Nhân sinh quan phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với đội ngũ trí thức giáo dục đại học ở việt nam hiện nay - Pdf 41

MỞ ĐẦU
1.

Lí do chọn đề tài
Phật giáo là một trong ba tôn giáo lớn nhất thế giới (Phật giáo, Thiên
chúa giáo, Hồi giáo), ảnh hưởng vào nước ta từ những năm đầu công nguyên.
Phật giáo là tôn giáo bên ngoài ảnh hưởng sớm nhất ở nước ta so với các tôn
giáo khác và phù hợp với truyền thống, văn hóa con người Việt Nam. Phật
giáo hình thành ở Ấn Độ từ thế kí thứ VI TCN, nhưng lại không thể phát triển
trên quê hương của nó, mà khi đến Việt Nam tôn giáo này đã thay đổi để phù
hợp với tính cách con người Việt. Chính vì vậy Phật giáo đã tồn tại ở nước ta
hàng nghìn năm nay, cho nên nó có ảnh hưởng rất sâu sắc đến đời sống tinh
thấn con người. Có thể nói Phật giáo chiếm vị trí không thể thay thế trong đời
sống tâm linh ở nước ta. So với các tôn giáo và hệ tư tưởng khác Phật giáo có
vị trí đặc biệt quan trọng trong lòng người dân Việt Nam mà các tôn giáo
khác không có được. Phật giáo hòa đồng, đồng hành cùng người Việt trong
suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữa nước của cha ông ta. Chính vì vậy,
khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam không mang đặc điểm của đất nước Ấn
Độ nữa mà mang dáng dấp của dân tộc Việt.
Nét đẹp trong nhân sinh quan Phật giáo là yếu tố mà người Việt Nam
luôn hướng đến để hoàn thiện nhân cách, lối sống, giáo dục đạo đức …. Bởi
nhân sinh quan Phật giáo luôn chứa đựng tinh thần bác ái, cứu rỗi con người
và hướng con người không chỉ ở nước ta mà trên toàn thế giới, bất kể nơi đâu
mà Phật giáo đi đến để hành thiện tích đức. Đó là một trong những điểm nổi
bật trong tư tưởng của Phật giáo, khiến tôn giáo này gần gũi với cuộc sống
hơn, chan hòa hơn so với các tôn giáo khác. Phật giáo đi vào lòng người chính
là từ những tư tưởng nhân sinh quan này chứ không phải là những giáo lý hay
những bộ kinh đồ sộ của đạo Phật.

1


năm 2012; Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Đăng Thục, Giáo trình Tôn giáo
học của Trần Đăng Sinh, Đào Đức Doãn; Lịch sử Ấn Độ Cổ Đại của Nguyễn
2

2


Thị Toan, Tôn giáo phương Đông của Đỗ Minh Hợp; Tôn giáo và văn hóacủa
Trương Sĩ Hùng; Lịch sử triết học Phương Đông của các tác giả khác nhau:
Nguyễn Hữu Vui, Trần Đăng sinh, Viện Triết học…. Các tác giả đã trình bày,
phân tích những tư tưởng cơ bản của Phật giáo trong quá trình hình thành và
phát triển của nó. Từ đó thấy được vai trò của Phật giáo ở nước ta
Nhóm thứ hai, đi sâu nghiên cứu những nội dung cụ thể của Phật giáo
– mảng nhân sinh đạo đức. Nội dung trên được đăng tải ở các tạp chí chuyên
ngành như: tạp chí Triết học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ hay trong các
sách chuyên luận như Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo của Thích Tâm
Thiện; Đạo làm người trong triết lý nhân sinh Phật giáo và ý nghĩa của nó
đối với xã hội Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thị Thọ (Tạp chí triết học số
8/2013), Một số suy nghĩ về ảnh hưởng của Phật giáo đối với tư duy người
Việt của Nguyễn Hùng Hậu (Tạp chí triết học số 5/1996), Khái niệm về Niết
Bàn trong Phật giáo của Nguyễn Thị Toan (Tạp chí triết học số 3/1996),Thử
bàn về nhân sinh quan Phật giáo qua giáo lý Duyên khởi của Lưu Thị Quyết
Thắng trong Tạp chí Phật học số 5 Luận văn thạc sĩ: Ảnh hưởng nhân sinh
quan Phật giáo đến đời sống tinh thần người Hà Nội hiện nay của Đặng Ánh
Tuyết, Nhân bản và nhân bản Phật giáo của Thích Mãn Giác; Đạo làm
người trong nhân sinh quan Phật giáo của Vũ Minh Tuyên trong Kỷ yếu
hội thảo khoa học Đạo làm người trong văn hóa Việt Nam; Giá trị nhân
bản của Phật giáo trong truyền thống và hiện đại của Hoàng Thị Thơ Các tác giả
đã đi luận giải sâu về khía cạnh nhân sinh, đạo đức của Phật giáo từ đó thấy
được vai trò giáo dục đạo đức của Phật giáo đối với con người.

3.

Mục đích nghiên cứu
Phân tích bản chất nhân sinh quan Phật giáo và đánh giá thực trạng ảnh
hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với đội ngũ trí thức giáo dục đại học
ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó đưa ra một số phương hướng và giải pháp
chủ yếu nhằm xây dựng đạo đức mới cho người trí thức giáo dục đại học ở
nước ta hiện nay
4

4


4.
4.1.

4.2.

5.

Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Hệ thống giáo lý của Phật giáo, đội ngũ trí thức và những người
Việt Nam bị ảnh hưởng bởi Phật giáo
Đối tượng nghiên cứu
Nhân sinh quan Phật giáo và ảnh hưởng của tư tưởng nhân sinh
quan Phật giáo đối với đội ngũ trí thức giáo dục đại học hiện ở Việt Nam
Giả thuyết khoa học
- Phật giáo xuất hiện vào thế kỷ thứ VI TCN trong xã hội Ấn Độ cổ
đại, được Thái tử Tất Đạt Đa sáng lập.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được
bố cục 2 chương, 7 tiết
10. Tóm tắt những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
10.1. Luận điểm cơ bản
- Về lí luận: nhân sinh quan Phật giáo chứa đựng nhiều giá trị khoa học,
nhân văn, nhân đạo, nên nó rất cần thiết cho giáo dục nhân cách con người
Việt Nam hiện nay.
- về thực tiễn: phân tích và làm sáng tỏ ảnh hướng của nhân sinh quan
Phật giáo đối với trí thức Việt Nam, góp phần quan trọng vào việc nâng cao
chất lượng đào tạo đại học ở nước ta hiện nay
10.2. Những đóng góp mới về khoa học của đề tài
- Về lí luận: phân tích một cách hệ thống những vấn đề lý luận về nhân
sinh quan Phật giáo.
- Về thực tiễn: phân tích và làm sáng tỏ những ảnh hưởng tích cực và
tiêu cực của tư tưởng nhân sinh quan Phật giáo đối với đội ngũ trí thức giáo
dục đại học ở nước ta hiện nay.
+ Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm phát huy mặt
tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của ảnh hưởng tư tưởng nhân sinh quan Phật
giáo trong việc xây dựng đạo đức người trí thức giáo dục đại học ở Việt Nam
hiện nay.

6

6


Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CHO SỰ RA ĐỜI NHÂN SINH
QUAN PHẬT GIÁO
1.1. Cơ sở lý luận của sự ra đời Nhân sinh quan Phật giáo
1.1.1.

đơn giản mơ hồ chỉ là những nhu cầu tất yếu của cuộc sống săn bắt, rồi săn
bắn hái lượm.
Khi nhà nước cổ đại hình thành những người tầng lớp thấp kém nhất
trong xã hội trở thành nô lệ phục vụ cho những gia đình quý tộc, chủ nô.
Thời kỳ này có người cho rằng nô lệ chỉ như công cụ biết nói, là công cụ lao
động suốt đời của chủ nô. Bản thân họ cũng mặc nhiên thừa nhận, chấp
thuận cuộc sống như vậy.
Sang đến thời phong kiến đã giải thoát hàng triệu người nô lệ khỏi
tư tưởng "công cụ sống", đa số họ đã trở thành người nông dân có ruộng
đất. Nhưng thời kỳ nay quan niệm sống của họ thay đổi vua trở thành "con
trời", phục tùng vua vô điều kiện, trong thành với vua. Hình tượng người
"quân tử" trong xã hội phương Đông, và "hiệp sĩ" trong xã hội phương Tây
trở thành mẫu hình để con người hướng đến và phấn đấu vì lí tưởng trị
quốc.
Cuộc sống hiện đại khiến tư duy, nhận thức của con người thay đổi,
con người có ý thức tự chủ hơn, cá nhân hơn là lệ thuộc. Các giai tầng
trong xã hội bình đẳng, sự phân biệt đẳng cấp cũng mất dần.
Nhân sinh quan rất rộng và phong phú bởi nó nghiên cứu về con
người với tất cả khía cạnh. Mà con người là chủ thể tạo ra những quy phạm
về triết học, pháp quyền, nhà nước, tôn giáo, … những thượng tầng kiến
trúc, và toàn bộ cơ sở hạ tầng tương ứng.
1.1.2.

Nhân sinh quan Phật giáo

Về bản chất, tôn giáo không chỉ là hình thái ý thức xã hội mà còn là

một thực thể xã hội. Với tư cách là hình thái ý thức xã hội, tôn giáo phản
ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan, là sự ru ngủ con
người bởi các quan điểm, hiện thực siêu nhiên. Điều này được Ph.Ăngghen


quyết vấn đề thế giới quan, nhân sinh quan. Nhưng ở Phật giáo nhân sinh
quan được đề cập chủ yếu. Giáo lý Phật giáo bao gồm hệ thống quan niệm
về nhận thức luận, thế giới quan, nhân sinh quan với một kết cấu chặt chẽ.
9

9


Nhân sinh quan Phật giáo được bắt nguồn từ thế giới quan. Tuy nhiên mục
đích chủ yếu của Phật giáo là cứu khổ cứu nạn, giải phóng con người cho
nên nó mang giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Nếu như triết học phương
Tây chú trọng nghiên cứu thế giới, tìm hiểu giới tự nhiên, xây dựng nên các
học thuyết, các cặp phạm trù, v.v… thì triết học phương Đông (Trong đó có
triết học Phật giáo) lại nghiêng về việc nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề
chính trị, xã hội, đạo đức, tôn giáo, đặc biệt là vấn đề con người hơn là việc
tìm hiểu giới tự nhiên. Triết học phương Đông nghiên cứu thế giới để làm
sáng tỏ con người. Mục đích nhận thức thế giới của triết học đều nhằm
phục vụ cho đời sống của con người và xã hội.
Cũng như nhiều trào lưu tư tưởng triết học phương Đông, Phật giáo
đề cao và nhấn mạnh nhất vấn đề nhân sinh. Điều này góp phần lý giải vì
sao mặt vũ trụ quan, thế giới quan của Phật giáo, nhất là Phật giáo nguyên
thủy hơi mờ nhạt trong khi nội dung nhân sinh quan lại khá rõ ràng và
mang tính nổi trội. Mục đích cuối cùng của Phật giáo là giải thoát con
người khỏi nỗi khổ trần thế thông qua con đường tu tập, buông xả những
thứ tạm thời của cuộc sống. Do đó, Phật giáo chú trọng nguyên lý, nguyên
nhân hay căn nguyên (triết lý nhân quả) mà không có chủ trương giải
quyết những vấn đề có tính chất siêu hình hoặc chung chung nào đó. Khi
các đệ tử hỏi Đức Phật về vấn đề siêu hình trừu tượng như vũ trụ có vĩnh
hằng không? Nó vô hạn hay hữu hạn? Linh hồn và thể xác là một hay khác

Trí thức là một thuật ngữ đã được sử dụng rộng rãi như một ngữ
thông dụng hiện nay. Trí thức có nguồn gốc từ tiếng Latinh: Intelligentia
(Intelligens là thông minh, có trí tuệ, có nhận thức, hiểu biết có suy nghĩ)
dùng để chỉ những người có học thức cao, học vấn sâu rộng.
Trên thế giới và ở nước ta hiện nay đang có nhiều cách tiếp cận, cách
hiểu khác nhau về trí thức (có trên 60 khái niệm, định nghĩa về trí thức).
Điển hình như Từ điển Triết học: trí thức là ‘tập đoàn xã hội gồm những
người làm nghề lao động trí óc. Giới trí thức bao gồm kĩ sư, kĩ thuật viên,
thầy thuốc, luật sư, nghệ sĩ, thầy giáo và những người làm công tác khoa
học, một bộ phận lớn viên chức’ [53, 598]. Định nghĩa này chưa khái quát
được hết đặc trưng của người trí thức và mang tính liệt kê nhiều hơn. Theo
tác giả Nguyễn Văn Sơn định nghĩa về trí thức trong cuốn ‘Trí thức giáo dục
11

11


đại học Việt Nam thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa’: ‘trí thức
là một tầng lớp xã hội, gồm những người có trình độ học vấn, trình độ
chuyên môn cao, bằng lao động trí tuệ sáng tạo của mình để phát kiến,
truyền bá và ứng dụng những tri thức khoa học mới, tiến bộ và hữu ích vào
đời sống xã hội. Đây là lực lượng xã hội đang trở thành nguồn lực quan
trọng cho sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như phát triển chung của
nhân loại’ [33, 11], định nghĩa của tác giả Nguyễn Văn Sơn đã khái quát
được những đặc điểm cơ bản của trí thức nhưng vẫn chưa nêu được sự độc
lập trong nhận thức, sáng tạo mà không phụ thuộc của người trí thức.
Dựa vào những điều trên, có thể thấy có ba cách hiểu chung nhất về
trí thức với những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất: trí thức là người lao động trí óc, có hiểu biết sâu, rộng, thông
thường có trình độ đại học và tương đương trở lên, có năng lực sáng tạo, có trình

xã hội đặc biệt và đặc thù chứ không phải là một giai cấp vì trí thức giáo dục
đại học không thuộc về một giai cấp nào duy nhất, nó hình thành như một
nhóm xã hội lớn theo cách nhìn của xã hội học, có đặc điểm lao động và
phương thức (cách thức) sản xuất riêng để sản xuất và truyền bá tri thức. Do
không có hệ tư tưởng độc lập của mình nên trí thức không phải là một giai
cấp. trí thức giáo dục đại học là một tầng lớp xã hội gắn liền với một chính
thể và các thể chế do giai cấp cầm quyền tạo ra và chi phối. Trong lịch sử,
giai cấp nào cầm quyền đều dùng ý thức hệ giai cấp của mình chi phối xã hội,
biểu hiện thành ý thức hệ của xã hội. Sự chi phối tư tưởng này ảnh hưởng
trực tiếp tới thế giới quan, nhân sinh quan, tới hoạt động nghề nghiệp, thái
độ và lối sống của trí thức. V.I Lênin đã từng chỉ ra, giai cấp công nhân khi
giành được chính quyền và trở thành giai cấp lãnh đạo phải chú trọng sử
dụng trí thức, đào tạo một lực lượng chuyên gia thực sự là của mình, và bất
13
13


luận thế nào cũng không được thua kém các chuyên gia tư sản. Rõ ràng, thái
độ đối với trí thức và việc sử dụng đội ngũ trí thức nhất là trí thức giáo dục
đại học luôn bị chi phối bởi quan điểm chính trị, lợi ích của giai cấp thống trị.
Do không phải là một giai cấp độc lập, không có hệ tư tưởng riêng, nên trí
thức giáo dục đại học luôn chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những yêu cầu lịch
sử của thời đại mà họ đang sống, trí thức phục vụ cho chế độ và cho giai cấp
cầm quyền. Tuy nhiên, trí thức giáo dục đại học không chỉ do giai cấp thống
trị cầm quyền chi phối. Tầng lớp trí thức giáo dục đại học hình thành và tồn
tại trong lòng dân tộc, trong khuôn khổ từng quốc gia – dân tộc và trong
cộng đồng xã hội (nhân dân). Do đó, tầng lớp trí thức có mối liên hệ mật
thiết với dân tộc và nhân dân.
1.1.3.2.


nước. Họ cũng là người biết kế thừa những giá trị tốt đẹp của cha ông và
thế giới, biết phê phán những gì cản trở sự phát triển của dân tộc. Từ
những tấm gương của trí thức trong cách mạng tháng Tám và kháng chiến
có thể nhận rõ rằng, tiềm năng trí tuệ với lòng yêu nước của trí thức và trí
thức giáo dục đại học là tài sản quý giá của dân tộc, sẽ phát huy sức sống
của nó trong môi trường tiến bộ.
Thứ hai, trí thức giáo dục đại học nước ta có nguồn gốc xuất thân từ
các giai tầng khác, chủ yếu là từ giai cấp công nhân, nông dân.
Đây là một đặc điểm khác so với các nước. Chính vì vậy mà tầng lớp
trí thức giáo dục đại học có mối quan hệ mật thiết với công nhân, nông dân,
nên họ phần nào hiểu được cuộc sống, tâm tư, nguyện vọng của họ. Cũng
chính vì đa số xuất thân từ các tầng lớp thấp, cho nên họ có sự nỗ lực vươn
lên trong công việc, trong cuộc sống.
Thứ ba, trí thức giáo dục đại học là người trực tiếp tham gia vào quá
trình đào tạo ở bậc cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Thông quan hai cấp đào tạo đại học (trình độ cao đẳng, đại học) và
sau đại học (trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ), đội ngũ trí thức giáo dục đại học trực
tiếp tham gia vào chuẩn bị nguồn nhân lực trình độ cao, xây dựng đội ngũ
chuyên gia, những nhà khoa học, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất
lượng lao động của nền kinh tế - xã hội và yêu cầu của nền công nghiệp
15
15


hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự phát triển
của cuộc các mạng khoa học công nghệ hiện đại đã chứng minh con người
là tài nguyên quý giá, đồng thời cũng làm tăng tính chất quyết liệt của sự
cạnh tranh trên thị trường. Kinh tế ngày càng phát triển tạo khiến trình độ
nhận thức của con người ngày càng cao. Giáo dục cần phải đi trước một
bước, cần được đầu tư nhiều hơn nữa để sánh bước, tiếp thu những tinh

năng tiếp thu tinh hoa nhân loại, và khả năng tìm tòi tri thức mới của các
nước khác trên thế giới. Hiện nay, chúng ta đang sống trong một thế phẳng,
không có rào cản ngăn cấm giao lưu kinh tế, tri thức, mà chỉ có rào cản về
ngôn ngữ. Cho nên hạn chế về ngoại ngữ là một thách thức không nhỏ đối
với trí thức giáo dục đại học nói chung, và đội ngũ trí thức nói chung. Chỉ có
một bộ phận nhỏ trí thức giáo dục đại học nghiên cứu giảng dạy về ngoại
ngữ mới có trình độ ngoại ngữ tốt.
Thứ sáu, tính cơ hội, thực dụng và vụ lợi trong hành xử; tâm lí chạy
theo thành tích và chấp nhận sự giả dối một cách dễ dàng, dẫn đến hiện
tượng một số “tiến sĩ giấy”, “tiến si rởm” mà xã hội đang lên án
Nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm trên là do yếu kém của
hầu hết cấp uỷ đảng, chính quyền trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công
tác đào tạo đội ngũ thạc sĩ, tiến sĩ dẫn đến việc đào tạo một cách ồ ạt, thiếu
minh bạch. Hiện tượng sính bằng cấp, bằng cấp hóa trong giáo dục dựa vào
bằng cấp để đánh giá năng lực khiến chất lượng đào tạo những trí thức
giáo dục đại học giỏi chuyên môn còn hạn chế. Hiện tượng sính bằng cấp đã
ăn sâu vào suy nghĩ của mỗi con người nhất là trí thức giáo dục đại học, bởi
bằng cao thì giá trị càng lớn. Ở nước ta hiện nay khi đi xin việc vào các
trường nhất là bậc đại học thì bằng cấp vô cùng quan trọng, chính là căn
cứ đánh giá năng lực của người dạy, điều này có lẽ chưa thật sự thỏa đáng.
Loài người từ khi sinh ra đã muốn chinh phục và chinh phục tự
nhiên. Quá trình tồn tại ấy đã hình thành lên quan điểm của con người về
17
17


chính mình và cuộc sống của mình – nhân sinh quan. Nhân sinh quan Phật
giáo là sự nhìn nhận về cuộc sống của con người dưới giác độ nhà Phật.
Nhân sinh quan Phật giáo là giá trị cốt lõi của hệ thống triết học Phật giáo.
Nó có ảnh hưởng lớn đến đội ngũ trí thức nói chung và trí thức giáo dục đại


khép kín tự cung tự cấp, phát triển rất chậm. Đặc biệt vấn đề giao thương
với thế giới bên ngoài hầu như không có bởi địa hình hiểm trở khó khăn
cho việc đi lại. Nền nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu ấy chiếm vai trò chủ
đạo trong đời sống đất nước cổ đại này, thủ công nghiệp cũng đóng với trò
quan trong, kết hợp với nông nghiệp tạo nên nền kinh tế điển hình của sản
xuất phương Đông. “Hình ảnh bánh xe – công cụ lao động và công cụ chiến
tranh chủ yếu của người Ấn Độ cổ đại đã trở thành tư tưởng chính về kiếp
luân hồi và lí tưởng “chuyển pháp luân” trong Phật giáo”[42,18].
Nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu như vậy khiến xã hội Ấn Độ cổ đại
xuất hiện nhiều đẳng cấp, trong đó có 4 đẳng cấp chính, sự phân biệt đẳng
cấp rất khắt khe, nghiệt ngã đã trói buộc con người vào hệ tầng xã hội,
không thúc đẩy con người đi lên mà chôn vùi con người từ thế hệ này sang
thế hệ khác, cha truyền con lối trong đẳng cấp đó. Người đẳng cấp thấp
phải phục tùng và không bao giờ trở thành đẳng cấp trên. Và đẳng cấp trên
nếu vi phạm luật lệ sẽ bị đuổi khỏi đẳng cấp của mình. Bốn đẳng cấp đó là:
Bà la môn (Brahmanas): là đẳng cấp có địa vị cao nhất, bao gồm
những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp.
Sát đế lị (Ksastryas): là đẳng cấp của vua quan và tầng lớp võ sĩ.
Vệ xá (Vaisyas): là đẳng cấp của những người bình dân làm các nghề
như chăn nuôi, làm ruộng, buôn bán, thợ thủ công,…
Thủ đà la (Soudras): là đẳng cấp thấp nhất, chiếm đa số, là con cháu của
những bộ lạc bại trận, những người bị phá sản, không có tư liệu sản xuất…
Sự phân biệt đẳng cấp diễn ra vô cùng khắc nhiệt khiến cho tầng lớp
đa số trong xã hội căm ghét chế độ đẳng cấp: như những người khác đẳng
cấp không được kết hôn với nhau, không ăn cùng người đẳng cấp dưới,
không hoạt động cùng người khác đẳng cấp, nếu cầm tay hoặc tóc người
đẳng cấp trên sẽ bị chặt tay.... Ngoài ra trong xã hội còn nhiều đằng cấp
19
19

Khoảng từ những năm 1.000 trước công nguyên đến năm 800 trước công
nguyên, mới được sưu tập, biên chép lại bằng một thứ tiếng Phạn cổ, gọi là
20
20


thánh kinh Vêda. “Vêda là gì ? Vêda nghĩa là hiểu biết. Đối với phái chính
thống Vêda nghĩa là những tri thức cao cả thiêng liêng” [53,115].
Kinh Vêda gồm 4 bộ: Rig Vêda, Sama Vêda, Yajur Vêda, Atharva Vêda.
Mỗi bộ kinh lại gồm 4 phần: Mantra, Brahmas, Aranyaka.
Theo các nhà nghiên cứu, kinh Vêda là những sách trình bày, giải
thích ý nghĩa các lễ nghi Vêdavà những kinh Upanishad, được biên soạn về
sau này: là những sách bình chú tôn giáo triết học, giải thích ý nghĩa triết lý
sâu xa của tư tưởng thần thoại, tôn giáo Vêda, trong đó nêu lên hàng đầu
lập luận khái quát về đấng sáng tạo tối cao, về “Tinh thần thế giới vô ngã”
tuyệt đối Brahman và linh hồn cá nhân (Atman) của con người.Linh hồn cá
nhân không tồn tại vĩnh viễn mà chỉ cư ngụ trong cơ thể con người trong 1
thời gian nhất định, chỉ có Brahman tồn tại vĩnh hằng; giải thích thế giới,
nhân quả…Bộ Thánh kinh Vêda, qua 3.000 năm nay vẫn được coi là thánh
điển căn bản của Bà-la-môn giáo, chia thành 4 phần, ứng dụng vào bốn
phương, diện hành lễ cao, thấp, và kinh nghĩa khác nhau.
1.2.1.3. Vai trò của Thái tử Tất Đạt Đa
Về gia thế của Thái tử Tất Đạt Đa, có rất nhiều truyền thuyết và lược sử
nói về cuộc đời của Đức Phật, tuy nhiên có thể nhận thấy được điểm chung
như sau: ngài sinh khoảng năm 624 trước Công nguyên và nhập Niết-bàn khi
đã sống được 80 tuổi (năm 543 TCN), trong một gia đình hoàng tộc thuộc
dòng Thích-catại Kapilavastu (Ca-tì-la-vệ) thuộc Nepal ngày nay. Cha của ông
là vua Tịnh Phạn, mẹ là hoàng hậu Maya, sinh ra ông trong khu vực vườn
Lumbini (Lâm-Tỳ-Ni)một thị trấn thuộc Ấn Độ, với đủ 32 tướng tốt để sau này
trở thành bậc vĩ nhân. Đây là khu vực nằm giữa dãy Himalaya và sông Hằng.

nghiệp của ta, giai cấp xã hội của ta... Ta đã chết như vầy.... Sự hiểu biết đầu
tiên này ta đã đạt được trong canh đầu. Ngài tự xưng là Buddha có nghĩa
22

22


là giác ngộ (phiên âm theo tiếng Hán là Phật). Người đời còn gọi Ngài là
Thích Ca Mâu Ni (bậc thánh của dòng họ Thích Ca).
Vai trò rất lớn nhất của Thái tử Tất Đạt Đa sau này là Phật đó chính
là hình thành Phật giáo và xây dựng hệ thống tư tưởng về giải thoát, nhân
sinh, thể giới với cách nhìn nhân văn cao cả là giải thoát con người khỏi
mọi đau khổ. Trước đó đã có rất nhiều người tìm đến cách giải thoát đó là
những đạo sư uyên thâm, hiểu rộng nhưng đều thất bại, đến lượt ngài, ngài
cũng thất bại với phương pháp tu khổ hạnh. Nhưng với sự kiên trì và một
lòng cứu chúng sinh ngài đã tìm được con đường giải thoát cho chúng sinh.
Sau khi giác ngộ Đức Phật Thích ca đã đi thuyết pháp khắp mọi nơi,
nơi nào có đâu khổ nơi đó ngài đến và tìm cách thoát khổ. Ngài đã cứu
được hàng nghìn chúng sinh khỏi đau khổ để được giải thoát. Không chỉ
dừng ở đó, tư tưởng của ngài nhất là tư tưởng nhân sinh có tác động mạnh
mẽ đến con người thế hệ sau hành thiện tích đức. Ban đầu Ngài chỉ truyền
miệng, sau đó được viết thành sách, thể hiện trong một khối lượng kinh điển
khá đồ sộ. Các kinh sách của Phật được ghi lại bởi hai văn tự căn bản là Bắc
phạn và Nam phạn, được tổ chức thành Tam tạng gồm Tạng Kinh (ghi những
lời Phật dạy), Tạng Luật (ghi những giới luật của Phật giáo) và Tạng Luận
(gồm các bài kinh, các tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao
tăng, học giả về sau này)
1.2.2.
1.2.1.1.


- Đạo Phật đã đến Việt Nam bằng con đường của các thương gia người
Ấn Độ trước, là đường biển (con đường hồ tiêu – các doanh nhân Ấn Độ
thường buôn bán hồ tiêu sang Việt Nam, Trung Quốc), theo bước chân của
các doanh nhân và Tăng sĩ Ấn Độ: xuất phát từ các hải cảng vùng Nam Ấn rồi
qua ngã Srilanka, Indonesia, Việt Nam...lợi dụng được luồng gió thổi định kỳ
24

24


vào hai lần một năm phù hợp với hai mùa mưa nắng ở khu vực Đông Nam Á,
những thương nhân Ấn đã tới các vùng này để buôn bán bằng những con
thuyền buồm. Trong các chuyến đi viễn dương này, các thương nhân thường
cung thỉnh một hay hai vị tăng để cầu nguyện cho thủy thủ đoàn và các vị
tăng này nhờ đó mà đến truyền bá Đạo Phật vào các dân tộc ở Đông Nam Á.
Giao Châu tiêu biểu bấy giờ là trung tâm Luy Lâu, là nơi tụ điểm nghỉ chân
giao lưu của các thương thuyền.
- Điểm mấu chốt thứ hai là đạo Phật được truyền đến Việt Nam trước
khi đến Trung Hoa, cũng như trong giai đoạn khai sinh, Phật giáo Việt Nam
cũng đã hưng thịnh hơn Phật giáo Trung Hoa cùng thời.
- Điểm thứ ba là đến thế kỷ thứ II đã có một nền Phật giáo và Phật học
hưng thịnh tại Việt Nam, nghĩa là đạo Phật đã truyền bá trước đó khá lâu, ít
nhất cũng phải hàng trăm năm trước, nghĩa là ít nhất cũng vào khoảng thế kỷ
thứ nhất hay sớm hơn nữa.
Trên lãnh thổ của Việt Nam và Trung Quốc (lúc này nước ta là quận
Giao Chỉ thuộc Nhà Hán), đã tồn tại ba trung tâm Phật giáo là Luy Lâu, Lạc
Dương và Bành Thành. Sử liệu cổ cũng không ghi nhận được rõ ràng sự hình
thành của hai trung tâm Lạc Dương và Bành Thành, chỉ có Luy Lâu thuộc Giao
Chỉ là được xác định rõ ràng và sớm nhất, và còn là bàn đạp cho việc hình
thành hai trung tâm kia. Đạo Phật đã đến và đã hưng thịnh ở Việt Nam trước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status