Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ của hà nội thực trạng và giải pháp - Pdf 14

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO LĨNH VỰC DỊCH VỤ
CỦA HÀ NỘI THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG

Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Nguyệt
Lớp : Trung 2
Khóa : 43
Giáo viên hƣớng dẫn : ThS. Trần Thị Ngọc Quyên

Khu công nghiệp - khu chế xuất
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á
WTO
Tổ chức thƣơng mại thế giới
TPHCM
Thành phố Hồ Chí Minh
UBND
Uỷ ban nhân dân
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội

Kho¸ luËn tèt nghiÖp Ph¹m Thi NguyÖt

2

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Dịch vụ là một trong ba ngành kinh tế quan trọng bên cạnh công nghiệp và
nông nghiệp. Đây là khu vực kinh tế có khả năng lớn nhất trong việc huy động vốn,
tạo sự liên kết giữa các ngành và phát huy mọi nguồn lực kinh tế để phát triển. Sự
phát triển của dịch vụ đƣợc đánh giá nhƣ thƣớc đo của nền kinh tế. Trong cơ cấu
kinh tế hiện đại, lĩnh vực dịch vụ có vai trò ngày càng quan trọng . Trong những
năm qua, Nhà nƣớc ta đã có nhiều chủ trƣơng, chính sách tạo điều kiện thuận lợi
cho hoạt động dịch vụ phát triển. Nhờ vậy khu vực dịch vụ đã có sự chuyển biến
tích cực, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và đời sống của
dân cƣ, góp phần đẩy nhanh tăng trƣởng kinh tế. Một số lĩnh vực dịch vụ nhƣ:
bƣu chính viễn thông; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; vận tải hàng không; vận
tải biển; du lịch, xuất khẩu lao động, đã có tốc độ tăng trƣởng nhanh; chất
lƣợng dịch vụ đƣợc nâng lên đáng kể; thu hút nhiều lao động, góp phần đẩy

Đối tƣợng nghiên cứu là đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào lĩnh vực dịch vụ
của Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu là giai đoạn 1988-2007.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khoá luận đã sử dụng phƣơng pháp duy vật, duy vật lịch sử và phƣơng
pháp điều tra thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh thống kê để làm rõ mục tiêu
nghiên cứu trên.
5. Kết cấu khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khoá luận đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng sau
đây:
Chƣơng I: Tổng quan về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài và ngành dịch vụ
Chƣơng II: Thực trạng FDI vào lĩnh vực dịch vụ của Hà Nội
Chƣơng III: Triển vọng và một số giải pháp nhằm tăng cƣờng thu hút FDI
vào lĩnh vực dịch vụ của Hà Nội
Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo hƣớng dẫn Thạc sỹ Trần Thị Ngọc
Quyên đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Ph¹m Thi NguyÖt

4 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC
NGOÀI VÀ NGÀNH DỊCH VỤ
I. TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI ( FDI)
1. Khái niệm
Để thực hiện đƣợc quá trình sản xuất kinh doanh thì vốn đầu tƣ là yếu tố
không thể thiếu. Vốn dùng để mua sắm trang thiết bị kỹ thuật, trả lƣơng cho

trong việc quản lý doanh nghiệp và mở rộng thị trƣờng.”. Khái niệm này nhấn
mạnh 3 yếu tố là tính lâu dài của hoật động đầu tƣ, chủ đầu tƣ phảI có yếu tố
nƣớc ngoài, động cơ đầu tƣ là dành quyền kiểm soát công ty trực tiếp hoạt động
quản lý doanh nghiệp.
Các nhà kinh tế học B.O. Siderten Geofrey Reed và Dominick Salvatore
cũng có cách tiếp cận tƣơng tự. Trong cuốn sách International Economics 1995,
Salvatore đa đƣa ra khái niệm: “ Đầu tƣ gián tiếp là các tài sản tài chính thuần
tuý nhƣ cổ phiếu, trái phiếu đƣợc mệnh giá bằng đồng tiền trong nƣớc. FDI là
đầu tƣ thực vào nhà máy, các hàng hoá đầu tƣ, đất đai, hàng tồn kho, ở đó quyền
quản lý và tƣ bản cùng tồn tại và nhà đầu tƣ giữ quyền quản lý suốt quá trình sử
dụng vốn đầu tƣ đó”. Định nghĩa này chƣa thể hiện đƣợc mục tiêu lớn nhất của
đầu tƣ là lãi suất cao.
Theo luật đầu nƣớc ngoài tại Việt Nam (1996): “FDI là việc các nhà đầu
tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến
hành hoạt động đầu tƣ theo quy định của luật này”. Khái niệm nhấn mạnh chủ
đầu tƣ là ngƣời nƣớc ngoài nhằm xác định đƣợc tƣ bản đƣợc chuyển dịch trong
FDI nhất thiết phải vƣợt ra khỏi phạm vi một quốc gia.
Tóm lại FDI là hình thức đầu tƣ quốc tế trong đó chủ đầu tƣ sẽ đầu tƣ
toàn bộ hay một phần vốn đủ lớn ở một quốc gia khác để giành quyền kiểm soát
hoặc tham gia kiểm soát hoạt động đầu tƣ.
2. Đặc điểm của FDI
FDI là hình thức đầu tƣ tƣ nhân: Ngƣời bỏ vốn và ngƣời sử dụng vốn là
một chủ thể. Nhà đầu tƣ nƣớc ngoài tự bỏ vốn, tự quản lý hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình trên cơ sở tuân thủ luật pháp của nƣớc sở tại. Nguồn vốn
FDI có thể của chính phủ, cá nhân hoặc hỗn hợp.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Ph¹m Thi NguyÖt

6

FDI là hình thức đầu tƣ dài hạn: Hoạt động đầu tƣ này gắn liền với việc


7

Mua lại và sáp nhập (Merger and Acquisition): Thông qua việc sáp nhập với
các công ty ở nƣớc ngoài hoặc mua đứt các công ty đó, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài có
thể thiết lập sự có mặt của mình ở nƣớc sở tại một cách nhanh nhất. Đây là hình
thức đầu tƣ phổ biến của các công ty xuyên quốc gia muốn nhanh chóng tìm đƣợc
chỗ đứng của mình ở nƣớc sở tại. Hình thức này thƣờng diễn ra trong các ngành
nhƣ viễn thông, chế tạo ô tô, ngân hàng.
Việc hợp nhất, mua lại các công ty để thành lập chi nhánh sản xuất ở nƣớc
ngoài giúp các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài bảo vệ, củng cố và phát huy thế mạnh của
mình trong quá trình cạnh tranh quốc tế. Đặc biệt, hình thức này giúp sử dụng hiệu
quả mạng lƣới cung ứng và hệ thống phân phối sẵn có để phục vụ tốt hơn cho
khách hàng toàn cầu, mở rộng thị phần, tăng năng lực cạnh tranh và nguồn thu lợi
nhuận.
3.2. Theo hình thức pháp lý
Doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài (100% foreign Capital enterprise):
Đây là doanh nghiệp do các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đầu tƣ 100% vốn, do đó nó
hoàn toàn thuộc sở hữu của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, chịu sự điều hành quản
lý của các nhà ĐTNN nhƣng chịu sự kiểm soát của pháp luật nƣớc sở tại.
Doanh nghiệp liên doanh (Joint-venture enterprise). Đây là một hình thức
tổ chức kinh doanh quốc tế của các bên tham gia có quốc tịch khác nhau, trên cơ
sở cùng sở hữu về vốn góp, cùng quản lý, cùng phân phối lợi nhuận, cùng chia
sẻ rủi ro để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động dịch vụ hoặc
các hoạt động nghiên cứu bao gồm nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai
theo các điều khoản cam kết trong hợp đồng liên doanh ký kết giữa các bên
tham gia phù hợp với các quy định của nƣớc sở tại.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Contractual business Co-operation). Đây
là hình thức liên kết kinh doanh giữa đối tác trong nƣớc với các nhà ĐTNN trên
cơ sở quy định trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên bằng

FDI hƣớng về xuất khẩu: Nhà đầu tƣ tận dụng nguồn nguyên liệu có sẵn,
nhân công rẻ ở nƣớc tiếp nhận đầu tƣ để sản xuất sản phẩm sau đó lại xuất khẩu
trở lại nƣớc mình và xuất khẩu sang nƣớc khác. Khi thị trƣờng nhập khẩu bị bão
hoà, FDI hƣớng về xuất khẩu đƣợc khá nhiều nƣớc sử dụng để thúc đẩy sản xuất,
đẩy mạnh xuất khẩu.
FDI theo định hƣớng khác của chính phủ: Tuỳ điều kiện của từng quốc
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Ph¹m Thi NguyÖt

9

gia, tuỳ định hƣớng phát triển để đƣa ra chiến lƣợc thu hút FDI đạt hiệu quả tốt
nhất.
3.4 Theo ngành nghề, lĩnh vực giữa chủ đầu tƣ và đối tƣợng tiếp nhận đầu tƣ
FDI theo chiều dọc (Vertical FDI): Là hình thức chủ đầu tƣ đầu tƣ vào
các lĩnh vực, ngành nghề cùng chu trình sản xuất nhƣ ở nƣớc mình nhƣng khác
giai đoạn. Ví dụ: Các doanh nghiệp sản xuất máy tính nhƣ Intel thƣờng xây
dựng các nhà máy sản xuất linh kiện ở nƣớc khác để sản xuất linh kiện phụ phục
vụ lắp ráp ở nƣớc mình.
FDI theo chiều ngang (Horizontal FDI): Chủ đầu tƣ đầu tƣ ra nƣớc khác
để sản xuất sản phẩm cùng ngành sản xuất trong nƣớc. Ví dụ: ngành lắp ráp ô tô,
nhà đầu tƣ đầu tƣ cào lĩnh vực khác nhau để sản xuất các loại xe khác nhau, thoả
mãn nhu cầu khác nhau.
FDI hốn hợp (Conglomerate FDI): FDI hỗn hợp xảy ra khi một công ty theo
đuổi mục tiêu điều hành hoặc hợp nhất các công ty ở nƣớc khác để sản xuất sản
phẩm hoàn toàn không liên quan đến sản phẩm của mình, từ đó hình thành công ty
đa quốc gia có khả năng đa dạng hoá sản phẩm và tiềm lực kinh tế lớn.
3.5 Theo lĩnh vực đầu tƣ
Theo từng lĩnh vực ngành nghề, dựa trên cơ cấu kinh tế ngành của từng
quốc gia sẽ có FDI vào công nghiệp-xây dựng, FDI vào lĩnh vực nông nghiệp,
FDI vào lĩnh vực dịch vụ.

dịch vốn mạnh mẽ từ quốc gia này sang quốc gia khác, hình thành nên FDI.
Chiến lƣợc phát triển của các TNCs là chiến lƣợc kinh doanh toàn cầu, tiếp tục
vƣơn ra các khu vực với quy mô ngày càng lớn.
Mục đích chung nhất là tìm kiếm lợi nhuận cao. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào
chiến lƣợc phát triển của tổ chức kinh tế và mục tiêu của nó ở thị trƣờng nƣớc
ngoài, mục tiêu cụ thể là khác nhau.
4.1.2 Tiềm lực kinh tế của nhà đầu tƣ
Đối với nhà đầu tƣ, yếu tố quyết định nhất đối với họ là khả năng tài
chính để đầu tƣ. Nếu môi trƣờng đầu tƣ có hấp dẫn, điều kiện kinh doanh có
nhiều thuận lợi nhƣng họ không có vốn thì ý đồ đầu tƣ cũng không thể thực hiện
đƣợc. Mỗi doanh nghiệp đều có khả năng tài chính giới hạn, bao gồm vốn tự có
và nguồn vốn huy động. Đánh giá tiềm lực tài chính của các nhà đầu tƣ là một
yếu tố mà nƣớc nhận đầu tƣ phải xem xét khi cấp giấy phép đầu tƣ nhằm tránh
tình trạng đăng ký rồi không có khả năng thực hiện, sẽ làm lỡ cơ hội đầu tƣ của
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Ph¹m Thi NguyÖt

11

các nhà đầu tƣ khác hoặc kéo dài quá trình xây dựng-liên quan đến cơ hội kinh
doanh.
4.1.3 Năng lực kinh doanh của nhà đầu tƣ
Là ngƣời trực tiếp bỏ vốn và quản lý kinh doanh, các nhà đầu tƣ tự chịu
trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình. Đến lƣợt mình, chính
kết quả thực tế kinh doanh của nhà đầu tƣ sẽ là động lực thúc đẩy hay kiềm chế
các quyết định đầu tƣ tiếp theo của họ
Tuy nhiên, trên thực tế, kết quả kinh doanh tuỳ thuộc rất quan trọng vào
năng lực kinh doanh của nhà đầu tƣ, tức phụ thuộc vào khả năng nhận thức, nắm
bắt đầy đủ thông tin, xử lý kịp thời, hiệu quả các thông tin và các yếu tố đầu vào,
đầu ra khác, khả năng tổ chức điều hành công việc cũng nhƣ phụ thuộc vào bản
lĩnh của nhà đầu tƣ.

tố và điều kiện khách quan, chủ quan bên trong và bên ngoài doanh nghiệp hay
các nhà đầu tƣ có mối quan hệ tƣơng tác lẫn nhau, có ảnh hƣởng trực tiếp hoặc
gián tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của NĐT.
4.3.2 Các yếu tố cấu thành MTĐT
Có rất nhiều nhân tố ảnh hƣởng đến khả năng thu hút FDI của một nƣớc.
Nó không chỉ phụ thuộc vào những điều kiện của nƣớc chủ nhà mà nó còn phụ
thuộc vào mục đích của nhà đầu tƣ. Nếu nhà đầu tƣ muốn tìm kiếm thị trƣờng
tiêu thụ sản phẩm thì điều kiện hấp dẫn nhà đầu tƣ sẽ là dân số đông, thu nhập
trung bình cao, nếu họ muốn tìm nguồn nguyên liệu rẻ thì điều kiện đó là tài
nguyên thiên nhiên dồi dào, dễ khai thác. Tuy nhiên, nếu không xét đến khả
năng và nhu cầu về vốn đầu tƣ của cả bên nƣớc chủ đầu tƣ lẫn bên nƣớc nhận
đầu tƣ và với giả định bối cảnh chung của thế giới ở điều kiện bình thƣờng cả về
tự nhiên và nhân tạo thì có thể nhận thấy dòng vốn đầu tƣ quốc tế nói chung và
dòng FDI nói riêng chỉ thực sự mở rộng và ƣa tìm đến những nơi có môi trƣờng
đầu tƣ đảm bảo cho đồng vốn sinh sôi nảy nở.
Thực tế đã chứng minh một môi trƣờng đầu tƣ hấp dẫn, có sức cạnh tranh
để thu hút FDI trƣớc hết phải bao gồm những nhân tố chủ yếu sau:
4.3.2.1. Các yếu tố về khung chính sách
Sự hoàn chỉnh, hữu hiệu của hệ thống pháp luật : Hệ thống pháp luật đầu
tƣ là thành phần quan trọng của môi trƣờng đầu tƣ, bao gồm các văn bản pháp
luật, các văn bản dƣới luật, các văn bản quản lý hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài
nhƣ hƣớng dẫn đầu tƣ, đánh giá, thẩm định dự án và quản lý các hoạt động đầu
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Ph¹m Thi NguyÖt

13

tƣ nhằm tạo nên một hành lang pháp lý đồng bộ, hiệu quả tạo thuận lợi cho hoạt
động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài.
Bên cạnh đó, các quy định trong hệ thống pháp luật đầu tƣ của nƣớc sở tại
phải đảm bảo sự an toàn về vốn và cuộc sống cá nhân cho nhà đầu tƣ khi hoạt

Điều kiện này không chỉ bao gồm các yêu cầu về duy trì sự phát triển kinh
tế ổn định, trật tự an ninh chính trị - xã hội cần thiết cho sự vận hành bình
thƣờng của đất nƣớc mà còn phải duy trì đƣợc dƣ luận và tâm lý chung thuận lợi
và ủng hộ các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Bất kì sự bất ổn nào về chính trị nhƣ
khủng bố, đảo chính, nội chiến hay sự hoài nghi, tẩy chay, thiếu thiện cảm của
giới lãnh đạo và quần chúng nhân dân đối với ĐTNN đều là những nhân tố nhạy
cảm tác động tiêu cực tới tâm lý cũng nhƣ là hành động thực tế của nhà ĐTNN
và nó cũng sẽ làm chậm lại những cải cách về chính sách cần thiết nhằm thu hút
FDI của nƣớc chủ nhà.
Sự phát triển của cơ sở hạ tầng :Sự phát triển của cơ sở hạ tầng kĩ thuật
của quốc gia tiếp nhận FDI luôn là điều kiện vật chất hàng đầu để các chủ đầu tƣ
có thể nhanh chóng thông qua các quyết định và triển khai trên thực tế các dự án
đầu tƣ đã cam kết. Một tổng thể hạ tầng phát triển phải bao gồm hệ thống giao
thông vận tải phát triển với cầu, cảng, đƣờng xá, bến bãi, sân bay và các phƣơng
tiện giao thông bảo phủ toàn quốc và đủ tầm hoạt động quốc tế; một hệ thống
bƣu chính viễn thông với các thiết bị hiện đại, có thể nối mạng quốc gia và quốc
tế một cách thông suốt và an toàn; hệ thống điện nƣớc dồi dào, phân bổ tiện lợi
cho hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống hàng ngày và một mạng lƣới
dịch vụ phát triển, rộng khắp và có chất lƣợng cao nhƣ y tê, giải trí, các dịch vụ
hải quan, tài chính, thƣơng mại, quảng cáo.
Tóm lại, hệ thống kết cấu hạ tầng đó phải giúp cho chủ ĐTNN cảm thấy
thoải mái và an toàn nhƣ ở trong nƣớc họ và giúp họ giảm các chi phí sản xuất
về giao thông vận tải, thông tin liên lạc mà không bị cản trở trong việc kinh
doanh với đối tác ở nƣớc sở tại cũng nhƣ toàn cầu.
Dịch vụ thông tin đầu tƣ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút
vốn FDI. Nội dung hoạt động dịch vụ này rất phong phú và mang tính thời sự
cao, bao gồm từ việc cung cấp thông tin cập nhật, chính xác về môi trƣờng đầu
tƣ của nƣớc tiếp nhận đầu tƣ cho các đầu tƣ tiềm năng trên toàn thế giới; hỗ trợ
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Ph¹m Thi NguyÖt



16

Hệ thống trọng tài quốc tế : Nếu đƣợc tổ chức tốt, hoạt động hiệu quả thì
trọng tài quốc tế đóng vai trò là ngƣời đem lại sự công bằng cho các doanh
nghiệp.
Hoạt động xúc tiến đầu tƣ : Đây là hoạt động cần thiết nhằm đẩy nhanh
tốc độ thu hút FDI vào trong nƣớc. Hình thức của hoạt động xúc tiến đầu tƣ rất
đa dạng, phong phú và với mỗi địa phƣơng khác nhau cũng khác nhau.
5. Tác động của FDI
5.1 Đối với nƣớc đầu tƣ
5.1.1 Tác động tích vực
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ: Phần lớn các nƣớc này là các nƣớc
công nghiệp phát triển và hiện nay là một số các nƣớc công nghiệp mới NICs. Ở
những nƣớc này, trình độ phát triển đã đạt tới mức khá cao làm cho các nhân tố sản
xuất theo chiều rộng ngày càng mất đi ý nghĩa ban đầu kèm theo là hiện tƣợng thừa
tƣơng đối nguồn vốn trong nƣớc. Bằng cách đầu tƣ ra nƣớc ngoài họ đã sử dụng
đƣợc những lợi thế của nƣớc tiếp nhận đầu tƣ để giảm chi phí sản xuất, hạ giá
thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn để có thể khắc phục đƣợc tình
trạng tỷ suất lợi nhuận đang có xu hƣớng giảm dần.
Kéo dài vòng đời sản phẩm: Theo thuyết chu kỳ sống của sản phẩm,
thông qua FDI, các nƣớc chủ đầu tƣ đã di chuyển một bộ phận sản xuất công
nghiệp phần lớn là máy móc ở giai đoạn lão hoá hoặc có nguy cơ bị khấu hao vô
hình nhanh (trong xu hƣớng phát triển và đổi mới công nghệ, sản phẩm ngày
càng rút ngắn) sang các nƣớc kém phát triển hơn để tiếp tục sử dụng, kéo dài
thêm chu kỳ sống của sản phẩm, hoặc để mau khấu hao, cũng nhƣ để tăng sản
xuất tiêu thụ, giúp thu hồi vốn và tăng thêm lợi nhuận.
Khai thác nguồn nguyên liệu ở nƣớc tiếp nhận đầu tƣ: FDI sẽ tạo cơ hội cho
các nƣớc này mở rộng và ổn định thị trƣờng cung cấp nguồn nguyên liệu với giá
khống chế thông qua đầu tƣ vào các ngành, khai thác tài nguyên thiên nhiên của

tích luỹ. Điều này đã hạn chế đến quy mô đầu tƣ và đổi mới công nghệ, trang
thiết bị kĩ thuật ở các nƣớc này. FDI là loại hình đầu tƣ không quy định mức vốn
đầu tƣ tối đa mà chỉ quy định mức đầu tƣ tối thiếu, do vậy cho phép nƣớc sở tại
khai thác đƣợc nguồn vốn bên ngoài, làm tăng thêm nguồn lực để phát triển kinh
tế. Nguồn vốn FDI có thể hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời
sống kinh tế xã hội và thƣờng là vốn đầu tƣ dài hạn, do các nhà ĐTNN tự quản
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Ph¹m Thi NguyÖt

18

lý và tự chịu kết quả kinh doanh nên có hiệu quả để tăng trƣởng kinh tế bền
vững.
FDI thúc đẩy chuyển giao công nghệ và học tập kinh nghiệm quản lý kinh
doanh của nƣớc ngoài : Ở các nƣớc đang phát triển, công nghệ thƣờng là công
nghệ cổ truyền, lạc hậu với năng suất thấp. Bên cạnh đó, với trình độ phát triển
kinh tế xã hội, giáo dục, khoa học kĩ thuật không cao, các nƣớc này có ít khả
năng phát triển những công nghệ mới và hiện đại. Mặt khác, với số vốn tích lũy
ít ỏi, khả năng tự nhập khẩu công nghệ của các nƣớc này cũng rất hạn chế.
Trong hoàn cảnh đó, FDI đƣợc coi là phƣơng tiện hữu hiệu để các nƣớc này có
thể tiếp cận với những công nghệ cao, hiện đại của nƣớc ngoài.
Thông thƣờng, khi triển khai dự án đầu tƣ vào một nƣớc, chủ ĐTNN
không chỉ chuyển vào đó vốn bằng tiền mà còn chuyển cả vốn hiện vật nhƣ máy
móc, thiết bị, nguyên vật liệu (còn gọi là công nghệ cứng) và vốn vô hình nhƣ
công nghệ, tri thức khoa học, bí quyết quản lý, kỹ năng tiếp cân thị trƣờng (còn
gọi là công nghệ mềm) cũng nhƣ đƣa chuyên gia nƣớc ngoài vào hoặc đào tạo
các chuyên gia bản xứ về các lĩnh vực đó. Điều này cho phép các nƣớc nhận đầu
tƣ không chỉ có đƣợc những công nghệ đơn thuần mà còn nắm vững cả các kĩ
năng nguyên lý vận hành, sửa chữa, mô phỏng và phát triển nó, nhanh chóng
tiếp cận đƣợc công nghệ hiện đại ngay cả khi nền tảng quốc gia chƣa đƣợc tạo
lập đầy đủ.

chú trọng đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Thông
qua việc thành lập các doanh nghiệp mới hoặc mở rộng quy mô các doanh
nghiệp hiện có, hoạt động đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đã tạo ra công ăn việc làm
cho một số lƣợng khá lớn ngƣời lao động tại nƣớc tiếp nhận, đặc biệt là tại
những nƣớc đang phát triển - nơi có nguồn lao động dồi dào, nhƣng thiếu vốn để
khai thác và sử dụng. 5.2.2. Tác động tiêu cực
Nguy cơ trở thành bão rác công nghệ: Mục tiêu của các nhà đầu tƣ khi
tiến hành hoạt động đầu tƣ ra nƣớc ngoài là đạt đƣợc lợi nhuận cao nhất. Bởi
vậy các nhà đầu tƣ bao giờ cũng tận dụng tối đa các yếu tố sản xuất. Bên cạnh
đó, dƣới tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật nên máy móc, công nghệ rất
mau trở nên lạc hậu, điều này luôn tạo ra sức ép buộc các nhà sản xuất phải
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Ph¹m Thi NguyÖt

20

nhanh chóng đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lƣơng sản
phẩm. Kéo dài thời gian khai thác công nghệ bằng cách đầu tƣ ra bên ngoài
chính là biện pháp giải quyết đƣợc hai mục tiêu trên.Vì lẽ đó mà hầu hết công
nghệ mà các nhà đầu tƣ chuyển giao sang các nƣớc đang và chậm phát triển đều
là những công nghệ đã qua sử dụng, thậm chí có những công nghệ đã rất lạc hậu.
Việc chuyển giao công nghệ lạc hậu có thể gây ra rất nhiều thiệt hại cho
nƣớc nhận đầu tƣ, đó là: Thứ nhất, rất khó tính đƣợc giá trị thực của những máy
móc chuyển giao đó, do vậy nƣớc chủ nhà thƣờng bị các nhà đầu tƣ khai tăng
giá công nghệ dẫn đến thiệt hại trong tỷ lệ góp vốn và cuối cùng là trong việc
phân chia lợi nhuận; Thứ hai, gây ô nhiễm môi trƣờng; Thứ ba, công nghệ lạc
hậu thì chất lƣợng sản phẩm thấp, chi phí sản xuất cao và do đó sản phẩm của
nƣớc nhận đầu tƣ khó có khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng thế giới.

xám, dòng ngoại tệ chảy ngƣợc, mất cân đối giữa các vùng, giữa nông thôn và
thành thị, sự phân hoá giàu nghèo, tệ nạn xã hội
II. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỊCH VỤ
1. Khái niệm
Trên thực tế, hiện nay vẫn tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về ngành
dịch vụ. Sở dĩ có sự khác biệt này là do xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác
nhau.
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam : « Dịch vụ là hoạt động phục vụ
nhằm thoả mãn các nhu cầu sản xuất kinh doanh và sinh hoạt. Do nhu cầu con
ngƣời rất đa dạng nên có nhiều loại dịch vụ nhƣ : dịch vụ sản xuất kinh doanh,
dịch vụ phục vụ sinh hoạt công cộng, dịch vụ cá nhân dƣới hình thức những
dịch vụ gia đình. ».
Theo từ điển Tiếng Việt : Dịch vụ là những công việc phục vụ trực tiếp
những nhu cầu nhất định của số đông các tổ chức và phải đƣợc trả công.
Tóm lại, Dịch vụ là hợp động phục vụ con ngƣời nhằm thoả mãn tốt nhất
các nhu cầu khác nhau (nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu sản xuất,
nhu cầu đời sống, nhu cầu cá biệt, nhu cầu đồng loạt ) và thông qua đó, bằng
quan hệ hàng hoá - tiền tệ, các tổ chức kinh doanh dịch vụ nhận đƣợc phần thu
nhập hợp lý của mình.
2. Đặc điểm
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Ph¹m Thi NguyÖt

22

Sản phẩm của dịch vụ thƣờng không tồn tại dƣới dạng vật chất thông
thƣờng. Các sản phẩm hàng hoá thông thƣờng do các ngành sản xuất tạo nên
đều tồn tại định hình, dạng thức ổn định (ổn định về mặt giá trị sử dụng và giá
trị của sản phẩm, hàng hoá), ngƣời mua có thể cảm nhận, xem xét bằng các giác
quan trƣớc khi quyết định mua. Đối với dịch vụ, các sản phẩm không tồn tại
dƣới dạng vật chất cố định mà nó thể hiện ở mức độ thoả mãn của khách hàng

tƣợng phục vụ là con ngƣời nhƣng là con ngƣời kinh doanh và máy móc hoặc
quá trình vận hành của doanh nghiệp.
- Dịch vụ đời sống : Phục vụ cho đời sống các nhân ngƣời tiêu dùng với
tƣ cách là các cá thể trong quá trình hoạt động, nghỉ ngơi, giải trí nhằm tái sản
xuất sức lao động. Dịch vụ đời sống bao gồm dịch vụ vật chất và dịch vụ tinh
thần, dịch vụ văn hoá
3.2 Theo nội dung và tính chất dịch vụ
- Dịch vụ vật chất : Là dịch vụ thoả mãn nhu cầu thông qua các phƣơng
tiện mang tính vật chất.
- Dịch vụ phi vật chất : Là dịch vụ thoả mãn nhu cầu của con ngƣời thông
qua các phƣơng tiện phi vật chất nhƣ dịch vụ tƣ vấn, khuyến cáo. Xã hội càng
phát triển, khoa học kỹ thuật đạt trình độ tiên tiến, mức sống nâng cao thì loại
hình dịch vụ phi vật chất càng đa dạng.
3.3 Theo các khâu trong quá trình sản xuất
- Dịch vụ trong quá trình sản xuất
- Dịch vụ trong quá trình phân phối sản phẩm
- Dịch vụ trong lƣu thông thƣơng mại.
- Dịch vụ trong tiêu dùng.
3.4 Theo ngành
- Dịch vụ công nghiệp
- Dịch vụ nông nghiệp
- Dịch vụ nông lâm ngƣ nghiêp
- Dịch vụ giao thông vận tải.
- Dịch vụ xây dựng.
- Dịch vụ y tế.
- Dịch vụ văn hoá giáo dục.
- Dịch vụ bất động sản.
4. Các yếu tố ảnh hƣởng đến ngành dịch vụ.
Kho¸ luËn tèt nghiÖp Ph¹m Thi NguyÖt


cao về chất lƣợng phục vụ mà ở đây là con ngƣời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status