Tiểu luận môn tài chính công CÔNG BẰNG TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM - Pdf 28

LỜI MỞ ĐẦU.
Những ảnh hưởng ngoại tác tích cực và hiệu quả phân phối lại thu nhập đảm bảo
công bằng xã hội của giáo dục, dẫn tới vấn đề đòi hỏi giáo dục công miễn phí đã trở thành
ngọn cờ tiên phong trào đấu tranh dân quyền và nhân quyền trong cuộc cách mạng tư
sản ở Pháp từ cuối thế kỷ XVIII, và sau đó được lan rộng khắp châu Âu, mà hiện nay được
chấp nhận rộng rãi, đặc biệt ở những nước Bắc Âu. Việt Nam đang xây dựng một nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì tiêu chí công bằng xã hội trong tiêu
dùng hàng hóa giáo dục, cũng không năm ngoài mục đích này.
Khác với những nước có khoảng thời gian dài đầu tư coh phát triển, những chính
sách cung cấp và tài trợ cho giáo dục ở các nước đang phát triển nếu không có nghiên
cứu để tìm ra những luận cứ khoa học đầy đủ, thì quá trình thực hiện sẽ luôn luôn gặp
phải những mâu thuẫn. Kết quả dẫn đến, không chỉ hiệu quả kinh tế của các chính sách
đầu tư không đạt được mục đích mà còn tạo ra thêm những bất công trong giáo dục, kết
quả phân phối ngược có thể xảy ra, mà nguồn gốc lại bắt đầu từ những quyết sách của
chính Nhà nước.
Những mâu thuẫn trong các chính sách đầu tư cho giáo dục thường xuất hiện ở
các quốc gia mà mong muốn phát triển hệ thống giáo dục của mình trước quy mô tăng
trưởng của nền kinh tế, bởi vì chi tiêu cho giáo dục bị ấn định bởi ngân sách quốc qia,
nhưng chi phí cho giáo dục lại luôn tăng, cùng với nhu cầu học tập ngày càng tăng của
Nhóm thực hiện: Nhóm 2A Trang: 1
người dân lại không thể bị giới hạn, bởi vậy, trong các chính sách tài trợ cho giáo dục,
Chính phủ luôn mong muốn có thêm đóng góp từ phía người dân, cộng đồng thông qua hệ
thống đại học tư thục, dùng các chính sách tư nhân hóa, xã hội hóa giáo dục. Tuy tiến
trình mở rộng sự tham gia của cộng đồng vào tài trợ cho giáo dục là con đường tất yếu,
nhưng không phải luôn thành công, nếu thiếu cơ sở pháp lý, thiếu tính công khai, minh
bạch có thể sẽ làm cho những chính sách công bằng trong giáo dục bị biến dạng, lạm
dụng bởi mục tiêu lợi nhuận, rút cục giáo dục bị rơi vào những cái bẫy có kết quả không
mong đợi mà có thể dự báo trước.
Do vậy, vấn đề cung cấp các sản phẩm của giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học
trong nền kinh tế để nhắm tới nhiều mục đích, trong đó có thực hiện phân phối lại đảm
bảo công bằng xã hội là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của chi tiêu công

học thì không phải ai cũng có thể. Có thể nói đầu vào đại học đã cho thấy được sự phân
loại: người có khả năng tích lũy tri thức nhiều hơn cùng với khả năng tài chính sẽ có cơ
hội vào đại học cao hơn những người khác. Như vậy nền giáo dục đại học cho thấy rõ đã
có sự phân bổ theo công bằng dọc trong hệ thống giáo dục.
Nếu như công bằng ngang có thể thực hiện bởi cơ chế thị trường, thì công bằng
dọc cần có sự điều tiết của nhà nước. Chính phủ thực thi chính sách phân phối theo công
bằng dọc nhằm giảm chênh lệch về phúc lợi giữa các cá nhân.
Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục là vấn đề rất khó khăn, nan giải, không
kể đến những yếu tố về chính trị thì sự bình đẳng về giáo dục còn bị va chạm vào hàng
Nhóm thực hiện: Nhóm 2A Trang: 3
loạt các yếu tố xã hội phức tạp khác như: chi phí cho việc học tập, hoàn cảnh xã hội và gia
đình, hệ thống tổ chức của giáo dục. Có thể nói giải quyết vấn đề công bằng xã hội trong
giáo dục chính là việc thu hẹp sự cách biệt xã hội, nhưng chúng ta chỉ có thể tiệm cận
được nó chứ không thể đạt được nó một cách hoàn hảo. Thực hiện công bằng xã hội
trong giáo dục là điều kiện để phát triển nguồn nhân lực, trong đó vai trò của Chính phủ
mang yếu tố quyết định. Nhà nước phải vượt lên trên mọi quan niệm và xu hướng xã hội,
nhìn vào nhu cầu của toàn dân, như thế mới mong giữ được công bằng trong việc mở
mang nền giáo dục.
Bác Hồ có nhận định “Mọi người thanh niên Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của
mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng
nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ”. Có thể nói tư tưởng dành
độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân và cụ thể hơn là ham muốn tột bật của Người. “…
ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành là tư tưởng xuyên suốt, căn bản trong
việc thực hiện công bằng xã hội nói chung và công bằng xã hội trong giáo dục nói riêng”.
Đường lối, chính sách của Việt Nam luôn luôn nhất quán coi trọng việc xây dựng
nền tảng học vấn tối thiểu cho toàn dân để trên cơ sở đó không ngừng phát triển sự
nghiệp giáo dục nhằm mục tiêu: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng
cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”.
Trong Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã quy định rất rõ ràng : “Công dân có quyền và nghĩa vụ học học tập”, hoặc: “mọi công

dục
19 1 15 29 54 41 73 112
Chất lượng học toán, KH 10 1 13 32 109 41 57 79
Chất lượng các trường QL 26 7 23 32 35 33 90 120
Tiếp cận Internet 4 9 31 64 58 37 46 67
Mức độ sẵn sàng các dịch
vụ đào tạo và nghiên cứu
14 17 21 29 64 62 39 74
Đào tạo đội ngũ 5 7 16 34 31 36 61 83
Trải qua hơn nửa thế kỷ dựng nước , và một phần ba thế kỷ thống nhất đất nước,
nền giáo dục Việt Nam đã có những bước phát triển. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu,
với đa số người dân mù chữ, nền giáo dục bị lệ thuộc, mà ngày nay Việt Nam đã có một
đội ngũ đông đảo những người lao động có trình độ cao đáp ứng cho sự nghiệp phát triển
đất nước nói chung, sự nghiệp giáo dục nói riêng. Từ một nền giáo dục bảo hộ, thuộc địa,
thiếu mọi nguồn lực từ độicz ngủ giảng viên đến cơ sở vật chất, tài chính phải đi vay, đến
chương trình đào tạo, nội dung học thuật phải du nhập từ nước ngoài, nhưng ngày nay
Việt Nam đã có một hệ thống giáo dục với đầy đủ các hệ, các cấp đào tạo từ mẫu giáo cơ
sở đến bậc đào tạo cao nhất là tiến sĩ.
Chúng ta không phủ nhận kết quả đã đạt được, nhưng những đòi hỏi về tính hiệu
quả của một nền giáo dục hiện đại, đáp ứng nhu cầu về cơ hội được học tập của mọi
người dân thì vẫn còn những hạn chế. Tình hình giáo dục của Việt Nam hiện nay cho thấy
không chỉ chất lượng đào tạo đang được báo động khẩn cấp, mà khoảng cách về trình độ
phát triển giáo dục và đào tạo giữa các vùng miền trong nước không những không được
thu hẹp mà còn có xu hướng mở rộng dần. Giáo dục và đào tạo ở vùng nông thôn đặc biệt
là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số còn gặp rất nhiều khó khăn.
II. NHỮNG NGHỊCH LÝ CỦA CHÍNH SÁCH TÀI TRỢ CÔNG ĐỂ CÓ CHI PHÍ
THẤP TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM:
1. Gia tăng bất công của chính sách học phí thấp:
Phương thức truyền thống tài trợ cho giáo dục đại học ở Việt Nam bị ảnh hưởng
rất đáng kể bởi các nền giáo dục của Pháp(thời kỳ thực dân Pháp xâm lượt nước ta), sau

Nhà nước trợ cấp cho giáo dục đã chảy vào túi con em của 20% dân cư giàu nhất, trong
khi đó chỉ có 15% chảy vào con em của 20% dân cư nghèo nhất. Đó phải chăng có một
phần là do kết quả của chính sách học phí thấp, một chính sách đã làm tăng thêm mất
công bằng xã hội. Chưa có những thống kê chính thức, nhưng có một vài nghiên cứu cho
Nhóm thực hiện: Nhóm 2A Trang: 6
thấy, mất công bằng xã hội trong giáo dục đại học ở Việt Nam còn cao hơn mức mất công
bằng xã hội về thu nhập kinh tế, có thể lên tới hàng chục lần. Nhiều nhà đầu tư nước
ngoài đang xem Việt Nam là một “thị trường giáo dục béo bở”, bởi lẽ một phần vì Việt
Nam như đang dành riêng “phân khúc thị trường” giáo dục có chi phí đơn vị cao cho các
nhà đầu tư giáo dục nước ngoài. Hiện nay, đang có sự “đối xử bình đẳng quốc gia” ngược
trong giáo dục đại học ở Việt Nam.
Nếu xét về cơ hội được đến trường của người dân thì những số liệu về công bằng
trong giáo dục đại học ở Việt Nam được đưa ra còn ít hơn mong đợi. Năm 2004, nếu tính
theo vùng miền thì, tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân bình quân của cả nước là 161, cùa
Đồng Bằng Sông Hồng là 323, trong khi của Đồng Bằng Sông Cửu Long là 40, chênh lệch
nhau 8 lần; nếu tính theo đơn vị tỉnh, của Thừa Thiên Huế là 751, trong khi của Trà Vinh
là 23,chênh nhau là 23 lần.
Bảng báo cáo năm 2006 của Ngân hàng Thế giới nhận định, giáo dục Việt Nam
đang có một khoảng cách khá xa so với các quốc gia trong vùng, bởi vì chỉ có 2% dân số
có số năm đi học bằng hoặc hơn 13 năm, và Việt Nam cũng được xếp hạng chót trong
vùng về số người trong độ tuổi 20-24 đang theo học đại học: chỉ 10% mà thôi. Thêm vào
đó, và quan trọng hơn nhiều, là “sự thất bại về cơ bản của hệ thống giáo dục nằm ở chỗ,
nó không đủ năng lực đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cũng như khuyến khích
tri thức và đổi mới”. Hiển nhiên là đang có khủng hoảng trong giáo dục đại học Việt Nam,
do vậy nhu cầu thay đổi cũng trở thành cấp bách hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh toàn
cầu hóa và cạnh tranh để tồn tại, các trường đại học ở Việt Nam cần xác định mình đang
ở đâu trong tương quan so sánh với các trường cùng loại trong nước, trong khu vực và
trên thế giới, từ đó xác lập những cột mốc làm mục tiêu phát triển cho mỗi chặng đường.
Thêm vào đó, các nghiên cứu của World Bank cho thấy, chính sách học phí thấp ở
Việt Nam đã làm doãng ra chênh lệch tỷ lệ theo học đại học của hai nhóm dân cư này lên

học không phải ai cũng có khả năng này. Thứ ba, Chính phủ không thể duy trì mức trợ
cấp hiện tại để chi phí đơn vị cho một sinh viên học đại học quá thấp kéo dài triền mien.
Tất cả những thách thức đó, dẫn đến Chính phủ không tìm ra lối thoát cho bài toán tài
trợ như thế nào cho giáo dục đại học và phần đóng góp của người học là bao nhiêu vì
không có sự đồng thuận của xã hội.
Tuy nhiên, chương trình tín dụng cho sinh viên vay vốn có thể đưa vào áp dụng với
mục đích là giảm bớt gánh nặng cho người học, trước hết là đối với tầng lớp dân cư có
thu nhập thấp. Nếu nguồn vay này chỉ được dùng để trang trải cho học tập, thì nó có thể
Nhóm thực hiện: Nhóm 2A Trang: 8
hoàn toàn không hấp dẫn đối với những người, mà hằng ngày cần phải tự bươn trải để
đảm bảo cuộc sống cho mình. Rút cục lợi ích từ chương trình này sẽ hấp dẫn phần cơ bản
là chỉ là lớp trẻ, mà cha mẹ chúng thuộc tầng lớp trung lưu và phần đông trong số họ, có
khả năng học đại học mà không cần đến nguồn tín dụng ưu đãi đó.
Những người ủng hộ tài trợ trực tiếp cho cở sở đào tạo thì lại thấy, thực tế bất cập
của ý tưởng này ở chỗ, sẽ xuất hiện trường hợp có người không có khả năng vay, đó là
trong trường hợp thất bại của thị trường. Nếu thị trường vốn là hoàn hảo, những người
mà giáo dục có lợi cho họ, và chi phí thấp hơn lợi ích thu được, sẽ có động cơ vay tiền để
đi học đại học. Nhưng trong thực tế, đa số các ngân hàng tư nhân không muốn cho sinh
viên vay tiền đi học, và do đó, những người không có vốn riêng (hay vốn của cha mẹ) có
thể không được theo học đại học. Có những lý do chính đáng giải thích cho việc này: ngân
hàng lo sinh viên khó thanh toán nợ cho họ. Những khó khăn mà Chính phủ gặp phải khi
đòi nợ sinh viên cũng tương tự như lo lắng này. Khi đó, nếu Chính phủ không tham gia
vào thị trường, trực tiếp cho vay hoặc bảo lãnh cho vay, thì con nhà nghèo vẫn có khả
năng không được học đại học. Thêm nữa, họ cho rằng, những khoản cho vay mà không có
trợ cấp sẽ không khuyến khích sinh viên con nhà nghèo học đại học. Bởi vì vay tiền để đi
học luôn luôn xuất hiện rủi ro về đầu tư có thể không được hoàn trả đúg hạn bằng lương
cao; nếu không được trả nợ, họ lại phải vay tiếp, và dồn lại thành món nợ lớn hơn. Tức là,
ngay trong ý tưởng này vẫn có sự không công bằng.
Chuyển sang chương trình cho sinh viên vay vốn học tập, tức là giảm bớt được một
phần gánh nặng ngân sách, là tài trợ một phần theo nguyên tắc đầu ra, tài trợ có bù đắp

thời gian này được xác định lên tới 20 năm) vì những rủi ro về việc làm và thu nhập có
thể làm tăng thêm gánh nặng cho sinh viên, chứ chưa nói đến khủng hoảng hệ thống kinh
tế, tài chính tín dụng của đất nước có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
Để cải cách tài chính đại học có hiệu quả mà không làm mất công bằng xã hội, nên
xem xét vấn đề ở 2 khía cạnh. Một là, tăng học phí và xu thế chung, không thể không tăng
vì những lý do mà chúng ta đã được biết khi phân tích chi phí cho giáo dục từ góc độ kinh
tế. Hai là, phải có những giải pháp mới để ít ra không làm xấu thêm tình hình mất công
bằng xã hội trong giáo dục đại học.
Một chương trình chi tiêu công thường đem đến lợi ích không chỉ cho những người
nhận được trực tiếp, mà kết quả cuối cùng lợi ích còn được mở rộng (tăng thêm lợi ích
dương) cho những đối tượng khác nhờ chương trình này, khi đó chúng ta nói đến phạm
vi tác động của chương trình chi tiêu công. Với chương trình chi tiêu công thông qua tín
Nhóm thực hiện: Nhóm 2A Trang: 10
dụng ưu đãi cho sinh viên học đại học thì người được hưởng lợi không chỉ là sinh viên mà
còn có cả gia đình họ, trường đại học, các doanh nghiệp có sử dụng lao động, cũng như cả
nền kinh tế đều nằm trong phạm vi lợiích bao phủ của chương trình. Những phân tích
dưới đây sẽ chỉ ra những lợi ích nhận được từ chương trình.
Tính đến công bằng trong chính sách cho sinh viên vay vốn thì chỉ có những sinh
viên đủ điều kiện mới được vay vốn và những sinh viên này là nghèo nên họ rất lo lắng về
việc không trả được nợ này, do đó họ không vay vốn đi học. Như vậy tiêu chí hiệu quả của
chương trình cho được nhiều sinh viên nghèo vay vốn và không sinh viên nào bỏ học do
không có tiền học phí không đạt được.
Xét một cách toàn diện thì đối tượng được hưởng lợi ích đầu tiên và nhiều nhất đó
chính là những sinh viên phù hợp tiêu chuẩn được vay vốn. So với việc phân bổ ngân sách
cho trường thì 13,7% số sinh viên học ở hệ thống các trường ngoài công lập sẽ không thể
tiếp cận với nguồn trợ cấp của chính phủ này mặc dù học phí ở các trường này cao hơn
nhiều so với các trường công lập. Hằng năm, hệ thống các trường ngoài công lập ở Việt
Nam hiện nay góp phần giải quyết cho xã hội khoảng 23% trong ngân sách giáo dục,
trong khi số lượng sinh viên chiếm tỷ lệ ít hơn, điều này cũng là không công bằng. Một
thực tế cho thấy hầu như các trường này phải gánh chịu một chi phí hữu hình rất lớn và

đại học cũng hơn hẳn con em những gia đình ở nông thôn, những gia đình có thu nhập
thấp. Từ 2 lý do trên dẫn đến thực trạng, cơ hội tiếp cận giáo dục đại học của những cá
nhân có thu nhập thấp ít hơn những cá nhân có thu nhập cao. Nhưng thông qua chương
trình này, người học xuất thân từ những gia đinh nghèo khó được vay vốn không chỉ đã
làm giảm thiểu sự mất công bằng xã hội về cơ hội được theo học đại học mà còn tạo cơ
hội cho người học có khả năng đạt mức thu nhập cao hơn trong tương lai. Như vậy, bản
chất lý thuyết của chương trình là, Nhà nước đã thực hiện được chức năng của chi tiêu
công – phân phối lại thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội
Tuy nhiên, trong thực tế vận dụng của Việt Nam, quy mô của quỹ cho vay đặc biệt
này có khi phải đến 40%- 50% ngân sách nhà nước hằng năm cấp cho giáo dục đại học
thì mới thực sự đưa chương trình gần với mục đích “giải bài toán công bằng xã hội, tăng
cơ hội và khả năng tiếp cận giáo dục đại học của người nghèo” trong câu chuyện tài
chính cho giáo dục. Theo tính toán của chúng tôi thì, con số theo dự tính có thể vượt quá
40 nghìn tỷ đồng, thậm chí có thể là hơn nữa, khi chính phủ mở rộng số tiền vay lên đến 1
triệu đồng/tháng/sinh viên. Như vậy nguồn quỹ vay thực sự dành cho chương trình này
Nhóm thực hiện: Nhóm 2A Trang: 12
là rất lớn. Gánh nặng này sẽ càng ngày đề lên vai của Chính phủ khi mà số lượng sinh viên
vay vốn ngày càng tăng qua các năm mà tỷ lệ hoàn vốn vẫn duy trì ở mức thấp như hiện
nay.
Nếu Nhà nước cho vay theo phương thức trả nợ theo thu nhập, tức là sau một thời
gian ra trường và có một việc làm trên mức nào đó sẽ bắt đầu trả nợ. Cách này đề cao sự
công bằng hơn là về mặt hiệu quả tuy nhiên gánh nặng lên vai Nhà nước là rất lớn và
toàn bộ rủi ro của chương trình sẽ thuộc về phía Chính phủ. Ngược lại, nếu như Nhà nước
quy định việc thu hồi vốn sau một thời gian cố định như phương thức hiện thời thì một
nguy cơ lớn là toàn bộ gánh nặng sẽ dịch chuyển lên vai người học sau khi ra trường, tuy
cách này sẽ đảm bảo được tỷ lệ thu hồi vốn nhật định bảo toàn cho tính hiệu quả của
chương trình nhưng giảm sự công bằng với người học và có thể dẫn tới thất bại hoàn
toàn
Thêm vào đó, nếu không có một cơ chế chia sẻ rủi ro nào khách thì chính sách này
thực chất đã được chuyển toàn bộ gánh nặng của chính phủ cho người học. Khi đó, những

cộng đồng.
Lợi ích xã hội của giáo dục bao gồm lợi ích cá nhân và những ngoại ứng tích cực
mà giáo dục đem lại cho những người không trực tiếp tham gia học tập, lợi ích xã hội của
giáo dục, rất khó định lượng. Giáo dục làm giảm tỷ lệ tội phạm trong xã hội, qua đó làm
giảm chi phí xã hội… Do đó, hầu hết các nước đều dành tỷ lệ ngân sách tương đối lớn cho
giáo dục.
PHẦN 2 :
Nhóm thực hiện: Nhóm 2A Trang: 14
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG.
Mở thêm trường đại học để giảm tình trạng dư thừa sau THPT, giải quyết vấn nạn
thiếu chổ học, giảm thiểu được các tệ nạn xã hội do sự dư thừa do nhiều học sinh trượt đại
học.
Cần kiểm tra được chất lượng đào tạo
Nâng cao chất lượng đào tạo từ cấp bậc phổ thông để cơ hội vào đại học học tập là có
thể
Không cào bằng trong phân bổ vì Sự cào bằng trong phân bổ ngân sách không tạo
ra thế cạnh tranh
Xếp loại các trường đại học để xác định chính xác nhu cầu của xã hội và đạt được mục
tiêu của nhà trường, sinh viên dễ dàng lựa chọn trường để học
Hợp nhất các trường trong và ngoài công lập
Phân loại và phân tầng các trường đại học sẽ giải quyết hiệu quả và công bằng trong
vấn đề chi tiêu cho giáo dục đại học.
Một số tham khảo về
chính sách tài chính cho giáo dục đại học
Trên thế giới giáo dục đại học ngày nay, các vấn đề cốt lõi của một nền GIÁO DỤC ĐẠI
HỌC có thể tóm gọn trong 3 từ : Chất lượng, hiệu quả và công bằng xã hội, và với một
trường ĐẠI HỌC là 2 từ : Chất lượng và tài chính. Thế nhưng, với GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VN:
chất lượng chúng ta thường xuyên nói đến cho dù vẫn còn có câu hỏi: “Chất lượng là cái gì
thế nhỉ?”; Công bằng xã hội thỉnh thoảng chúng ta có nói đến cho dù thường vẫn chỉ là

dưới 4.000 SV cao hơn 3 lần và khoảng 2 lần so với một trường có quy mô trên 10.000 SV.
Nghĩa là cùng một số tiền, ở trường này đào tạo được 1 SV thì ở trường kia đào tạo được
hơn 2 SV. Trong khi đó hiện nay, rất nhiều trường ĐẠI HỌC và CĐ có quy mô khá nhỏ và phần
lớn có quy mô dưới 4.000 SV. Thứ hai, trong cơ cấu chi phí của các trường ĐẠI HỌC năm
2004, phần lương và phụ cấp chỉ chiếm khoảng 30%, trong khi con số này ở đa số các nước
là trên 50%, ở Nhật đến 70-80%. Nói một cách khác, nguồn lực tài chính ở trường ĐẠI HỌC
VN không phải chi chủ yếu cho đội ngũ thầy cô giáo mà lại chi chủ yếu cho chi phí quản lý và
“mua sắm công cộng” v.v
Phân phối NSNN cho GIÁO DỤC ĐẠI HỌC. Hiện nay Nhà nước đang dành cho GIÁO
DỤC ĐẠI HỌC khoảng trên 4% NSNN (ước tính). Nhưng một số nước theo mô hình Nhật Bản
(J – model – Cumming - 1997) như Hàn Quốc chẳng hạn, con số tương ứng chỉ có 2,3%
NSNN. Nhật Bản cho rằng “Tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách của các nước Châu Á rất thấp
Nhóm thực hiện: Nhóm 2A Trang: 16
(VN khoảng 22%), khác với Mỹ và đặc biệt là khác với Châu Âu – Nhà nước phúc lợi (đến
trên 40%). Vì vậy, Nhà nước chỉ đủ sức cung cấp kinh phí cho GD tiểu học phổ cập và một số
lĩnh vực ưu tiên về khoa học – kỹ thuật ở bậc ĐẠI HỌC, chi phí cho GD trung học và ĐẠI HỌC
nói chung chủ yếu phải là trách nhiệm của người học và cộng đồng.” Mô hình này đã lan toả
sang Đài Loan, Hàn Quốc từ những năm 80 và sau đó sang Thái Lan, Malaysia, Singapore và
Indonesia từ những năm 90. Vậy phải chăng mô hình này cũng là mô hình phù hợp cho điều
kiện của VN?
“Chia sẻ chi phí” và học phí ĐẠI HỌC. Trước hết, nói cho cùng thì với Nhà nước , với
một trường ĐẠI HỌC và cả với từng người SV, cơ bản vẫn là cơ cấu “chia sẻ chi phí” (cost
sharing): Chi phí đơn vị sẽ được chia sẻ, tính theo (%), như thế nào giữa (1) NSNN, (2) học
phí từ người học và (3) đóng góp của cộng đồng. Qua bảng kèm theo có thể thấy, tỷ lệ học
phí trong cơ cấu chia sẻ chi phí ở VN đã tương đối cao so với nhiều nước trên thế giới, đã
đến 40,4% ở ĐẠI HỌC công lập và 96,7% ở ĐẠI HỌC ngoài công lập. Thứ đến, hiện nay đang
thực hiện chính sách thu học phí đều, gần giống nhau cho các đối tượng xã hội khác nhau
trong bối cảnh cung ở ĐẠI HỌC chỉ xấp xỉ 25% của cầu, một tỷ lệ lớn SV thuộc nhóm gia đình
trung và thượng lưu, chưa thực sự thu “luỹ tiến” trong thuế trực thu v.v Theo lập luận của
trường phái kinh tế học “Tân – tự do” (Neo-liberalism), đấy là tạo thêm mất công bằng xã

GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ở Việt Nam.
Nước / lãnh thổ Từ NSNN(%) Từ học phí(%)
Từ cộng đồng
(phần ĐẠI HỌC) (%)
Mỹ (1995): ĐẠI HỌC công lập
ĐẠI HỌC tư thục
51,0
17,1
18,4
42,4
30,7 (23,1)
40,4 (22,2)
Hàn Quốc (1996) : ĐẠI HỌC công lập
ĐẠI HỌC tư thục
54,0
70,0
Việt Nam (2002): ĐẠI HỌCcông lập
ĐẠI HỌC tư thục
54,1
0,0
40,4
96,7
5,4 (0,9)
3,3
Trung Quốc (1996)Liên bang Nga (2004)
63,5
47,0
19,1
45,0
17,5 (17,0)

ưu thế về trình độ quản lý, chuyên môn, công nghệ phát triển của khu vực tư nhân hỗ trợ cho
phát triển giáo dục đại học đang là xu hướng được lựa chọn ở nhiều quốc gia đang phát
triển và Việt Nam cần học tập, tham khảo.
Nhóm thực hiện: Nhóm 2A Trang: 19
PHẦN 3 :
KẾT LUẬN.
Trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm của giáo dục được coi là một loại hàng
hóa, nhưng có sự khác biệt so với hang hóa thông thường, đã làm cho các nhà nghiên cứu
có rất nhiều quan điểm khác nhau về vai trò của Chính phủ, cũng như quy luật của thị
trường trong cung cấp, tiêu dung loại hang hóa này. Nếu đối với những hang hóa thông
thường, nhà sản xuất có thể tiết kiệm chi phí để giảm giá thành, thì với giáo dục đại học
chi phí trung bình cho một sinh viên tăng nhanh hơn chỉ số tăng trưởng của nền kinh tế,
nhà trường không thể tăng năng suất lao động bằng cách tăng số sinh viên trên một thầy
Nhóm thực hiện: Nhóm 2A Trang: 20
giáo, mà phải là ngược lại, nếu muốn chất lượng tăng, tức là, chi phí biên cho một sinh
viên gần bằng chi phí bình quân.
Để có một chính sách chi tiêu công hợp lý, vừa có hiệu quả lại đảm bảo cả công
bằng, trong giáo dục là một khoa học, nhưng quyết định như thế nào lại phụ thuộc rất
nhiều vào mục đích chính trị của Chính phủ. Hiển nhiên là đang có khủng hoảng trong
giáo dục đại học Việt Nam, do vậy nhu cầu thay đổi cũng trở thành cấp bách hơn bao giờ
hết. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh để tồn tại, các trường đại học Việt Nam
cần xác định mình đang ở đâu trong tương quan so sánh với các trường cùng loại trong
nước, trong khu vực, và trên thế giới, từ đó xác lập những cột mốc làm mục tiêu phát
triển cho mỗi chặng đường.
Thêm vào đó, các nghiên cứu của World Bank cho thấy, chính sách học phí thấp ở
Việt Nam đã làm giãn ra chênh lệch tỷ lệ theo học đại học của 2 nhóm dân cư này lên đến
15 lần. Vậy phải chăng chính sách “Học phí cao – Tài trợ nhiều”, quỹ cho sinh viên vay vốn
hiệu quả cùng với những giải pháp mới trong việc huy động nguồn lực tài chính tư cho
giáo dục đại học có thể giải quyết được những vấn đề nan giải của tài chính đại học. Vấn
đề của Việt nam là, để cải cách tài chính đại học có hiệu quả mà vẫn không làm mất công

thực chất đã được chuyển toàn bộ gánh nặng của Chính phủ qua cho người học. Khi đó,
những sinh viên con nhà nghèo vừa rơi vào vòng luẩn quẩn thiếu việc làm, thu nhập thấp,
gánh nặng nợ nần sẽ lại tiếp tục bị đói nghèo. Sinh viên con nhà khá giả được vay vốn, có
nhiều ưu đãi về tài chính, cơ hội học tập, việc làm tốt và những kỳ vọng mức thu nhập cao
lại tiếp tục giàu thêm. Người nghèo rơi vào vòng xoáy nợ nần sẽ càng nghèo hơn. Đây
chính là kết quả của phân phối ngược trong thu nhập được bắt đầu từ chương trình chi
tiêu công đầy nhân bản nhưng lại không được chuẩn bị chu đáo.
Để có một nền giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học hiệu quả và công bằng, nhân
bản và văn minh, nhắm đến nhiều mục đích như: nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân
lực, và bồi dưỡng nhân tài thì các công cuộc cải cách của Việt Nam phải được tiến hành
đồng bộ và đi đúng trọng tâm, tránh vụn vặt, chắp vá dẫn đến lạc đường và gây ra nhiều
tốn kém hơn nữa cho toàn xã hội. Như vậy thì trước hết, những cải cách của chúng ta
không thể chậm trễ hơn được nữa, và phải bắt đầu từ: triết lý giáo dục vừa phục vụ cho
đại chúng, lại đào tạo được theo hướng tinh hoa phân tầng; cấu trúc lại hệ thống giáo
dục sau phổ thông phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới hiện đại; vận dụng
mô hình quản lý khoa học, quản trị tiên tiến gắn với những đặc thù của hệ thống giáo dục
để làm cơ sở vững chắc cho những cải cách tài chính đại học hiệu quả. Chỉ có trên cơ sở
Nhóm thực hiện: Nhóm 2A Trang: 22
đó thì những mô hình tài chính đại học đề xuất mới có tính khả thi và sau nữa mới nói
đến hiệu quả của các chương trình chi tiêu công trong giáo dục đại học.
Đối với giáo dục đại học Việt Nam ngày nay, chỉ có phân tầng, phân nhánh thì mới
giải quyết được những nhiệm vụ mà ngành giáo dục đặt ra, trường đại học mới đáp ứng
được nhu cầu của người học và thực hiện được trách nhiệm giải trình trước cộng đồng
xã hội. Chỉ có phân tầng, phân nhánh, Chính phủ mới lựa chọn được những phương pháp
hợp lý để tài trợ có giới hạn cho giáo dục đại học, cũng như giáo dục phổ cập toàn dân
một cách hiệu quả. Chỉ có tái cấu trúc hệ thống giáo dục sau phổ thông thì mới có cơ sở
vững chắc để cải cách nền giáo dục phổ thông theo mục tiêu mong đợi là đào tạo những
con người phát triển toàn diện. Chỉ có cấu trúc lại hệ thống giáo dục thì tiến trình xã hội
hóa giáo dục đại học mới thực sự thu hút được các tầng lớp xã hội cùng tham gia vào
chấn hưng nền giáo dục đại học đang có quá nhiều bất ổn như hiện nay.

cho mọi người dân được học đại học thì chương trình tài trợ nên hướng đến các chính
sách vay vốn khác nhau để mọi người dân đều có cơ hội như nhau; (3) thành lập những
“quỹ học bổng khích lệ” của chính phủ hoặc cộng đồng nhằm tài trợ cho các chương trình
tinh hoa, nghiên cứu để thu hút nhân tài làm mũi nhọn cho hệ thống giáo dục đại học; (4)
phương thức tài trợ trực tiếp cho cơ sở đào tạo phải có điều kiện gắn với những nhiệm vụ
bắt buộc của trường đại học là : kết quả đào tạo được kiểm định chất lượng và thành tựu
nghiên cứu khoa học; (5) tài trợ công phải đảm bảo để có được một hệ thống đại học
công lập mạnh nhằm giải quyết những nhiệm vụ trọng trách trên quy mô toàn xã hội, mà
chỉ có Nhà nước mới giải quyết được.
Những vấn đề tài chính đại học, mà tài chính công đóng vai trò trung tâm là nhiệm
vụ của bất kỳ Chính phủ nào trong cuộc đua khốc liệt của nền kinh tế tri thức đang ngày
càng toàn cầu hóa. Đầu tư đại trà theo bề rộng để có nhiều sinh viên, để có những trường
đại học với chi phí thấp không còn hiệu quả nữa và Chính phủ cũng không thể tiếp tục
như thế mãi, mà ngược lại, tính phi hiệu quả, và mất cả công bằng xã hội đã làm cho mô
hình này phải bị thay thế. Mục đích của tài chính công trong giáo dục đại học ngày nay là
phải hướng đến sự phát tán ảnh hưởng trong toàn xã hội, hướng đến nền giáo dục đại
trà, vì vậy các chương trình đầu tư phải đa dạng, có chủ đích và có sự lựa chọn hợp lý.
Giáo dục đại học ở Việt Nam đang tồn tại hàng loạt những nghịch lý. Đã đến lúc
Việt Nam cần phải bình tĩnh nhìn nhận lại một cách nghiêm túc những cải cách và đổi
mới vừa qua để soạn thảo một chiến lược chấn hưng nền giáo dục với một tư duy đầy đủ,
trong đó có vấn đề tài chính đại học.
Nhóm thực hiện: Nhóm 2A Trang: 24
Không thay đổi triệt để, không “cách mạng” từ một triết lý giáo dục đúng thì mọi
cải cách sẽ chỉ là vội vả, chắp vá, thiếu khoa học, kém hiệu quả và rất lãng phí, thậm chí
càng gây thêm rối ren, càng lạc hướng đi xa hơn…Hậu quả sẽ không chỉ một thế hệ sinh
viên hiện tại phải gánh chịu mà nhiều thế hệ sau đó và cả toàn xã hội sẽ phải chịu tổn
thất, cái giá phải trả cho triết lý ngược sẽ vô cùng đắt dù nền kinh tế Việt Nam tăng
trưởng đến đâu thì cũng không thể “mua” được một hệ thống giáo dục xã hội chủ nghĩa
mang tính nhân văn, dân tộc, khoa học và hiện đại mà toàn xã hội mong đợi.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status