ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
Ở VIỆT NAM, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LÊ HOÀNG VŨ
Ban ISO – Trường ĐH Công nghiệp thực phẩm Tp.HCM
TÓM TẮT
Bước vào thế kỷ XXI, nhân loại đứng trước nhiều cơ hội để phát triển, đồng thời
cũng phải đối mặt nhiều nguy cơ và thách thức. Nền giáo dục Việt Nam cũng không nằm
ngoài qui luật khách quan đó. Khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức
Thương mại Quốc tế (WTO) vào năm 2007 thì sức ép đặt trên nền kinh tế nói chung và
nền giáo dục càng lớn. Bởi vì, chất lượng giáo dục là nhân tố quyết định chất lượng nguồn
nhân lực để phát triển toàn diện mọi mặt của mỗi nước từ văn hóa, xã hội, kinh tế, an ninh
quốc phòng... Ngày nay, chất lượng giáo dục đại học luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của
toàn xã hội vì tầm quan trọng của nó với sự nghiệp phát triển đất nước trong xu thế quốc tế
hóa và toàn cầu hóa; làm thế nào để đảm bảo chất lượng giáo dục đang là chủ đề được
quan tâm và thúc đẩy phát triển. Tuy nhiên, công tác đảm bảo chất lượng giáo dục đại học
hiện nay chưa được quan tâm đúng mức và chưa thành hệ thống; đa phần chỉ dừng lại ở
hình thức kiểm soát chất lượng. Do đó, việc đẩy mạnh hoạt động đảm bảo chất lượng giáo
dục và đưa ra những giải pháp thích hợp là hết sức cần thiết.
QUALITY ASSURANCE OF HIGHER EDUCATION IN VIET
NAM, THE STATE AND SOLUTIONS
ABSTRACT
Entering the twenty-first century, humanity faces many opportunities to grow and
also faces many threats and challenges. Education in Vietnam is no exception to that rule
objectively. Especially since Vietnam became an official member of the World Trade
Organization ( WTO ) in 2007, the pressure placed on the general economy and the greater
education. Because the quality of education as factors that determine the quality of human
resources to develop all aspects of a comprehensive water from cultural, social, economic,
national security,… Today, the quality of education higher education is always the top
concern of the whole society on the importance of telling the country's development in the
sự hỗ trợ của các cơ quan bên ngoài, vẫn chủ yếu là trách nhiệm của các trường đại học.
Các cơ sở giáo dục đại học đánh giá kết quả đầu ra, chất lượng sản phẩm theo các chuẩn
mực nhất định và hiệu quả của các quy trình, cơ chế quản lý chất lượng. Để thực hiện đánh
giá ngoài, cơ sở giáo dục đại học phải tự đánh giá trước khi có sự tham gia của tổ chức bên
ngoài. Từ quá trình tự đánh giá phục vụ đảm bảo chất lượng, công khai hóa sự chịu trách
nhiệm và hướng tới mục tiêu đạt được quyền tự chủ nhiều hơn, các trường chứng minh
rằng họ có khả năng chịu trách nhiệm đối với người tài trợ, người sử dụng dịch vụ và toàn
bộ xã hội.
Sau khi có kết quả tự đánh giá của cơ sở giáo dục đại học, đoàn đánh giá ngoài sẽ
xem xét để kiểm nhận. Chứng nhận kiểm nhận có thể được cấp cho một chương trình đào
tạo hoặc cho cả đơn vị trường. Quá trình dảm bảo chất lượng theo quy trình này được trình
bày tóm tắt trong Sơ đồ sau:
Sơ đồ 1. Quá trình đảm bảo chất lượng (GS.TS Nguyễn Lộc)
Cơ sở GDĐT,
chương trình đào tạo
QLCL nội bộ
DẠY
Tự
đánh
giá
HỌC
Cải tiến
chất lượng
(chương trình đào
tạo, hoặc cơ sở GD
ĐT)
Đoàn đánh giá
độc lập
Như vậy, đảm bảo chất lượng là sự phối hợp trách nhiệm giữa cơ sở giáo dục đại học
với các cơ quan bên ngoài, nhưng trách nhiệm chính vẫn thuộc về các trường đại học. Chất
lượng chỉ có thể được duy trì và nâng cao nhờ hoạt động giảng dạy, học tập và quản lý chất
lượng trong nhà trường; là kết quả của sự tự đánh giá và điều chính trong hoạt động của cơ
sở giáo dục đại học. Nói cách khác, hoạt động quản lý chất lượng bên trong nhà trường là
điểm xuất phát, nền tảng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng giáo dục đại học của một
trường.
3. Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học trên thế giới
3.1. Ở Mỹ
Đảm bảo chất lượng là một quá trình hoạch định có hệ thống dùng để đánh giá
chương trình hoặc một trường đại học nhằm xác định chuẩn mực giáo dục. Các trường đại
học ở đây chủ yếu kết hợp tự điều chỉnh với sự kiểm định của các tổ chức chuyên môn phi
chính phủ (kiểm định các khóa học) và các hiệp hội kiểm định vùng (kiểm định các trường
đại học).
Một số đặc điểm cơ bản ở Mỹ là kiểm định luôn luôn gắn liền với công tác tự đánh
giá. Thông qua tự đánh giá, trường được kiểm định cung cấp thông tin và các tài liệu cần
thiết cho công tác kiểm định. Về quy trình kiểm định, việc kiểm định luôn gắn liền với
đánh giá đồng cấp, tức là những người có cùng chuyên môn tham gia đánh giá. Đối với
chuẩn mực đánh giá thì các chuẩn mực đánh giá ở đây thường mềm dẻo và được biến đổi
cho phù hợp với sứ mạng của từng trường.
được điều hành bời Hội đồng Bộ (với sáu thành viên), hoạt động độc lập với chính phủ, nhưng
lại dưới sự chỉ đạo của Hội đồng Giám đốc (có năm thành viên, do Chủ tịch hiệp hội các trường
đại học). Mục tiêu chính là cũng cố lòng tin của công chúng và thị trường quốc tế về chất lượng
của các trường đại học Úc. AUQA tiếp cận cơ bản nhằm đánh giá chất lượng của các trường đại
học dựa vào hệ thống kiểm soát bên trong của các trường kết hợp với sử dụng kiểm toán ngoài.
Thêm vào đó, có một cơ quan quốc gia riêng chịu trách nhiệm về kiểm toán độc lập ngoài các hệ
thống bên trong của nhà trường.
Trường Đại học Queenland (Học viện đứng đầu ở Úc về giảng dạy và nghiên cứu), cam
kết cung cấp khung mẫu cho quản lý và đảm bảo chất lượng. Tất cả các thành viên trong cộng
đồng các trường đại học có thể đóng góp vào việc cải thiện liên tục thông qua một chu kỳ nối
tiếp nhau: lập chiến lược, báo cáo và đánh giá. đảm bảo chất lượng và quản lý của trường là hoạt
động nỗ lực tiếp cận các quá trình ở mọi cấp độ đều có động lực thúc đẩy và nâng cao chất
lượng, gắn với văn hóa tổ chức của nhà trường.
3.3. Ở Thái Lan
Đảm bảo chất lượng được giới thiệu qua hệ thống kiểm tra của nhà trường, kiểm toán chất
lượng bên ngoài và kiểm định công nhận. Chú trọng các mục tiêu giáo dục đại học, sự thực hiện,
các kết quả hay chỉ số học tập và cải tiến chất lượng. Cơ cấu đảm bảo chất lượng gồm hai mảng
độc lập nhưng gắn kết chặt chẽ với nhau: Đảm bảo chất lượng bên trong do Bộ Công tác Đại học
(MUA-the Ministry of University Affairs) quản lý, còn đảm bảo chất lượng bên ngoài do Cục
tiêu chuẩn GD và đánh giá chất lượng quốc gia (ONESQA-Office for National Educational
Standards and Quanlity Assessments) quản lý.
Chức năng của ONESQA là thăm trường, cung cấp thông tin cho trường và Bộ Công tác
đại học, viết báo cáo đánh giá, giám sát chất lượng đào tạo của các đơn vị.
Chức năng của MUA là đẩy mạnh phong trào chất lượng trong toàn quốc, như: xây dựng hệ
thống đảm bảo chất lượng hoạt động thường xuyên, hỗ trợ các trường/khoa nghiên cứu về đảm bảo
chất lượng quốc tế, xã hội hóa công tác đảm bảo chất lượng, liên kết các trường, các tổ chức đảm bảo
chất lượng quốc tế. MUA còn yêu cầu các trường phải có hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong,
đồng thời cung cấp cho các trường đại học hướng dẫn 9 lĩnh vực chuyên môn bên trong, gồm: sứ
mệnh, mục tiêu, kế hoạch; giảng dạy và học tập; các hoạt động vui chơi giải trí của sinh viên; nghiên
cứu; dịch vụ GD phục vụ xã hội; giữ gìn văn hóa và nghệ thuật; quản lý hành chính; ngân sách; đảm
học Việt Nam không có trường nào nằm trong tốp 1000.
Bảng 1. Top 20 trường đại học Việt Nam do Webometrics xếp hạng năm 2012
Đại học
Mức độ
Hiện
diện
(Presence
Rank)
Mức độ
Tác động
(Impact
Rank)
Mức độ
Tiếp cận
mở
(Opennes
Rank)
Mức độ
Xuất sắc
(Excellence
Rank)
1051
Đại học Quốc gia Hà Nội
858
2908
3234
2262
4
1923
Trường đại học Kinh tế
TP. Hồ Chí Minh
3117
1749
5408
1787
Xếp
hạng
ở Việt
Nam
Xếp
hạng ở
2842
2790
7
2227
Trường đại học Bách
khoa, đại học Quốc gia
TP. Hồ Chí Minh
1437
2046
1993
5230
8
2744
Trường đại học Huế
5996
3378
6038
5230
11
3597
Trường đại học Hà Nội
3470
3736
4691
4606
12
3653
Trường đại học Khoa
học tự nhiên
1019
4858
4217
7125
3320
15
4089
Trường đại học Y dược
TP. Hồ Chí Minh
4457
6011
5694
3086
16
4157
Trường đại học Kinh tế
Quốc dân
7426
4607
3656
19
4466
Trường đại học Công
nghệ TP. Hồ Chí Minh
(HUTECH)
3594
3367
6754
5230
20
4650
Trường đại học Giao
thông vận tải Hà Nội
8296
4277
học Việt Nam đang ở “vùng trũng” trên bản đồ GD thế giới, công tác đảm bảo chất lượng chưa
được chú trọng. Trong nhiều năm qua, giáo dục đào tạo gặp khó khăn nhiều nhất vẫn là việc
đánh giá và kiểm tra do chúng ta cứ luẩn quẩn với cách đánh giá truyền thống, nêu thành tích, ít
tìm ra nguyên nhân tồn tại của chính mình. Do vậy, mặc dù hàng năm mỗi trường đều có rất
nhiều loại tổng kết, báo cáo nhưng vẫn không tìm ra nguyên nhân của yếu kém, lạc hậu. Có
nhiều nguồn minh chứng nhận định rằng chất lượng đầu ra (người tốt nghiệp), cũng như chất
lượng đào tạo của hệ thống chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội và chưa đáp ứng
được kỳ vọng của người sử dụng các dịch vụ mà các trường đại học cung cấp.
4.2. Thiếu một hệ thống chỉ số thực hiện và chuẩn mực chất lượng
Các cơ sở giáo dục đại học lạm dụng quyền tự chủ, như: Hạ chuẩn tuyển sinh; tuyển số
sinh viên nhiều hơn khả năng đào tạo mà không tính đến số lượng, chất lượng giảng viên, cơ sở
vật chất; mở thêm ngành đào tạo ồ ạt mà không theo một chiến lược nào, đổ xô vào ngành “hot”
mà bất chấp khả năng, mục tiêu, sứ mạng của mình, làm mất cân đối lớn trong xã hội. Nguyên
nhân của vấn đề trên là giáo dục đại học vẫn chưa đưa vào sử dụng hệ thống chỉ số thực hiện và
chuẩn mực chất lượng làm cơ sở pháp lý.
Một số trường đại học tư thục đang hoạt động trong điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị chưa
đủ (đi thuê của các trường khác) và sử dụng đội ngũ giảng viên cơ hữu từ các trường công lập
nên việc chủ động làm việc cho các trường tư thực không thường xuyên. Mặt khác, các trường tư
thục không có đủ thư viện, tài liệu và sách vở phục vụ cho việc dạy và học.
Thực trạng chất lượng giáo dục đại học chưa được đánh giá thông qua các chỉ số đầu vào,
chỉ số quá trình đào tạo và chỉ số kết quả đầu ra. Hầu như các trường đại học chưa có thói quen
sử dụng hệ thống thông tin quản lý, các thông tin chưa được xây dựng trên cơ sở số liệu thống kê
mà chỉ tính toán theo chỉ số thực hiện. Một vấn đề khác nữa là hệ thống giáo dục đại học nước ta
chưa hình thành nề nếp nhận thông tin định kỳ từ các cơ sở giáo dục đại học theo các chỉ số quy
định, và các trường cũng không có thói quen nhận thông tin phản hồi từ người tốt nghiệp và
người sử dụng lao động để có cơ sở điều chỉnh chương trình, quy trình đào tạo hiện hành; việc sử
dụng hệ thống các chỉ số thực hiện và xác định các chuẩn mực chất lượng tối thiểu là cần thiết và
cấp bách.
Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học là vấn đề mới triển khai trong vòng 10 năm trở lại
đây ở Việt Nam, nên thực trạng vẫn chưa được các cấp quản lý nhà nước về giáo dục, các trường
ĐH quan tâm đúng mức và chưa đi vào hệ thống. Chất lượng giáo dục luôn là mối quan tâm
hàng đầu của xã hội vì tầm quan trọng của nó đối với sự nghiệp phát triển đất nước. Đất nước
suy, yếu hay mạnh, phụ thuộc phần lớn vào chất lượng sản phẩm của GD. Đối với giáo dục đại
học nước ta đã, đang phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo, và xác định là nhiệm vụ quan trọng
nhất, đang tìm những giải pháp rút ngắn khoảng cách về thứ hạng trên thế giới.
Làm thế nào để nâng cao vị thế cũng như chất lượng giáo dục Việt Nam. Đây là một câu
hỏi lớn cần có cái nhìn toàn diện mới có thể giải đáp được. Những nhà quản lý giáo dục ở các cơ
sở giáo dục đại học, và các cấp quản lý nhà nước về giáo dục cần nhanh chóng có biện pháp cải
thiện chất lượng giáo dục. Những yếu kém chủ yếu là công tác đảm bảo chất lượng giáo dục của
chúng ta chưa được quan tâm đúng mức, chưa đồng bộ và quyết liệt tổ chức thực hiện.
Để việc nghiên cứu lý luận và áp dụng vào thực tiễn hoạt động tự đánh giá trong đảm bảo
chất lượng giáo dục ở các trường đại học được quan tâm đúng mức và thành hệ thống mang tính
khoa học liên tục phát triển ở nước ta, các cấp quản lý hệ thống phải thành lập tổ chức chịu trách
nhiệm đánh giá ngoài; xây dựng cơ chế đánh giá ngoài... đảm bảo chất lượng giáo dục là công
việc quan trọng cần được tập trung triển khai đồng bộ trong thời gian tới; cần phổ biến rộng rãi
cơ chế và hệ thống đảm bảo chất lượng trong các cơ sở giáo dục đại học; cần chuẩn bị đội ngũ
đáp ứng được hoạt động đảm bảo chất lượng của các cơ sở giáo dục đại học và toàn hệ thống.
Tóm lại, nhiệm vụ quan trọng của các cơ sở giáo dục đại học nước ta bây giờ, và trong
tương lai là phải quyết tâm nâng cao chất lượng giáo dục, tiến gần đến chuẩn chất lượng của các
nước phát triển trong khu vực và trên thế giới. Để thực hiện được nhiệm vụ trên, công tác đảm
bảo chất lượng giáo dục ở các cơ sở giáo dục đại học cần phải được hình thành và phát triển, phù
hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, đồng thời là giải pháp thiết thực nâng cao chất
lượng đào tạo của các trường đại học. Việc học hỏi kinh nghiệm từ các trường đại học ở các
nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới là rất cần thiết trong tiến trình hình thành, xây dựng
hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Lộc. GS.TS (2009), Quản lý chất lượng giáo dục (sơ thảo), Viện Khoa học