Xuất nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại học của Hà Nội : Thực trạng và giải pháp - Pdf 14

LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1 3
DỊCH VỤ VÀ XUẤT NHẬP KHẨU DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 3
1.1. Dịch vụ và thương mại dịch vụ 3
1.1.1.1 Khái niệm của dịch vụ 3
1.1.1.2. Đặc điểm của dịch vụ 4
1.1.1.3 Phân loại dịch vụ 6
1.1.2.1. Khái niệm thương mại dịch vụ 7
1.1.2.2. Các phương thức cung cấp dịch vụ 8
Bảng 1.1 Nhận diện các hoạt động xuất nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại học theo bốn phương
thức cung cấp dịch vụ của GATS 10
1.2. Dịch vụ giáo dục đại học và xuất nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại học 10
1.1.2.1. Khái niệm 11
Bảng 1.2 Giáo dục đại học trong hệ thống phân loại dịch vụ của WTO 12
1.2.2.2. Đặc điểm của dịch vụ giáo dục đại học 13
1.3 Vai trò của hoạt động xuất nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại học 16
Chương 2 17
XUẤT NHẬP KHẨU DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA HÀ NỘI 17
2.1.Khái quát về năng lực xuất khẩu và nhu cầu nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại học của Hà Nội
17
Bảng 2.1 Số cơ sở giáo dục đại học trên toàn quốc so với tổng dân số Theo 8 vùng lãnh thổ
(tính đến hết 9/2009) 18
2.1.1.2. Số lượng sinh viên 19
Bảng 2.2 Số sinh viên các trường Đại học Cao đẳng tại Hà Nội 20
2.1.1.3. Đội ngũ giảng viên 21
Bảng 2.3 Số lượng giảng viên Đại học cao đẳng tại Hà Nội 21
2.1.2.1. Chất lượng giáo dục đại học tại Hà Nội 22
2.1.2.2. Kiểm định chất lượng giáo dục đại học tại Hà Nội 23
Bảng 2.4 Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục đào tạo 2001-2009 23
2.2. Chính sách đối với xuất nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại học tại Hà Nội 25
2.2.2 Nhìn nhận thực tiễn các chính sách theo từng phương thức 26

g. Đẩy mạnh hoạt động hợp tác quốc tế 71
3.3.2.1 Phương thức 1: 71
3.3.2.2. Phương thức 2 72
3.3.2.3. Phương thức 3 73
3.3.2.4. Phương thức 4 74
3.3.3. Các giải pháp đối với các cơ sở đào tạo tham gia xuất nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại
học 75
KẾT LUẬN 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
ii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Nhận diện các hoạt động xuất nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại học
theo bốn phương thức cung cấp dịch vụ của GATS
10
Bảng 1.2 Giáo dục đại học trong hệ thống phân loại dịch vụ của WTO 12
Bảng 2.1 Số cơ sở giáo dục đại học trên toàn quốc so với tổng dân số Theo 8
vùng lãnh thổ (tính đến hết 9/2009)
19
Bảng 2.2 Số sinh viên các trường Đại học Cao đẳng tại Hà Nội 20
Bảng 2.3 Số lượng giảng viên Đại học cao đẳng tại Hà Nội 21
Bảng 2.4 Ngân sách nhà nước chi cho giáo dục đào tạo 2001-2009 24
Bảng 2.5 Các công cụ của chính sách xuất nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại học 25
Bảng 2.6 Số lượng du học sinh các nước tại Nhật Bản 41
Bảng 2.7 Số sinh viên của một số chương trình liên kết 43
Bảng 3.1 Số lượng sinh viên quốc tế tại Mỹ 48
Bảng 3.2 Số lượng du học sinh quốc tế tại Nhật Bản 50
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Hình 2.1 Tỷ lệ sinh viên quốc tế đang học tập tại các trường ĐH Việt Nam
theo châu lục
30

“Xuất nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại học của Hà Nội: Thực trạng và giải
pháp”
Mục đích của đề tài là trên cơ sở vận dụng những lý luận cơ bản về xuất
nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại học để phân tích, đánh giá đúng tình hình xuất nhập
1
khẩu dịch vụ giáo dục ĐH của Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng và từ đó
đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục bằng xuất nhập khẩu dịch
vụ giáo dục ĐH.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận tốt nghiệp là xuất nhập khẩu dịch vụ
giáo dục ĐH tại Hà Nội.
Khóa luận đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp
phân tích định tính và định lượng, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích
kinh tế, phương pháp duy vật biện chứng để xem xét, đánh giá và giúp cho vấn đề
nghiên cứu sâu sắc hơn.
Kết cấu của khóa luận ngoài Lời nói đầu và Kết luận ra gồm có 3 chương:
Chương 1. Dich vụ và xuất nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại học
Chương 2. Xuất nhập khẩu dịch vụ giáo dục đại học của Hà Nội
Chương 3: Định hướng phát triển giáo dục đại học và giải pháp xuất nhập
khẩu dịch vụ giáo dục đại học đến năm 2020
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu
2
Chương 1
DỊCH VỤ VÀ XUẤT NHẬP KHẨU DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
1.1. Dịch vụ và thương mại dịch vụ
1.1.1.Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ
1.1.1.1 Khái niệm của dịch vụ
Trong cuộc sống ngày nay chúng ta biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi
được gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt

chuyên chở. Nhưng chuyến đi còn bao hàm một số món hàng cụ thể, như thức ăn,
đồ uống và một tạp chí của hãng hàng không.
Sau cùng một mặt hàng có thể là một dịch vụ thuần túy. Ví dụ một cuộc tâm
lý trị liệu hay uốn tóc. Nhà tâm lý trị liệu chỉ cung cấp một dịch vụ đơn thuần, và
những thứ cụ thể duy nhất là phòng mạch hay một cái máy xoa bóp. Như vậy sản
phẩm của một doanh nghiệp có thể là mặt hàng cụ thể hay dịch vụ, có thể có cả
những dịch vụ bổ sung.
1.1.1.2. Đặc điểm của dịch vụ
Tính vô hình một cách tưong đối của dịch vụ ( Intangibility)
Đặc tính này phản ánh một cách thực tế là hiếm khi khách hàng nhật
được sản phẩm thực từ kết quả của hoạt động dịch vụ. Kết quả thường là sự
trải qua hơn là sự sở hữu.
Ví dụ: Một chuyến đi nghỉ chọn gói bao gồm các nhân tố vô hình và
hữu hình.
Một dịch vụ thuần tuý thường không thể đánh giá trực tiếp vởi các
giác quan tự nhiên, không thể khảo sát trực tiếp trước khi mua bán, bởi vậy
khi tiêu dùng dịch vụ người tiêu dùng dễ gặp rủi ro.
 Tính đồng thời của sản xuất và tiêu dùng: Trong dịch vụ thì sản xuất
và tiêu dùng diễn ra đồng thời không có thời gian giãn cách giữa sản
4
xuất và tiêu dùng dịch vụ để ktra chất lượng sản phẩm vì thế trong
dịch vụ nên thực hiện khẩu hiệu: “làm đúng, làm tốt ngay từ đầu”
 Sự tham gia của khách hàng trong quá trình tạo ra dịch vụ.
Khách hàng là người tiêu dùng đồng thời là người tham gia sản xuất
bằng những nhu cầu, yêu cầu của chính họ.
Khách hàng trên thực tế có tính chất quyết định việc sản xuất dịch vụ.
Các tổ chức dịch vụ không thể tạo ra dịch vụ nếu không có đầu vào vững
chắc là khách hàng.
 Tính không đồng nhất: thông thường dịch vụ dễ bị cá nhân hoá do đó
phụ thuộc vào tâm lý, sở thích, kinh nghiệm của khách hàng. Người

và kinh doanh;
Dịch vụ công hay dịch vụ của chính phủ: là những dịch vụ được cung
cấp trên cơ sở độc quyền , có tính chất phục vụ của chính phủ, không dựa
trên cơ sở cạnh tranh và không nhằm mục đích kinh doanh và thương mại;
Căn cứ theo phuơng thức thống kê, ta có thể thấy hiện nay có nhiều cách
phân loại khác nhau. Đó là:
Theo Uỷ ban thống kê của Liên hợp quốc thì dịch vụ được phân loại
theo hai cách : Hệ thống phân loại theo ngành tiêu chuẩn quốc tế và Phân
loại các sản phẩm chủ yếu ( Tài sản vô hình; Đất đai; Công trình xây dựng;
Dịch vụ xây dựng , Dịch vụ thương mại; dịch vụ chỗ ở; dịch vụ phục vụ ăn
uống; dịch vụ vận tải; dịch vụ phân phối điện, nước, khí đốt, Dịch vụ tài
chính; dịch vụ bất động sản; dịch vụ thuê và cho thuê, Dịch vụ liên quan đến
sản xuất và kinh doanh, Dịch vụ cá nhân, cộng đồng và xã hội ). Hai cách
phân loại này được các quốc gia và các tổ chức kinh tế thừa nhận và sử dụng.
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) cũng có cách phân loại giao dịch dịch vụ
quốc tế khác biệt.
6
Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) phân loại dịch vụ theo Hiệp định chung
về thương mại dịch vụ (GATS) : chia ra 12 ngành và 155 phân ngành: Các dịch vụ
kinh doanh bao gồm Dịch vụ chuyên ngành, Dịch vụ máy tính và các dịch vụ có
liên quan, Dịch vụ nghiên cứu và phát triển, Dịch vụ bất động sản, Dịch vụ cho thuê
không cần người điều khiển và các dịch vụ kinh doanh khác, Dịch vụ bưu chính
viễn thông bao gồm Dịch vụ bưư điện, Dịch vụ báo chí, Dịch vụ viễn thông, Dịch
vụ nghe nhìn và các dịch vụ khác, Dịch vụ xây dựng và các dịch vụ kỹ thuật liên
quan, Dịch vụ phân phối, Dịch vụ giáo dục, Dịch vụ môi trường, Dịch vụ tài chính,
Dịch vụ xã hội và dịch vụ liên quan đến y tế, Các dịch vụ du lịch và dịch vụ liên
quan đến lữ hành, Các dịch vụ văn hoá ,giải trí, thể thao( ngoài dịch vụ nghe nhìn),
Dịch vụ vận tải và các dịch vụ khác chưa được thống kê ở đâu.
Trong các hệ thống phân loại trên có thể nói cách phân loại theo các sản
phẩm chủ yếu là hệ thống phân loại của hàng hoá và dịch vụ dựa trên nguồn gốc

tin, Xây dựng, Phân phối, Giáo dục, Du lịch, Môi trường, Tài chính, Y tế, Văn hóa-
Thể thao-Giải trí, Vận tải, và các dịch vụ khác. Những ngành này được chia nhỏ
thành 155 phân ngành (sub-sector),ví dụ ngành Giáo dục bao gồm các phân ngành:
Tiểu học, Trung học, Đại học, Người lớn, và các dịch vụ khác (chẳng hạn đào tạo
ngoại ngữ, thi-kiểm tra, …).
Theo qui định của GATS, mỗi quốc gia thành viên trong WTO có quyền đưa
ra lộ trình mở cửa đối với mỗi ngành dịch vụ, đối với những phân ngành, cũng như
đối với các phương thức cung cấp dịch vụ (được trình bày ở phần sau). Đồng thời
GATS cũng cho phép mỗi quốc gia thành viên của WTO xây dựng những chính
sách, qui định riêng của quốc gia về mỗi ngành và phân ngành dịch vụ được mở
cửa, miễn sao chúng phù hợp với những qui định chung của GATS (Knight, 2006).
Cho đến tháng 3/2007, mới chỉ có 47 nước trong tổng số 150 nước thành viên WTO
cam kết thực hiện GATS trong dịch vụ giáo dục, chủ yếu là các nước thuộc khối
OECD với tư cách là các nước xuất khẩu giáo dục (Phạm, 2007).
Kể từ khi chính thức gia nhập WTO vào ngày 11/1/2007, Việt Nam cũng bắt
đầu thực hiện GATS trên tất cả 11 ngành dịch vụ và 110 phân ngành (VCCI). Theo
lộ trình đã cam kết đối với ngành giáo dục, kể từ 1/1/2009 các cơ sở đào tạo có
100% vốn đầu tư nước ngoài được phép thành lập tại Việt Nam. Đối với giáo dục
8
đại học (GDĐH), Việt Nam đã chấp nhận mở cửa trong khu vực tư thục đối với hầu
hết các lĩnh vực khoa học tự nhiên và kỹ thuật, nghiên cứu và quản lý doanh nghiệp,
kinh tế, kế toán, ngôn ngữ và luật quốc tế, và chấp nhận cả bốn phương thức cung
cấp dịch vụ.
GATS quy định bốn phương thức cung cấp dịch vụ đối với tất cả các ngành:
Cung cấp qua biên giới (Cross-border Supply), Tiêu dùng ngoài lãnh thổ
(Consumption Abroad), Hiện diện thương mại (Commercial Presence), và Hiện
diện thể nhân (Presence of Natural Persons).
Đối với hai phương thức đầu, người cung cấp dịch vụ ở ngoài nước thành
viên, còn 2 hình thức sau, người cung cấp dịch vụ làm việc ở nước mà dịch vụ được
cung cấp. Theo Varghese (2007), trong số các phương thức nêu trên, phương thức

quản lý chất lượng.
2. Tiêu dùng ngoài
lãnh thổ

Khách hàng của một
nước di chuyển sang
nước khác để tiêu
dùng dịch vụ
Du học sinh Hiện là phương thức
phổ biến nhất và đang
tiếp tục phát triển
3. Hiện diện thương
mại

Nhà cung cấp dịch vụ
của một nước thiết lập
các hình thức hiện
diện trên lãnh thổ của
một nước khác để
cung cấp dịch vụ
Chi nhánh hoặc cơ
sở đào tạo vệ tinh ở
nước ngoài
Liên kết đào tạo
Nhượng quyền
thương hiệu cho cơ sở
đào tạo tại chổ
Ngày càng được
quan tâm và có tiềm
năng phát triển lớn

trò của giáo dục trong việc đào tạo các công dân tự do, hay cuộc chiến của trường
học với sự bất bình đẳng xã hội, vv. Vì những điều như vậy, chúng ta không thể sử
dụng cùng những logic trong việc trao đổi hàng hóa trên thị trường kinh tế để bàn
luận về giáo dục. ( Khái niệm thị trường giáo dục và vai trò các tác nhân,
tiasang.com.vn).
Gọi là thị trường vì trong giáo dục có các tác nhân khác nhau, có cung và
cầu, có sự cạnh tranh, có sự lựa chọn, có cơ chế điều tiết vv. Những điều này đều
thấy trong đa số các nền giáo dục, tuy mức độ, hình thức, tính logic và cả cách hiểu
về chúng có thể khác nhau trong các quốc gia. Ở đây nếu có dính dáng tới kinh tế,
thì thị trường giáo dục cũng được vận hành theo nguyên tắc “bàn tay vô hình” trong
lý thuyết cổ điển của Adam Smith ở chỗ, thị trường tự điều chỉnh trên nguyên tắc có
lợi cho mỗi bên tác nhân tham gia và vì lợi ích của tất cả.
Nói tóm lại, “thị trường” là một khái niệm của kinh tế, nhưng chúng ta có
thể “xã hội học hóa” nó để biến thành một khái niệm công cụ nhằm lý giải và so
sánh các nền giáo dục khác nhau.
Theo hệ thống phân loại dịch vụ của GATS, dịch vụ giáo dục là ngành dịch
vụ thứ năm và được chia làm năm phân ngành: dịch vụ giáo dục tiểu học, dịch vụ
giáo dục trung học, dịch vụ giáo dục đại học, dịch vụ giáo dục người lớn và các
dịch vụ giáo dục khác.
1.1.2. Dịch vụ giáo dục đại học
1.1.2.1. Khái niệm
11
Theo hệ thống phân loại các sản phẩm chủ yếu của Liên hợp quốc, dịch vụ
giáo dục đại học là một phân ngành của dịch vụ giáo dục, được dẫn chiếu tới mã
CPC 925 ( tertiary education services).
Trong hệ thống phân loại các ngành dịch vụ của WYO thì dịch vụ giáo dục
đại học được coi là một phân ngành dịch vụ nằm trong ngành dịch vụ giáo dục.
Bảng 1.2 Giáo dục đại học trong hệ thống phân loại dịch vụ của WTO
Ngành Phân ngành Tên gọi
5 Dịch vụ giáo dục

khoản này để hoàn thành chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ, trong đó có ít nhất
một năm theo học tập trung liên tục
Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể việc đào tạo trình độ tương đương với
trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ ở một số ngành chuyên môn đặc biệt.
Đối tượng cung cấp dịch vụ giáo dục đại học được qui định trong Điều 42,
Luật Giáo dục 2005, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục 2009 như
sau:
a) Trường cao đẳng đào tạo trình độ cao đẳng;
b) Trường đại học đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học; đào tạo trình
độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ khi được Thủ tướng Chính phủ giao.
Viện nghiên cứu khoa học đào tạo trình độ tiến sĩ, phối hợp với trường đại
học đào tạo trình độ thạc sĩ khi được Thủ tướng Chính phủ giao.
Như vậy có thể nói rằng trong xu thế phát triển nền kinh tế tri thức của hầu
hết các quốc gia trên thế giới với mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt, dịch vụ giáo
dục đại học đóng vai trò ngày càng quan trọng
1.2.2.2. Đặc điểm của dịch vụ giáo dục đại học
Cũng như bất cứ dịch vụ giáo dục nào khác dịch vụ giáo dục đại học cũng
mang những đặc tính cơ bản của dịch vụ giáo dục nói chung:
 Chất lượng dịch vụ không đồng nhất và khó tăng lên
Chất lượng dịch vụ giáo dục phụ thuộc vào từng nhà cung ứng dịch vụ hay nói
cách khác tuỳ thuộc vào từng trường đại học vì vậy nên việc đánh giá hay xác định
chất lượng giáo dục là rất khó khăn
 Tính xã hội của dịch vụ giáo dục
13
Dịch vụ giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng được cung cấp không chỉ
nhằm thoả mãn nhu cầu của từng cá nhân hay từng đối tượng khách hàng mà còn
nhằm mục đích mang lại những giá trị văn hoá và duy trì , ổn định xã hội.
 Tính cạnh tranh trong thị trường giáo dục thường không cao
Xét theo cấu trúc thị trường thì thị trường giáo dục mang đặc điểm của thị trường
độc quyền nhóm . Chính bởi vậy thỉtường cạnh tranh không hoàn hảo sữ làm cho

theo bốn phương thức: Cung cấp qua biên giới, Tiêu dùng ngoài lãnh thổ, Hiện diện
thương mại và Hiện diện của thể nhân.
Phương thức 1 Cung cấp qua biên giới : Để làm rõ khái niệm về GDXBG,
UNESCO (2004) đã tiến hành một phân biệt quan trọng giữa khái niệm không biên
giới thường được sử dụng và khái niệm xuyên biên giới. Khái niệm không biên giới
đề cập đến việc làm mờ nhạt đi các biên giới truyền thống trong GDĐH, được hiểu
là theo nghĩa khái niệm, quy tắc, và đường phân ranh giới địa lý. Khái niệm xuyên
quốc gia thừa nhận việc dịch chuyển của GDĐH băng qua các rào cản pháp lý; quốc
gia duy trì các trách nhiệm thuộc về quy định, đặc biệt trong lĩnh vực chất lượng,
tiếp cận, và tài chính (UNESCO, 2004). Hơn nữa, GDXBG bao gồm việc di chuyển
của sinh viên, nhân viên, kiến thức, chương trình giáo dục, và cơ sở giáo dục từ
quốc gia này sang quốc gia khác, có thể là thực tế, có thể là ảo (Knight, 2003; Lee,
2005). GDĐH xuyên biên giới đang trên đường tăng trưởng, tạo ra sự cạnh tranh
giữa các cơ sở giáo dục trong và ngoài nước dành cho sinh viên, và các chương
trình trao đổi dành cho học sinh và học giả. Ngoài ra, còn một số quan tâm khác, đó
là việc ngày càng nhiều chuyên gia và người tốt nghiệp chất lượng cao đến làm việc
tại các quốc gia khác trong khi chính những người này có vai trò rất lớn trong việc
hỗ trợ cải thiện hệ thống giáo dục trong nước (ví dụ, chảy máu chất xám) (Knight,
2003, UNESCO, 2004).
Phương thức 2 Tiêu dùng ngoài lãnh thổ: Các cơ sở đào tạo đại học của một
quốc gia cung cấp dịch vụ đào tạo cho sinh viên nước ngoài tại lãnh thổ của đất
nước mình hay sinh viên Việt Nam đi du học tại các trường đại học nước ngoài và
chi trả học phí cho nơi mà mình học.
Phương thức 3 Hiện diện thương mại: Đó là việc các trường đại học của một
quốc gia xây dựng cơ sở của mình tại một quốc gia khác hay việc một quốc gia
15
khác xây dựng cở sở của một trưởng đại học nào đó của quốc gia đó tại Việt Nam
để cung cấp dịch vụ giáo dục.
Phương thức 4: Hiện diện của thể nhân : Việc xuất nhập khẩu dịch vụ giáo
dục được thể hiện qua sự di chuyển của các giảng viên ra nước ngoài , tiến hành

giáo dục tạo cho người học nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn địa điểm học và
các ngành học cũng sẽ trở nên đa dạng hơn. Điều này cũng đóng vai trò vô cùng
quan trọng trong việc quyết định trình độ phát triển của một quốc gia trong xu thế
toàn cầu hoá hiện nay.
Chương 2
XUẤT NHẬP KHẨU DỊCH VỤ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CỦA HÀ NỘI
2.1.Khái quát về năng lực xuất khẩu và nhu cầu nhập khẩu dịch vụ giáo dục
đại học của Hà Nội
2.1.1. Quy mô và cơ cấu đào tạo giáo dục đại học của Hà Nội
17
Theo thống kê của Bộ giáo dục và Đào tạo , trong những năm gần đây quy
mô giáo dục đại học của nước ta có sự thay đổi lớn ở cả hệ thống công lập và ngoài
công lập.
Hiện nay, thủ đô Hà Nội có 69 trường đại học trong đó có 10 trường ĐH tư
thục và 59 trường đại học công lập và khối ngành quân sự. Hơn nữa, thủ đô Hà Nội
có tổng cộng 22 trường Cao Đẳng công lập và ngoài công lập.
Có thể thấy được rằng, trong những năm trở lại đây quy mô giáo dục đại học
của nước ta nói chung và thủ đô Hà Nội nói riêng tiếp tục tăng ở cả hệ thống công
lập và ngoài công lập. Quy mô giáo dục đang phát triển mạnh mẽ với tốc độ rất
nhanh, và các trường đại học dân lập ngày càng chiếm tỷ lệ lớn hơn. Khi mà các
trường công lập không đáp ứng đủ nhu cầu thì hệ thống các trường ngoài công lập
đóng vai trò quan trọng hơn trong giáo dục đại học và góp phần giảm bớt gánh nặng
ngân sách cho Nhà nước.
Dựa vào bảng số liệu dưới ta có thể thấy thủ đô Hà Nội là nơi tập trung nhiều
trường ĐH nhất khu vực miền Bắc mà nguyên chính chính có lẽ là do trình độ phát
triển kinh tế xã hội và các điều kiện thuận lợi về khoa học và công nghệ là chủ yếu.
Bảng 2.1 Số cơ sở giáo dục đại học trên toàn quốc so với tổng dân số Theo 8
vùng lãnh thổ (tính đến hết 9/2009)
Số Vùng Đại học
Cao đẳng

Trung Bộ
11 6 17 21 9 30 47 7.028.570 354 SV
6
Tây
Nguyên
2 1 3 9 0 9 12 5.107.437 75 SV
7
Đông
Nam Bộ
29 16 45 33 11 44 89 15.758.966 431 SV
8
Đồng
bằng SCL
7 4 11 27 0 27 38 17.178.871 75 SV

Tổng
cộng
132 48 180 202 30 232 412 85.789.573 199
Nguồn: Bộ Giáo dục và đào tạo
2.1.1.2. Số lượng sinh viên
Số lượng sinh viên trên cả nước nói chung và trên địa bàn Hà Nội nói riêng cũng
liên tục tăng trong các năm qua ở cả khu vực đại học và cao đẳng . Năm 2001 số
lượng sinh viên là 368147, toàn bộ là sinh viên hệ công lập nhưng đến năm 2010
con số này đã tăng lên 668227 sinh viên , tăng 81,5% so với năm 2011.
19
Thêm vào đó số lượng sinh viên trong các trường công lập cũng tăng theo từng
năm . Trong hầu hết các năm số lượng các sinh viên công lập gia tăng đáng kể đặc
biệt trong 2 năm 2001 và 2002 toàn bộ sinh viên theo học hệ chính quy . Trong 2
năm cuối sự chênh lệch giữa sinh viên hệ công lập và ngoài công lập ngày càng lớn.
Bảng 2.2 Số sinh viên các trường Đại học Cao đẳng tại Hà Nội

Trường
Năm
Công lập Ngoài công lập Tổng
2001 11552
0
11552
2002 12457
0
12457
2003 12656 756 13412
2004 13912 1345 15257
2005 14367 1360 15727
2006 14207 1361 15568
2007 15936 540 16476
2008 16451 514 17065
2009 17220 863 18083
2010 18499 1483 19982
Nguồn: Website Tổng cục thống kê
(*) Năm 2001 và 2002 chỉ có loại hình công lập
Tuy nhiên, nếu so sánh với tốc độ tăng truởng của số lượng sinh viên thì số
lượng giảng viên gia tăng ở mức độ chậm hơn. Đây có thể nói cũng là hạn chế lớn
đối với sự phát triển nền giáo dục của Việt Nam hay của thủ đô Hà Nội nói riêng
bởi số lượng giảng viên có thể gia tăng nhưng không có nghĩa rằng chất lượng
giảng dạy cũng gia tăng với tốc độ như vậy. Vì thế nên nhu cầu xuất nhập khẩu dịch
21
vụ giáo dục đào tạo nhằm tăng chất lượng đội ngũ giảng viên ngày càng trở nên cấp
thiết hơn bao giờ hết.
2.1.2 Thực trạng kiểm định chất lượng giáo dục của Hà Nội
2.1.2.1. Chất lượng giáo dục đại học tại Hà Nội
Theo Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007 của Bộ trưởng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status