Tiểu luận: chất lượng giáo dục đại học ở Việt nam hiện nay - Pdf 13

Tiểu luận: Chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
Tiểu luận:
KINH TẾ VIỆT NAM

Chủ đề:
Chất lượng giáo dục Đại học ở Việt Nam hiện nay:
Thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
Sinh viên thực hiện:
Mã sinh viên:
1
Tiểu luận: Chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
A. Lời nói đầu
Cùng với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì sự nghiệp trồng người là một
vấn đề cần được quan tâm, chú trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Trình
độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục
kinh tế, phát triển dân chủ. Nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân cũng là một
việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập,
dân chủ và giàu mạnh”. Như vậy, muốn đất nước phát triển giàu mạnh thì cần có
thật nhiều những người có tài, có đức, có tri thức. Đó chính là mục tiêu của giáo
dục, đặc biệt là giáo dục đại học.
Trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước của chúng ta hiện nay thì giáo dục
luôn được Đảng và Nhà nước chú trọng mở rộng, phát triển, trong đó phải kể đến
giáo dục đại học. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, ta vẫn thấy hệ thống giáo dục
đại học của nước nhà còn nhiều bất cập. Có thể thấy đó là những bất cập trong
công tác giảng dạy, quản lý,và kể cả đầu ra cho sinh viên Làm thế nào để nâng
cao hiệu quả công tác giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học đang là vấn đề quan
tâm của toàn Đảng, toàn dân ta. Do đó, em chọn đề tài “Chất lượng giáo dục đại
học ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài tiểu luận của mình. Với đề tài này, em tập
trung đi tìm hiểu về thực trạng: thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của hệ thống
giáo dục đại học của nước nhà, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện,
nâng cao chất lượng giáo dục đại học.

1.2. Cơ sở lý luận
Có thể thấy giáo dục là niềm hy vọng lớn cho đất nước, giáo dục giúp đào
tạo ra những người hiền tài, là trụ cột chính cho công cuộc đổi mới, đất
nước. Trong đó, chất lượng giáo dục luôn đi liền với các mối quan hệ, các
vai trò nhất định, đó là:
1.2.1. Vai trò của Nhà nước và cơ quan quản lý giáo dục
Trước hết phải nói đến vai trò của Nhà nước. Trong những năm qua, Đảng
và Nhà nước luôn đóng vai trò là kim chỉ nam cho mọi hoạt động kinh tế -
xã hội. Đảng, Nhà nước xây dựng những chính sách về giáo dục phù hợp với
mục tiêu chung xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Những quan
điểm, chính sách về giáo dục - đào tạo đã được đưa vào Hiến pháp năm 1992
và Luật Giáo dục năm 1998. Biện pháp cơ bản thực thi các chính sách giáo
dục - đào tạo ở Việt Nam trong thời gian qua là kế hoạch hóa công tác giáo
dục - đào tạo trong phạm vi cả nước cũng như ở từng địa phương theo các kế
hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng chiến lược các quy
hoạch dài hạn 10-20 năm với các mục tiêu phát triển chủ yếu về quy mô giáo
dục các bậc học, nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước và các chỉ tiêu chủ yếu
khác. Trên cơ sở đó, Nhà nước xây dựng và tổ chức thực thi các mục tiêu
phát triển giáo dục - đào tạo theo các chương trình quốc gia trong từng giai
đoạn.
4
Tiểu luận: Chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
Nhà nước cũng quyết định tỷ lệ ngân sách chi cho giáo dục đào tạo. Nhìn
chung, ngân sách cho giáo dục ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi
ngân sách Nhà nước, chứng tỏ giáo dục ngày càng được quan tâm, coi trọng.
Bên cạnh đó Nhà nước còn có các chính sách ưu đãi dành cho sinh viên. Đó
là các sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, sinh viên có thành tích học tập tốt
1.2.2. Vai trò của các trường
Các trường ĐH-CĐ là nơi trưc tiếp tiến hành đào tạo, giảng dạy. Để thu hút
sinh viên, các trường đã liên tục đổi mới trang thiết bị, thay đổi phương pháp

1.3.1. Tiêu chuẩn đầu vào
Để vào học tại các trường ĐH-CĐ thì bắt buộc phải đạt được những tiêu
chuẩn nhất định, như:
- Tốt nghiệp THPT, bổ túc
- Tham gia kỳ thi tuyển sinh ĐH-CĐ đạt đủ điểm chuẩn đầu vào do các
trường quy định.
Trừ một số trường hợp khác như đạt giải cao học sinh giỏi quốc gia, quốc
tế
6
Tiểu luận: Chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
Chuẩn điểm đầu vào đã được áp dụng trong các kỳ thi ĐH-CĐ từ trước đến
nay. Nó cho ta biết trình độ đầu vào của các sinh viên tại các trường.
1.3.2. Số lượng trường, số giảng viên, sinh viên của trường
Chỉ tiêu này giúp đánh giá sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học về số
lượng. Tuy nhiên, nó không giúp đánh giá về chất lượng nhiều lắm, và
thường thì số lượng cao tỷ lệ nghịch với chất lượng
1.3.3. Chuẩn đầu ra của sinh viên
Mô hình này mới được áp dụng tại nước ta. Đó là quy định khối lượng kiến
thức cần thiết nhất định sinh viên phải tích lũy đẻ có thể ra trường (tín chỉ).
Hình thức đào tạo theo tín chỉ đang được áp dụng tại nhiều trường ĐH-CĐ
trên toàn quốc.
1.3.4. Chất lượng giảng dạy của giảng viên
1.3.5. Số lượng và chất lượng sinh viên nghiên cứu khoa học, tham gia olympic
môn học
1.3.6. Tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm
1.3.7. Cơ sở vật chất, hệ thống thông tin của trường.
Chương II. Thực trạng chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện
nay
2.1. Khái quát về tình hình giáo dục tại Việt Nam
Ngay từ ngày thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (02/09/1945), Đảng và

số 14/NQ-TW về cải cách giáo dục lần thứ ba, trong đó tập trung cải cách cả cơ
cấu hệ thống giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục. Cuộc cải cách
này nhằm mục đích thống nhất hai hệ thống giáo dục tồn tại ở hai miền Bắc - Nam
(hệ thống giáo dục 10 năm của miền Bắc và hệ 12 năm của miền Nam) trong thời
kỳ 1954-1975 và từng bước phổ cập giáo dục trong toàn dân (thông qua chương
trình giáo dục liên tục cho trẻ em và bổ túc văn hóa cho người lớn).
Để thực hiện cuộc cải cách này, trước hết đòi hỏi nỗ lực xây dựng trường sở, giáo
trình, phương tiện sư phạm cần thiết để kéo dài cấp tiểu học thêm 1 năm và cấp
THCS thêm 1 năm đối với hàng triệu học sinh miền Bắc. Trong điều kiện thiếu
thốn chung của nền kinh tế đất nước, việc đầu tư thực hiện cuộc cải cách hệ thống
giáo dục đã khiến chất lượng giáo dục giảm sút trong suốt thập niên 80 của thế kỷ
XX, những dấu hiệu khủng hoảng giáo dục xuất hiện với tình trạng bỏ học gia
tăng, vị thế xã hội và kinh tế của người giáo viên sa sút…
2.1.4. Nền giáo dục nước nhà sau cải cách kinh tế - xã hội 1986
Sau cải cách kinh tế, hệ thống giáo dục nước nhà cũng theo đó phát triển và dần có
những tay đổi đáng kể:
2.1.4.1. Thay đổi trong cách nhìn nhận vai trò của giáo dục - đào tạo.
Quan niệm “giáo dục như một bộ phận của cuộc cách mạng tư tưởng văn hóa” đã
được thay thế bởi cách hiểu “đầu tư cho giáo dục là nguồn đầu tư cho phát triển”.
Trong Nghị quyết về “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo” (Hội nghị
lần thứ tư của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII tháng 01/1993), Đảng và
Nhà nước đã khẳng định quan điểm: “Giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và
9
Tiểu luận: Chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
công nghệ được xem là quốc sách hàng đầu. Coi đầu tư cho giáo dục, đào tạo là
một trong những hướng chính của đầu tư phát triển”.
2.1.4.2. Chính sách xã hội hóa giáo dục
Khi nền kinh tế nhiều thành phần ra đời và chế độ “bao cấp” dần bị xóa bỏ, thì vai
trò độc quyền của nhà nước trong cung cấp các dịch vụ y tế và giáo dục dần dần
giảm bớt, đồng thời các dịch vụ này không còn miễn phí. Quyết định số 44/HĐBT

bản chiếm 15-17%.
Sự tăng chi cho chương trình mục tiêu từ 600 tỷ đồng/năm lên gần 1300 tỷ đồng
năm 2004 và 2500 tỷ đồng năm 2005 đã góp phần giải quyết kinh phí thực hiện các
mục tiêu ưu tiên của ngành giáo dục như: đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
và thay sách giáo khoa, hỗ trợ giáo dục miền núi và dân tộc, xây dựng cơ sở vật
chất trường sư phạm và bồi dưỡng giáo viên, đào tạo nguồn nhân lực công nghệ
thông tin và đưa công nghệ thông tin vào nhà trường, tăng cường cơ sở vật chất
trường học và xây dựng một số trường đại học, trung học chuyên nghiệp trọng
điểm, tăng cường năng lực đào tạo nghề…
2.1.4.5. Hệ thống giáo dục quốc dân
Nghị định số 90/CP ngày 24/11/1993 của Chính phủ là văn bản đầu tiên thể chế
hóa các quy định về hệ thống giáo dục quốc dân, hệ thống bằng cấp và chứng chỉ
cho giáo dục - đào tạo ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Đặc biệt, Luật Giáo dục
11
Tiểu luận: Chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
đã được Quốc hội thông qua ngày 11/12/1998, trở thành bộ luật đầu tiên quy định
cụ thể về hoạt động giáo dục của Việt Nam, tạo ra khung khổ pháp lý cho hoạt
động giáo dục của Việt Nam.
Hiện nay, hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức theo Luật Giáo dục quy định
tại điều 6 như sau:
+ Giáo dục mầm non: bao gồm nhà trẻ và mẫu giáo
+ Giáo dục phổ thông: bao gồm hai bậc học: bậc tiểu học và bậc trung học.
Bậc trung học có hai cấp là trung học cơ sở và trung học phổ thông
+ Giáo dục nghề nghiệp: có trung học chuyên nghiệp và dạy nghề
+ Giáo dục đại học và sau đại học: Giáo dục đại học gồm các trình độ cao
đẳng và đại học, giáo dục sau đại học đào tạo hai trình độ thạc sĩ và tiến sĩ.
2.2. Những thành tựu đạt được của giáo dục Đại học
2.2.1. Về việc thực hiện các thể chế, chính sách của Nhà nước:
Cùng với việc triển khai chỉ thị 296/CT-TT về đổi mới quản lý giáo dục đại học
giai đoạn 2010-2012, đến hết ngày 15/8/2010 đã có 311 trường ĐH-CĐ báo cáo

Theo số liệu của Tổng cục thống kê, nếu như trong năm 1995 chỉ có 109 trường
ĐH-CĐ công lập trên phạm vi toàn quốc, và không có trường ngoài công lập thì
đến năm 2000 con số này là 148 trường công lập, 30 trường dân lập, và năm 2009
là 326 trường công lập, 77 trường dân lập. Đến nay, đã có 40/63 tỉnh thành có
13
Tiểu luận: Chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
trường đại học (đat tỷ lệ 63%), 60/63 tỉnh, thành có trường cao đẳng (đạt tỷ lệ
98%) và 62/63 tỉnh thành có ít nhất 1 trường đại học hoặc cao đẳng (đạt tỷ lệ 98%)
Riêng 2 thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có 150 trường ĐH, CĐ
chiếm 40% cả nước. Năm 1995, số sinh viên được tuyển mới là 298 nghìn người,
trong đó số sinh viên tốt nghiệp là 58,5 nghìn người, thì năm 2000 là 899,5 nghìn
người tuyển mới, 162,5 nghìn người tốt nghiệp, và năm 2009 là 1796,2 nghìn sinh
viên tuyển mới, 246,5 nghìn sinh viên tốt nghiệp. Số giáo viên năm 1995 là 22,8
nghìn người, năm 2000 là 32,3 nghìn người và năm 2009 là 65,1 nghìn người. Đây
là những con số thể hiện sự phát triển rất lớn của nền giáo dục đại học nước nhà.
Đồng thời, trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, có thể thấy giáo dục đại học
không bó hẹp trong hình thức các trường công lập mà đã xuất hiện ngày càng
nhiều các trường ngoài công lập. Một trong các quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về
đổi mới giáo dục đại học giai đoạn 2006 - 2020 là "Phát triển mạnh các trường đại
học, cao đẳng ngoài công lập. Tạo điều kiện thuận lợi về chính sách để mọi tổ
chức, cá nhân và toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục đại học một cách bình
đẳng". Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP đặt chỉ tiêu định hướng đến năm 2010 tỷ lệ
sinh viên đại học tư thục chiếm khoảng 40% tổng số sinh viên cả nước. Điều đó
cũng có nghĩa là chuyển đại học tư thục từ vị thế nhỏ bé hiện nay sang vị thế mới,
khỏe và vững chắc trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
2.2.3. Về số lượng và chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học
Hoạt động NCKH và chuyển giao công nghệ đã góp phần tích cực nâng cao chất
lượng đào tạo và phát triển kinh tế xã hội đất nước. Trong năm 2010 vừa qua, đã
có hơn 960 bài báo và công trình NCKH đăng trên các tạp chí quốc tế, gần 4.100
bài báo, công trình NCKH đăng trên các tạp chí khoa học trong nước.

ĐH, CĐ giai đoạn 2006-2020 đặt ra là đến năm 2015 phải có ít nhất 50% giảng
viên trình độ tiến sỹ ở bậc ĐH.
Sau một thời gian đổi mới, tư tưởng quan liêu bao cấp duy ý chí vẫn còn tàn dư,
khoa học quản trị chất lượng chưa đi vào nếp. Lãnh đạo Bộ cũng như cấp trường
vẫn chưa thực sự quan tâm đến chất lượng giáo dục, vẫn còn quyết định theo cảm
tính hoặc duy ý chí. Các khâu định hướng, mục tiêu, kế hoạch, thanh tra, sử dụng,
quản lý nhân sự về chất lượng đào tạo còn nhiều hạn chế, bất cập. Tính chuyên
môn hiệu quả chưa thật sự được coi trọng.
Căn bệnh thành tích cũng là một trong những căn bệnh tồn tại ăn sâu vào nền giáo
dục, trong đó có giáo dục đại học. Hiện nay chúng ta đã quá quen thuộc với các
căn bệnh khi đề cập đến ngành giáo dục: “bệnh thành tích, bệnh đấu đá bệnh thiếu
trung thực ”. Các hiện tượng tiêu cực tồn tại khắp nơi, kể từ thầy đến trò.
2.3.2. Về phương pháp dạy học và chương trình học
Hầu như các giảng viên chỉ quan tâm đến việc truyền đạt kiến thức và kiểm tra trí
nhớ mà không quan tâm đến rèn luyện kỹ năng, sự sáng tạo cho sinh viên. Chưa
hướng dẫn được cho sinh viên phương pháp học tập, khuyến khíc h sinh viên tự
học. Không lấy sinh viên làm trung tâm trong quá trình dạy học. Không quan tâm
đến thực hành, thực tập.
Chương trình học nặng tính lý thuyết, tính thực hành thực tiễn không cao. Ít có
những phương pháp học khuyến khích được tinh thần tập thể, sáng tạo của sinh
viên. Mặc dù nhiều trường đã thực hiện giảng dạy theo hình thức tín chỉ, nhưng
16
Tiểu luận: Chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
vẫn chỉ là hình thức. Sinh viên không được tự do chọn chương trình học cho mình
mà phải theo quy định của trường.
Nội dung đào tạo cũng không còn phù hợp với tình hình thực tiễn. Giáo trình biên
soạn cho thấy còn thiếu chuyên môn, chưa thiết thực, chưa đáp ứng được yêu cầu
đổi mới và hội nhập.
2.3.3. Đội ngũ giảng viên
Chất lượng đội ngũ giảng viên của Việt Nam so với thế giới chưa cao. Số lượng

ĐH RMIT mở ở tp Hồ Chí Minh là từ 5000 đến 7000 USD/ năm. Theo phản ánh
của đại học Y-Dược Cần Thơ , trước đây trong giờ thực hành giải phẫu, mỗi sinh
viên đươc thưc hành trên 1 con ếch, 5 sinh viên thực hành trên 1 con chó. Nay do
đầu tư thấp, 10 sinh viên mới có 1 con ếch và 30 sinh viên mới có 1 con chó
Bên cạnh đó là sự lạc hậu trong quản lý. Theo đó từ năm 2006 bắt đầu khởi động
và đến thời điểm này, hội đồng quốc gia kiểm định chất lượng giáo dục mới tiến
hành thẩm định đươc 20 trường ĐH song đến nay kết quả này vẫn chưa đươc công
bố. Đoàn giám sát cũng nhận định, hệ thống quản lý giáo dục hiện nay còn cồng
kềnh, nhiều phân tán. Trong tổng số 412 trường ĐH, CĐ Bộ giáo dục và đào tạo
quản lý 58 trường (14%) , các bộ ngành khác và các doanh nghiệp quản lý 134
18
Tiểu luận: Chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
trường (31,8%), hai trường ĐH quốc gia quản lý 13 trường (0,31%) và 77 trường
ngoài công lập không có cơ quan chủ quản (18,6%)
Chưa tạo được cơ chế thích ứng cho các trường, việc quản lý của Bộ còn ôm đồm,
chưa hiệu quả. Chưa tạo ra được sự tách biệt về quyền tự chủ của các trường, vẫn
tồn tại quan điểm về đẳng cấp trong giáo dục đại học.
Chưa xây dựng được hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục phù hợp cho các
trường. Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát đôi khi không đúng chức năng, quyền
hạn, hoặc không sâu sát, dẫn đến vẫn còn tồn tại nhiều gian lận, và bệnh thành tích.
Bên cạnh đó ý thức học tập, nghiên cứu của sinh viên không cao. Chưa xây dựng
được phương pháp học phù hợp. Đội ngũ giảng viên không tâm huyết với nghề,
không tạo được tinh thần học tập cho sinh viên.
Chương III. Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
đại học ở Việt Nam hiện nay
Để nâng cao chất lượng giáo dục hiện nay, trước tiên cần quán triệt rõ ràng về triết
lý giáo dục mà Đảng và Nhà nước hướng tới. Cần nắm được rõ ràng đâu là mục
tiêu mà hệ thống giáo dục cần đạt tới, từ đó mới có những biện pháp thích hợp.
Không chỉ có thế, cần theo kịp xu hướng mở cửa toàn cầu, qua đó biết học hỏi
những gì từ nền giáo dục của nước bạn và giữ lại những gì tốt của mình. Các vấn

Tiểu luận: Chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
4. Hiện đại hóa giáo dục
Hiện đại hóa giáo dục đại học cần có kế hoạch toàn diện, thực hiện theo
những bước đi thích hợp. Một số nội dung cần quan tâm:
- Thứ nhất là việc thi cử, nhất là thi đại học. Chuyển hẳn sang hình thức
đào tạo theo tín chỉ đang được áp dụng tại các nước tiên tiến
- Thứ hai là việc đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ. Cần có hệ thống tiêu chuẩn phù
hợp yêu cầu của thế giới, không làm bừa làm ẩu.
- Cần dầu tư xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở vật chất hiện đại phù hợp
với xu thế phát triển chung của thế giới.
- Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng giáo dục đại học phù hợp.
C. Kết luận
Giáo dục là một lĩnh vực hết sức quan trọng và cần thiết trong quá trình xây dựng
và đổi mới nước nhà. Do đó để nền giáo dục nước nhà phát triển phù hợp yêu cầu
xây dựng đất nước và xu thế hội nhập thì cần thực hiện nhiều cải cách, đặc biệt là
21
Tiểu luận: Chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
trong tư tưởng, tư duy giáo dục. Điều đó còn phụ thuộc vào các cấp chính quyền,
lãnh đạo, cũng như cần đến sự quan tâm của toàn xã hội.
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status