Quản lý Nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực
hải quan – qua thực tiễn Hải quan tỉnh Thừa
Thiên Huế
Lê Xuân Vũ
Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Lý luận lịch sử NN&PL; Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Hoàng Anh
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Nghiên cứu có hệ thống những khái niệm liên quan đến vấn đề Quản lý nhà
nước (QLNN) bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan; phân tích đặc điểm, nội dung của
QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan. Phân đích, đánh giá, tổng kết thực trạng
QLNN bằng pháp luật tại Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm gần đây.
Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN bằng pháp luật trong
lĩnh vực hải quan.
Keywords: Quản lý nhà nước; Pháp luật Việt Nam; Luật Hải quan; Huế
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật đóng vai trò rất quan trọng trong việc Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của
mình. Pháp luật là công cụ của Nhà nước để quản lý xã hội, công cụ hướng dẫn và bảo đảm, bảo vệ
các quyền và lợi ích chính đáng của cá nhân. Do đó, quản lý nhà nước (QLNN) bằng pháp luật
không có nghĩa là áp dụng, sử dụng pháp luật một cách cứng nhắc, bóp nghẹt tính chủ động, sáng
tạo, mà phải phải xác định và điều chỉnh đúng các quy luật vận động của đời sống KTXH từ đó nâng
cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước trong việc thực hiện chức năng quản lý của mình, đồng
ở Việt Nam, trong đó đòi hỏi phải cải cách, đổi mới cả thể chế, bộ máy, các biện pháp đảm bảo
thực hiện. Xây dựng một nền hành chính hiện đại, trong sạch, vững mạnh, đơn giản, giảm thiểu
phiền hà, tiêu cực, tham nhũng; một nền "hành chính công" phải lấy mục tiêu, mục đích "phục vụ"
là chủ yếu.
Thứ năm, hệ thống pháp luật trong lĩnh vực hải quan mặc dù luôn được phát triển, củng cố,
đổi mới; nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành, bổ sung, sửa đổi. Tuy nhiên, bên cạnh
những ưu điểm, vẫn còn không ít hạn chế, tồn tại, như: hệ thống pháp luật đồ sộ, tính ổn định
kém, bất cập, nhiều quy định chưa rõ ràng, ban hành chậm trễ; thiếu tính đồng bộ giữa pháp luật
thủ tục và luật nội dung; hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và rà soát, hệ thống hóa
pháp luật chưa được chú trọng, quan tâm đúng mức, còn mang nặng tính tạm thời, đối phó tình
thế là chủ yếu…
Thứ sáu, tình hình thực hiện pháp luật trong lĩnh vực hải quan còn nhiều bất cập: thủ tục
hành chính rườm rà, nạn nhũng nhiễu của cán bộ công chức
Đặc biệt, qua thực tiễn công tác tại Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế, tôi nhận thấy rằng
việc tổ chức thực hiện và đảm bảo thực hiện pháp luật bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn
không ít khiếm khuyết, hạn chế, chưa đạt yêu cầu, mục tiêu, mục đích, hiệu quả quản lý đặt ra, như
là: một số văn bản pháp luật bị chồng chéo gây ảnh hưởng rất lớn đến việc triển khai thực hiện; công
cụ hỗ trợ quản lý chưa được trang bị một cách đầy đủ, hiện đại.
Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài: "Quản lý nhà nước bằng pháp luật
trong lĩnh vực hải quan - qua thực tiễn Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế" là rất cấp thiết, có ý
nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam trước đó, đã có một số công trình có đề cập đến QLNN bằng pháp luật trong lĩnh
vực hải quan, như: "Hải quan trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" của
Nguyễn Đức Kiên, Tạp chí Lý luận chính trị, số 7-2002; "Đặc thù của công tác hải quan ở nước ta
hiện nay" của ThS. Chu Văn Nhân, Tạp chí Lý luận chính trị, số 8-2002; "Một số vấn đề về văn bản
quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp tới hoạt động quản lý nhà nước về hải quan" của Nguyễn
Hữu Xuân, Tạp chí Nghiên cứu Hải quan, số 3-2002; “Pháp luật hải quan Việt Nam trước yêu cầu
thực hiện “tự do hóa thương mại” và nghĩa vụ thành viên WTO” của Phạm Thị Hải Yến, luận văn
thạc sĩ Luật năm 2008; “Pháp luật về kiểm tra sau thông quan, chuẩn mực quốc tế và thực tiễn áp
- Luận văn nghiên cứu có hệ thống những khái niệm liên quan đến vấn đề QLNN bằng pháp
luật trong lĩnh vực hải quan; phân tích đặc điểm, nội dung của QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực
hải quan.
- Phân đtích, đánh giá, tổng kết thực trạng QLNN bằng pháp luật tại Cục Hải quan tỉnh
Thừa Thiên Huế trong những năm gần đây.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN bằng pháp luật trong lĩnh
vực hải quan.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước bằng pháp trong luật lĩnh vực hải quan
Chương 2: Một số quy định của Ppháp luật về QLNN trong lĩnh vực hải quan
Chương 3: Thực trạng thực hiện pháp luật về QLNN trong lĩnh vực hải quan tại Cục Hải
quan tỉnh Thừa Thiên Huế và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN bằng pháp luật trong
lĩnh vực hải quan Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
BẰNG PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN
1.1. Các khái niệm liên quan đến quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật trong lĩnh vực hải
quan
1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước bằng pháp luật
QLNN bằng pháp luật được hiểu là quản lý xã hội, do Nhà nước đại diện cho giai cấp
thống trị xã hội tiến hành bằng công cụ pháp luật với việc sử dụng kết hợp với các công cụ,
phương pháp và bằng hình thức khác nhau để tác động lên các quá trình xã hội, nhằm thiết lập,
duy trì trật tự xã hội có lợi cho giai cấp thống trị.
1.1.2. Khái niệm hải quan
“Hải quan là một trong những công cụ đối ngoại quan trọng của Chính phủ , có nhiệm
của Hải quan Việt Nam ngày nay. Trong kháng chiến chống Pháp (1946-1954), nhiệm vụ chủ yếu
của ngành Thuế quan là "bao vây kinh tế địch, kiểm soát việc trao đổi hàng hóa giữa vùng tự do và
vùng tạm chiếm, chống buôn lậu xa xỉ phẩm ngoại hóa và tích cực thu thuế nhập nội, đánh thuế
gián thu vào một số hàng hóa lưu thông ở vùng tự do" [18, tr. 193]. Hòa bình lập lại (1954), theo
Nghị định số 136/BCT-KB-NĐ ngày 14-12-1954 của Bộ trưởng Bộ Công thương, Sở Thuế quan
và Thuế gián thu được đổi thành "Sở Hải quan" thuộc Bộ Công thương. Điều lệ Hải quan được ban
hành kèm theo Nghị định số 3/CP của Hội đồng Chính phủ ngày 27-2-1960. Năm 1984, Tổng cục
Hải quan được thành lập trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) theo Nghị quyết số
547-NQ/HĐNN7 ngày 30-8-1984 của Hội đồng Nhà nước. Ngày 20-2-1990 Pháp lệnh Hải quan
được ban hành thay thế Điều lệ Hải quan, từ đây, hoạt động hải quan bắt đầu được luật hóa. Tháng
7-1993, Hải quan Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức Hải quan Thế giới, và trong
khuôn khổ của tổ chức này đã có nhiều hoạt động mang lại kết quả thiết thực. Ngày 29-6-2001,
Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ban hành Luật Hải quan thay thế Pháp lệnh Hải quan,
và có hiệu lực từ ngày 01-1-2002. Chính sách hải quan từ chỗ "thực hiện chính sách độc quyền
ngoại thương" của Nhà nước, chuyển sang thực hiện chính sách "tạo điều kiện thuận lợi cho xuất
khẩu, nhập khẩu, quá cảnh" phục vụ công cuộc đổi mới, cải cách hành chính, mở cửa, hội nhập,
tham gia toàn cầu hóa kinh tế của đất nước ta.
1.2. Đặc điểm, nội dung của quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan
1.2.1. Đặc điểm của quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan
- Đặc điểm về công cụ quản lý;
- Đặc điểm về đối tượng quản lý;
- Đặc điểm về không gian - "lãnh thổ hải quan", nơi tổ chức thực hiện pháp luật hải quan;
- Đặc điểm về mục đích quản lý;
- Đặc điểm về chủ thể quản lý.
1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan
(i)xây dựng và hoàn thiện pháp luật hải quan; sử dụng và áp dụng pháp luật hải quan thông
qua việc tổ chức triển khai thi hành pháp luật trên thực tế;
(ii) bảo vệ pháp luật hải quan thông qua việc đề ra và thực hiện phòng, chống vi phạm pháp
luật hải quan,
(iii) thực hiện kiểm tra, thanh tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật hải quan, cũng như xử lý
giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm PLHQ. Trong đó, thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện
những sơ hở, khiếm khuyết, vi phạm pháp luật để có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời; vi phạm
pháp luật hải quan tùy theo mức độ, hình thức vi phạm mà bị áp dụng xử lý chế tài hành chính
hoặc hình sự. Hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo trước hết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp
của pháp nhân, công dân, đồng thời, phát huy dân chủ và vai trò giám sát của nhân dân đối với
hoạt động QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan.
Chương 2
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ QLNN TRONG LĨNH VỰC HẢI
QUAN
2.1. Pháp luật về kiểm tra thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (hay còn gọi là thuế hải quan) là một khoản tiền được tính
toán dựa trên các căn cứ nhất định do đối tượng nộp thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước khi
tiến hành xuất khẩu hoặc nhập khẩu các loại hàng hóa là đối tượng chịu thuế hải quan qua biên
giới quốc gia.
Việc kiểm tra tính thuế hải quan được thực hiện nhằm hai mục đích: kiểm tra tính trung
thực, chính xác của đối tượng nộp thuế và kiểm tra việc áp dụng các chế độ, chính sách để có
hướng dẫn cụ thể, kịp thời.
2.2. Pháp luật về thủ tục hải quan
Nội dung thủ tục hải quan là giải quyết quan hệ thủ tục hành chính giữa chủ thể quản lý:
Nhà nước - cơ quan hải quan hoặc cơ quan khác của Nhà nước được ủy quyền và đối tượng
quản lý - người sở hữu hoặc đại diện sở hữu hàng hóa XNK, phương tiện vận tải XNC theo
những bước, khâu hành chính đối ứng, để sau đó hàng hóa, phương tiện vận tải được thông
quan. Nội dung pháp luật về thủ tục hải quan được cụ thể tại Chương III Luật Hải quan;
Chương II, III Nghị định 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ và phần II Thông
tư 194/2010/TT-BTC ngày 06/12/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thủ tục hải quan; kiểm
tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu.
2.3. Pháp luật về kiểm tra, giám sát hải quan
+ Quy định xử lý vi phạm với cơ quan hải quan, công chức hải quan.
+ Các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành
chính
+ Quy định thẩm quyền, thủ tục xử lý vi phạm.
+ Quy định việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính.
Kết luận chƣơng 2
Pháp luật với vai trò là công cụ QLNN trong lĩnh vực hải quan, đã được Đảng và Nhà nước
quan tâm, sử dụng ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập và được duy trì
xuyên suốt hơn 65 năm qua. QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực hải quan, kể từ khi đổi mới,
mở cửa đến nay đã đạt được nhiều thành tựu, kết quả khá quan trọng.
Hệ thống pháp luật về lĩnh vực hải quan đã được các cơ quan nhà nước các cấp, ngành có thẩm
quyền ban hành, từng bước đổi mới, kiện toàn cả về nội dung và hình thức, nhằm phù hợp với yêu
cầu thực tiễn đòi hỏi của kinh tế thị trường và hội nhập, toàn cầu hóa kinh tế, làm nền tảng, cơ sở để tổ
chức thực hiện và bảo đảm thực hiện mục tiêu, mục đích QLNN lĩnh vực hải quan thời gian qua.
Trong chương 2, luận văn đã trình bày khái quát một số quy định của pháp luật về QLNN
trong lĩnh vực hải quan như pháp luật về kiểm tra thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; pháp luật
về thủ tục hải quan; pháp luật về kiểm tra, giám sát hải quan; pháp luật về phòng, chống buôn lậu
và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan. Đây cũng chính cơ sở để tìm hiểu, nghiên
cứu thực trạng thực hiện QLNN bằng pháp luật tại Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế trong
chương 3.
Chương 3
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ QLNN
TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QLNN BẰNG PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC HẢI QUAN
3.1. Thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý nhà nƣớc trong lĩnh vực hải quan tại
Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế
3.1.1. Giới thiệu sơ lược về Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế
(do người sử dụng hoặc do phần mềm) làm chậm thời gian thông quan hàng hóa cho doanh
nghiệp.
3.1.4. Thực trạng thực hiện pháp luật về kiểm tra, giám sát hải quan tại Cục Hải quan tỉnh
Thừa Thiên Huế
Thực hiện pháp luật về kiểm tra, giám sát hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế
đang tồn tại những yếu điểm, bất cập, đó là: 1) công tác thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ hải
quan nhằm áp dụng biện pháp quản lý rủi ro liên quan đến đối tượng làm TTHQ, cũng như việc
phân loại DN, tổ chức để có cơ sở quyết định các hình thức kiểm tra thực tế hàng hóa XNK còn
nhiều bất cập, thiếu thông tin hoặc thông tin chưa đủ tin cậy; phần lớn lô hàng kiểm tra thực tế
đều không phát hiện vi phạm; 2) việc kiểm tra, giám sát chủ yếu vẫn là hình thức thủ công, chủ
yếu vẫn phải kiểm tra bằng "mắt", bằng "tay", kết quả vẫn dựa nhiều vào cảm quan, "võ đoán",
vì cán bộ kiểm hóa không thể trang bị được kiến thức thương phẩm học của hàng chục nghìn mặt
hàng; 3) việc triển khai nối mạng dữ liệu điện tử giữa Hải quan địa phương với các cơ quan nhà
nước chức năng để trao đổi, cung cấp thông tin về chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân XNK
hàng hóa vẫn chưa được tiến hành.
3.1.5. Thực trạng thực hiện pháp luật về phòng, chống buôn lậu và xử lý vi phạm pháp
luật hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế
Thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu tại Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế gặp
nhiều khó khăn do địa bàn quản lý rộng; lực lượng phòng, chống buôn lậu ít nên việc kiểm soát
địa bàn khó khăn. Đối với hoạt động xử lý vi phạm pháp luật hải quan tại Cục Hải quan tỉnh
Thừa Thiên Huế vẫn cũng có nhiều tồn tại, hạn chế, đó là: chưa trang bị trang thiết bị hiện đại để
có thể phát hiện hàng hóa vi phạm; việc thu thập thông tin về đối tượng vi phạm chưa được tiến
hành một cách đầy đủ, chính xác.
3.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật trong
lĩnh vực hải quan
- Những tác động khách quan tiêu cực, yếu kém của cơ chế quản lý vĩ mô, những ảnh
hưởng mặt trái của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa
- Những tồn tại, hạn chế của hệ thống pháp luật trong lĩnh vực hải quan
- Những nguyên nhân tồn tại, hạn chế trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật quản lý
nhà nước lĩnh vực hải quan
KẾT LUẬN
Qua thực tiễn công tác tại Cục Hải quan tỉnh Thừa Thiên Huế, quản lý nhà nước bằng pháp
luật là vấn đề mang tính phổ biến của hầu hết các quốc gia. Ở Việt Nam, trong điều kiện toàn cầu
hóa và tham gia vào Tổ chức thương mại quốc tế WTO, bên cạnh các công cụ quản lý khác, pháp
luật đã trở thành công cụ quản lý được Nhà nước quan tâm, coi trọng. Đảng và Nhà nước Việt
Nam luôn khẳng định: "Quản lý đất nước bằng pháp luật, chứ không chỉ bằng đạo lý" [13, tr. 120].
Quản lý nhà nước bằng pháp luật là quản lý toàn diện mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
QLNN bằng pháp luật, do vậy, bao gồm cả ba mặt quan hệ chặt chẽ với nhau là xây dựng pháp
luật, thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật. Vì Nhà nước là chủ thể công quyền thực hiện quản
lý toàn diện các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, nên trên từng lĩnh vực quản lý đều phải
có pháp luật.
Trong lĩnh vực hải quan, những năm qua QLNN bằng pháp luật đã không ngừng tăng cường
góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế trong nước phát triển, đẩy mạnh giao lưu và hợp tác quốc tế,
bảo vệ lợi ích chủ quyền an ninh quốc gia. Hệ thống pháp luật về lĩnh vực hải quan đã ngày càng
trở thành công cụ quan trọng của Nhà nước để điều chỉnh, quản lý trực tiếp các hoạt động kinh tế
đối ngoại. Song, do tác động ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, pháp luật
về lĩnh vực hải quan đã tồn tại không ít khiếm khuyết, bất cập, đòi hỏi phải khẩn trương xây dựng,
hoàn thiện, đồng thời phải có các giải pháp tổ chức và bảo đảm thực hiện hiệu quả, kịp thời. Nói
cách khác, yêu cầu khách quan nhằm nâng cao hiệu quả QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực hải
quan trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam nói chung và ở Thừa Thiên Huế nói riêng, đòi hỏi phải
được chú trọng cả ba mặt xây dựng, kiện toàn hệ thống PLHQ, phải bảo đảm thực hiện trong thực
tế pháp luật đó, đồng thời xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm PLHQ. Vấn đề hiện nay là ở
chỗ, Nhà nước và cả hệ thống chính trị phải có những phương thức, giải pháp đồng bộ, có tính khả
thi, trong đó tập trung giải quyết tốt các vấn đề sau:
- Khẩn trương sửa đổi, bổ sung Luật Hải quan, khắc phục mâu thuẫn, chồng chéo giữa
Luật Hải quan với các văn bản pháp luật liên quan. Đồng thời, thường xuyên làm tốt công tác rà
soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan.
- Cùng với việc ban hành pháp luật hải quan cần đẩy mạnh hơn nữa hoạt động, tuyên
Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
14. Chu Minh Hảo (2004), Một số vấn đề về Quản lý Nhà nước, Nxb Thống kê.
15. Nguyễn Vũ Hoàng (2003), Các liên kết kinh tế - thương mại quốc tế,
Nxb Thanh niên, Hà Nội.
16. Hironori Asakura (2003), Lịch sử hải quan và thuế quan thế giới, Nxb Tổ chức Hải quan
thế giới.
17. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), Từ điển Bách
khoa Việt Nam, tập 2 E-M, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
18. TS. Nguyễn Thị Thương Huyền (2009), Thủ tục hải quan lý thuyết và 175 tình huống ứng
dụng, Nxb Tài chính.
19. Nguyễn Như Ý (2011), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia TpHCM.
20. Jacketta Hawkes và Leonard Woolley (2001), Lịch sử văn minh nhân loại thời tiền sử, Nxb
Văn hóa - Thông tin, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội.
21. Bửu Kế (1999), Từ điển Hán Việt từ nguyên, Nxb Thuận Hóa, Thừa Thiên Huế.
22. Hoa Ngọc Lý (2002), "Hội nghị "Diên Hồng" bàn cách đánh buôn lậu", Báo Biên phòng,
ngày 18/11/2002, (62), tr. 1-7.
23. Chu Văn Nhân (2002), "Đặc thù của công tác hải quan ở nước ta hiện nay", Lý luận chính
trị, (8), tr. 48-62.
24. Quốc Hội (2001), Luật Hải quan, ngày 29/6/2001.
25. Quốc hội (2005), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan 2001, ngày
14/6/2005.
26. Thủ tướng Chính phủ tổ chức Hội nghị chống buôn lậu trên biển” (1995), Báo Pháp luật,
ngày 19/9/1995.
27. Tổng cục Hải quan (2005), 60 năm Hải quan Việt Nam (1945 – 2005), Nxb Công an Nhân
dân.
28. Tổng cục Hải quan (2005), Hải quan Việt Nam – Những sự kiện (1945 – 2005), Nxb Công
an Nhân dân.
29. Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Công an