môi trường giáo dục đại học mà không có
hoạt động nghiên cứu khoa học. Giáo dục đại học lấy nghiên cứu khoa học
làm cơ sở tồn tại và phát triển, đến lượt mình công tác nghiên cứu khoa học sẽ
cho ra đời những sản phẩm phục vụ đắc lực cho hoạt động đào tạo ở các cơ sở
giáo dục đại học.
Thứ năm, giáo dục đại học mang đậm tính dân tộc, nhưng đồng thời
cũng hàm chứa nhiều tính quốc tế. Nó là đỉnh cao của tri thức quốc gia, là cửa
ngõ văn hoá, khoa học kỹ thuật quốc gia đến với thế giới và là cầu nối đưa tri
thức nhân loại của thế giới đến với quốc gia. Vai trò của giáo dục quốc gia
được đề cao ở hầu khắp các nước trên thế giới và biểu hiện rõ nét nhất của sự
đề cao này chính là thái độ trọng thị của các chính khách, hầu hết các nguyên
thủ quốc gia trên thế giới đều chọn trường đại học như một điểm đến lý tưởng
trong các chuyến công du để trình bày những bài thuyết trình của riêng họ.
của hệ thống các trường đại học trong nền giáo dục quốc dân, góp phần vào
sự nghiệp xây dựng đất nước trong giai đoạn mới.
Hoạt động QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học được
tiến hành đồng bộ trên các phương diện: xây dựng pháp luật, tổ chức thực 20
hiện pháp luật và giám sát việc thực hiện pháp luật cũng như bảo vệ pháp luật,
xử lý những hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học. Nhà
nước ban hành các văn bản pháp luật nhằm tạo khuôn khổ pháp lý cho sự ra
đời và hoạt động của các trường đại học, đảm bảo cho các trường đại học thực
hiện tốt hoạt động giáo dục và đào tạo theo đúng thẩm quyền và chức năng
của riêng mình. Việc tổ chức thực hiện pháp luật nhằm đưa pháp luật vào
cuộc sống, giúp cho pháp luật từ văn bản, giấy tờ được hiện thực hoá trong
cuộc sống đòi hỏi nỗ lực không chỉ của Nhà nước, mà còn cả nỗ lực của chính
các trường đại học, tất cả đều phải tuân thủ pháp luật và chịu trách nhiệm
trước pháp luật. Để đảm bảo cho quá trình QLNN bằng pháp luật trong lĩnh
vực giáo dục đại học được diễn ra thuận lợi, đạt được hiệu quả cao nhất, Nhà
nước thông qua các cơ quan QLNN để tiến hành các hoạt động giám sát, kiểm
tra, thanh tra, xử lý các vi phạm pháp luật, đưa hoạt động giáo dục, đào tạo
của các trường đại học và hoạt động quản lý của các cơ quan QLNN có thẩm
quyền vào khuôn khổ và theo mục tiêu do Nhà nước đặt ra.
Như vậy, có thể thấy, vấn đề QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo
dục đại học có một ý nghĩa hết sức to lớn trong điều kiện phát triển nền kinh
tế thị trường theo định hướng XHCN và xây dựng nhà nước pháp quyền của
dân, do dân và vì dân và đó là một nhiệm vụ rất khó khăn mà Nhà nước phải
gánh vác với những thử thách lớn lao. Thành công hay thất bại trong hoạt
động QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học sẽ là yếu tố mang
tính quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp chấn hưng nền giáo dục đại học
nước nhà, thúc đẩy tiến trình đổi mới đất nước đi lên, thực hiện mục tiêu dân
- Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. 22
- Sở Giáo dục và Đào tạo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương
Với tư cách là chủ thể quản lý mang tính công quyền, Nhà nước có các
chức năng quản lý cơ bản sau:
Thứ nhất, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động giáo dục và
đào tạo của các trường đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Thứ hai, định hướng sự phát triển của các trường đại học trong nền giáo
dục quốc dân.
Thứ ba, kiểm tra, kiểm soát mọi hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đại
học.
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý các trường đại học trên cơ sở
các nguyên tắc: xác định rõ thẩm quyền của cơ quan QLNN đối với trường
đại học; xác định rõ quyền hạn và nghĩa vụ của các trường đại học và xác
định rõ mối liên hệ giữa cơ quan quản lý và các trường đại học.
Ngoài ra, các chủ thể khác không phải là Nhà nước cũng có thể tham
gia vào việc QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đại học khi được
Nhà nước trao quyền.
Hai là, đối tượng của QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục
đại học là trường đại học, trường cao đẳng và viện nghiên cứu thực hiện
công tác giáo dục đại học trên cơ sở hợp tác với trường đại học bất kỳ,
nhưng chủ yếu là các trường đại học. Trường đại học là một loại hình cơ sở
giáo dục, nằm trong hệ thống các loại hình cơ sở giáo dục của trật tự thứ bậc
giáo dục quốc dân, bắt đầu từ cấp giáo dục mầm non.
Trường đại học được xác định trước hết là một tổ chức mà hoạt động
chính là giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Trong bất luận trường hợp