CÔNG TÁC KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
ThS. Nguyễn Thị Huệ*
Với sự chuyển đổi về tư duy giáo dục: từ đào tạo tinh hoa sang đào tạo
đại trà cùng với tác động của chủ trương xã hội hóa giáo dục đã làm cho quy
mô giáo dục ngày càng tăng lên, đáp ứng nhu cầu của đại bộ phận người dân
có thể tham gia và hưởng thụ thành tựu giáo dục đào tạo. Tuy nhiên, hiện nay
bất cập lớn nhất trong giáo dục đào tạo chính là mâu thuẫn giữa quy mô và
chất lượng, hiệu quả giáo dục. Mặc dù quy mô giáo dục ngày càng tăng
nhưng chất lượng, hiệu quả giáo dục thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển
nhân lực, yêu cầu của thị trường lao động. Để giải quyết vấn đề này, một
trong những giải pháp tối ưu đó là tăng cường công tác kiểm định chất lượng
giáo dục (KĐCLGD).
Vậy trong công tác KĐCLGD đạt được những thành tựu và gặp phải
những hạn chế, vướng mắc nào? Giải pháp cho vấn đề trên là gì? Bài viết sẽ
cố gắng làm rõ những vấn đề nêu trên. Tuy nhiên, do nguồn lực hạn chế nên
tác giả chỉ tập trung làm rõ công tác kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại
học (gọi tắt là kiểm định chất lượng giáo dục đại học - KĐCLGDĐH).
1. Khái quát chung về công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại
học
Kiểm định là hoạt động đánh giá bên ngoài được sử dụng nhằm bảo
đảm chất lượng và nâng cao chất lượng giáo dục.
Kết quả kiểm định là các trường hoặc chương trình đào tạo được công
nhận đạt hay không đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng.
Kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học (hay còn gọi là kiểm định
chất lượng giáo dục đại học -KĐCLGDĐH) là hoạt động đánh giá và công
** Giảng viên Bộ môn QLNN về Xã hội, Học viện Hành Chính Quốc Gia, Phân viện tại
Thành phố Hồ Chí Minh
1
2
114 chương trình, bao gồm: 08 chương trình đánh giá theo tiêu chuẩn trong
nước; 106 chương trình đánh giá theo tiêu chuẩn khu vực và quốc tếiv.
Điều này cho thấy việc thực hiện công tác KĐCLGDĐH đã có những
bước tiến đáng kể.
2. Đánh giá công tác kiểm định chất lượng giáo dục đại học
2.1. Ưu điểm
Công tác KĐCLGDĐH trong thời gian qua đã đạt được những kết quả
đáng ghi nhận, cụ thể như:
Thứ nhất, hệ thống văn bản để đảm bảo cho KĐCLGDĐH về cơ bản
đã đầy đủ. Sau hơn 10 năm triển khai thực hiện, các quy định về KĐCLGD
đang từng bước được đưa vào trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Chẳng hạn như: Luật giáo dục năm 2005: Điều 17 và 58; Luật Sửa đổi và bổ
sung một số điều của Luật Giáo dục năm 2009: Mục 3a gồm có 3 điều bổ
sung về KĐCLGD; Luật Giáo dục đại học: Chương VII. Đảm bảo và
KĐCLGDĐH. Bên cạnh đó, Chính phủ có các văn bản quy định chi tiết và
hướng dẫn thực hiện như Nghị định số 75/2006/NĐ-CP: Chương II, Điều 3840 về KĐCLGD; Nghị định số 31/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 38 và
39 của Nghị định số 75/2006/NĐ-CP. Ngoài ra, công tác đảm bảo và
KĐCLGD cũng được quy định cụ thể trong các văn bản quan trọng khác như
Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 với yêu cầu “xây dựng hệ thống
kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục, thực hiện kiểm định chất lượng cơ
sở giáo dục của các cấp học, trình độ đào tạo và kiểm định các chương trình
giáo dục nghề nghiệp, đại học”. Trong quyết định của Thủ tướng chính phủ
về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai
đoạn 2006 – 2020 đã đưa ra giải pháp “Triển khai đại trà công tác đánh giá và
KĐCLGDĐH”.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
về quy trình và chu kỳ KĐCLGD, các bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo
chức KĐCLGD nước ngoài hoạt động ở Việt Nam. Công bố danh sách các tổ
chức KĐCLGD trong nước và nước ngoài được Việt Nam công nhận. Công
khai kết quả KĐCLGD.
4
Trong thời gian qua, đã có 4 Trung tâm Kiểm định Chất lượng được
thành lập và đã đi vào hoạt động: Trung tâm Kiểm định Chất lượng Đại học
Quốc gia Hà Nội, Trung tâm Kiểm định Chất lượng Đại học Quốc gia Thành
phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Kiểm định Chất lượng Đại học Đà Nẵng, Trung
tâm Kiểm định Chất lượng Hiệp hội Đại học, Cao đẳng Việt Nam. Phải nhận
định rằng, từ khi ra đời, các trung tâm kiểm định chất lượng đã thể hiện được
vai trò trong việc tiến hành đánh giá ngoài đối với cơ sở giáo dục đại học.
Công tác đào tạo đội ngũ Kiểm định viên KĐCLGD được quan tâm.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo giao cho Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại
học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh nhiệm vụ đào tạo kiểm định viên
KĐCLGDĐH và trung cấp chuyên nghiệp. Hai Đại học quốc gia đã tiến hành
tổ chức đào tạo kiểm định viên từ đầu năm 2014. Cục Quản lý chất lượng
cũng đã triển khai việc tuyển chọn và cấp thẻ kiểm định viên theo quy định.
Hiện nay, về cơ bản đội ngũ đảm bảo cho hoạt động kiểm định chất lượng từ
bên ngoài đã được chuẩn bị tương đối đầy đủ hơn trước. Cụ thể có hơn 700
người đã hoàn thành các khóa đào tạo kiểm định viên, trong đó có 240 người
đã được cấp thẻ kiểm định viênvi.
Thứ ba, hợp tác quốc tế về KĐCLGDĐH được đẩy mạnh
Phải nói rằng, hợp tác quốc tế về KĐCLGD là một vấn đề hết sức quan
trọng trong việc đào tạo chuyên gia và trao đổi kinh nghiệm thực tiễn, đặc
biệt là những nước mới bắt đầu triển khai xây dựng hệ thống KĐCLGD như
Việt Nam.
Từ những năm đầu tiên (2002), qua các hội thảo, tập huấn, các chuyên
gia quốc tế đã giúp Việt Nam định hướng cho công tác đảm bảo chất lượng
đồng Kiểm định các trường và chương trình đào tạo về kinh doanh, Hoa Kỳ;
Quỹ Kiểm định các chương trình quản trị kinh doanh quốc tế; Hiệp hội
MBA; Hiệp hội quốc tế các trường đại học đào tạo ngành kinh doanh; Mạng
lưới kiểm định đào tạo kỹ thuật của châu Âu.
Việc hợp tác quốc tế đã đem lại những kinh nghiệm thực tiễn của các
nước trên thế giới để áp dụng vào Việt Nam, nâng cao chất lượng giáo dục
đại học lên một bước mới.
2.2.
Những hạn chế
6
KĐCLGDĐH đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nhà
trường và xã hội, tuy nhiên trong quá trình triển khai công tác này còn tồn tại
một số hạn chế như:
Thứ nhất, nhận thức của các bên liên quan vii đến cơ sở giáo dục về
KĐCLGDĐH chưa thật sự đồng đều.
Đến nay, công tác kiểm định chất lượng đã không còn là vấn đề quá
mới mẻ tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc triển khai công tác này đến tất cả các
đối tượng liên quan vẫn chưa thật sự hiệu quả. Các cấp lãnh đạo, quản lý
chưa thực sự quan tâm, đầu tư công sức, chỉ đạo sát sao công tác kiểm định
chất lượng giáo dục của các trường đại học. Điều này dẫn đến tình trạng một
số trường tích cực trong công tác kiểm định, một số khác thì làm nhưng chưa
tốt (hình thức) hoặc chậm chí chưa thực hiện theo quy định. Đến thời điểm
31/5/2018, chỉ có 114 chương trình đạo tạo của 21 trường tiến hành đánh giá
ngoài, số trường được công nhận cũng chỉ mới 100 trường. Con số như vậy là
quá ít so với yêu cầu hiện nay.
Sự thiếu hiểu biết đầy đủ về vai trò, tác dụng cũng như nội dung, quy
trình của công tác KĐCLGDĐH chủ yếu do công tác tuyên truyền chưa được
tiến chất lượng để được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng thì sẽ bị áp dụng
chế tài hạn chế hoặc đình chỉ việc tuyển sinh”. Như vậy, theo quy định này
chỉ áp dụng chế tài khuyến khích hoặc hạn chế đối với cơ sở giáo dục tham
gia kiểm định chất lượng. Vậy còn các cơ sở giáo dục không tham gia thực
hiện công tác kiểm định chất lượng thì chế tài xử lý như thế nào thì hệ thống
văn bản quy phạm pháp luật chưa đề cập. Đây chính là lỗ hổng lớn trong
công tác KĐCLGDĐH hiện nay.
Trên thực tế, có những trường rất tích cực đầu tư và xây dựng hệ thống
kiểm định chất lượng riêng, với bộ tiêu chuẩn riêng để kiểm định chất lượng
các trường thành viên và chương trình của mình như Đại học Quốc gia Hà
Nội, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh và một số trường công lập
khác cũng tích cực tham gia kiểm định chất lượng ngay từ đầu (như 40
trường tình nguyện tham gia chương trình kiểm định chất lượng thí điểm giai
đoạn 2005-2009) thì vẫn có một số trường chưa thực hiện báo cáo tự đánh giá
8
và chưa đăng ký đánh giá ngoài, bởi hệ thống pháp luật chưa quy định nếu
không (chưa) tham gia kiểm định chất lượng thì sẽ phải chịu chế tài gì. Do
đó, các trường chưa thực hiện công tác KĐCLGD vẫn được hoạt động, được
tuyển sinh và cấp bằng bình thường. Điều này hoàn toàn khác với những
nước coi kiểm định chất lượng là bắt buộc, những cơ sở đào tạo hoặc chương
trình đào tạo chưa được kiểm định chất lượng sẽ không được phép cấp bằng,
dù có thể vẫn được phép đào tạo.
Thứ ba, công tác KĐCLGDĐH còn lúng túng và thiếu ổn địnhviii
Kể từ khi kiểm định chất lượng mới được bắt đầu thí điểm rồi trở thành
yêu cầu bắt buộc, một hệ thống các văn bản pháp quy dày đặc điều chỉnh các
hoạt động kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học đã được ban hành liên
tiếp vào các năm 2007, 2008, 2012, 2013, 2016, 2017ix.
“Trong khi hệ thống KĐCLGDĐH trên thực tế chưa vận hành đầy đủ
các cơ sở giáo dục đại học, giảng viên, nhân viên và sinh viên. Thông qua các
hội nghị, hội thảo chuyên đề, cần trang bị kiến thức, thay đổi nhận thức về
vai trò, vị trí của công tác đảm bảo chất lượng nói chung và KĐCLGD nói
riêng để từ đó mỗi cá nhân, đơn vị sẽ xem yếu tố chất lượng như một tiêu chí
sống còn.
Thứ hai, nâng cao chất lượng, hiệu quả của các trung tâm kiểm
định trong đó lấy việc đào tạo đội ngũ kiểm định viên đạt chuẩn làm nhiệm
vụ then chốt.
Để nâng cao chất lượng của các tổ chức KĐCLGD thì yêu cầu đặt ra
là cần có đội ngũ kiểm định viên mang tính chuyên nghiệp cao thông qua
chính sách đào tạo, phát triển đội ngũ này. Theo số liệu thống kê của Bộ Giáo
dục và Đào tạo, năm học 2016-2017, cả nước có 235 trường đại học, do vậy,
để có thể tiến hành kiểm định chất lượng thì cần một lực lượng lớn kiểm định
viên đảm trách công tác này. Nhưng đến nay chỉ có hơn 700 người được cấp
chứng chỉ hoàn thành khóa đào tạo kiểm định viên (kể cả kiểm định các cơ sở
giáo dục trung cấp chuyên nghiệp), trong đó chỉ có 240 kiểm định viên được
cấp thẻ là còn khá ít so với nhu cầu. Bên cạnh đó, với những thay đổi nhanh
10
chóng của các quy định hướng dẫn công tác kiểm định chất lượng như hiện
nay, đòi hỏi đội ngũ này liên tục được đào tạo mới để cập nhật, bổ sung kiến
thức. Cán bộ chuyên trách, thành viên tham gia hội đồng tự đánh giá và các
nhóm chuyên trách viết báo cáo tự đánh giá chưa có kinh nghiệm, chưa được
tập huấn bồi dưỡng các kĩ thuật thu thập, xử lý thông tin, minh chứng về lĩnh
vực công tác này. Thực tế là rất nhiều cán bộ đều kiêm nhiệm, thực hiện
nhiệm vụ theo hướng vừa làm, vừa rút kinh nghiệm. Kiểm định viên cần có
khả năng thu thập và phân tích thông tin tốt và đồng thời có khả năng đưa ra
được những tư vấn để giải quyết những vướng mắc của trường, hướng đi như
thế nào, điểm mạnh nào cần bứt phá.... Điều này có nghĩa trong quá trình
Đây chính là một trong những cơ chế đảm bảo chất lượng giáo dục đại
học hiện nay. Do vậy, cần phải quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp
luật cụ thể hơn nữa về vấn đề này. Đặc biệt cần có những chế tài đủ mạnh để
tạo ra sự cạnh tranh công bằng giữa những trường tiến hành kiểm định chất
lượng và trường không thực hiện, tránh những lỗ hổng đáng tiếc như hiện
nay. Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành thông tư số 12/2017/TTBGDĐT ngày 19 tháng 5 năm 2017 của bộ Giáo dục Đào tạo về Ban hành
quy định về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học nhưng chưa có văn
bản hướng dẫn thi hành. Trong thời gian tới, cần triển khai cụ thể hóa thông
tư theo hướng như đã đề cập ở trên.
Thứ năm, tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế về KĐCLGDĐH
Bên cạnh việc thành lập các trung tâm kiểm định chất lượng để đánh
giá ngoài như hiện nay, cần khuyến khích các trường đăng ký đánh giá cấp
chương trình theo các tiêu chuẩn quốc tế. Có như vậy, giáo dục đại học Việt
Nam mới từng bước hội nhập với quốc tế và từng bước xây dựng vị thế của
mình.
Tóm lại, công tác KĐCLGDĐH đã góp phần giúp các cơ sở giáo
dục đại học không ngừng hoàn thiện về mặt chất lượng từ yếu tố đầu vào
cho đến yếu tố quá trình, tăng tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của
mình. Trong thời gian qua, công tác KĐCLGDĐH ở Việt Nam đã đạt được
nhiều thành tựu to lớn như thực hiện kiểm định và công nhận cho nhiều
trường đại học trong cả nước, giúp nâng cao chất lượng đại học ở Việt Nam
12
lên một bước tiến mới. Tuy nhiên, công tác KĐCLGDĐH vẫn còn tồn tại một
số yếu kém ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác này trong thực
tiễn và cần phải được khắc phục. Do vậy, từ góc độ quản lý nhà nước, chúng
ta cần thực hiện đồng bộ hệ thống giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế
nêu trên.
góc độ kỹ thuật. Truy cập http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/kiemdinh-chat-luong-giao-duc-nhin-tu-goc-do-ky-thuat-414408.html
ngày
10/6/2018.
PHỤ LỤC
Các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn triển khai
công tác KĐCLGD đã được ban hành:
Quốc hội phê duyệt các văn bản
1. Luật Giáo dục 2005 (Điều 17, 58, 99).
2. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25
tháng 11 năm 2009 (Mục 3a).
3. Luật Giáo dục đại học 2012 (Chương VII).
Chính phủ ban hành các văn bản
4. Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo
dục (Chương II, Điều 38-40);
5. Nghị định số 31/2011/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 2011 của
Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục (Điều 1, khoản 14, 15).
Bộ GD&ĐT ban hành các văn bản về kiểm định ĐH
6. Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01 tháng 11 năm 2007
của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh
giá chất lượng trường đại học.
14
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về kiểm định viên
KĐCLGD.
14. Thông tư số 61/2012/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 12 năm 2012 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định điều kiện thành lập và
giải thể, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức KĐCLGD.
15. Thông tư số 62/2012/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 12 năm 2012 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về quy trình và chu kỳ
KĐCLGD trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp.
16. Thông tư số 18/2013/TT-BGDĐT ngày 14 tháng 5 năm 2013 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình đào tạo kiểm định
viên KĐCLGD đại học và trung cấp chuyên nghiệp.
17. Thông tư số 38/2013/TT-BGDĐT ngày 29 tháng 11 năm 2013 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định chu kỳ và quy trình
kiểm định chất lượng chương trình giáo dục của các trường đại học, cao đẳng
và trung cấp chuyên nghiệp.
18. Thông tư 12/2017/TT-BGDĐT ngày 19/5/2017 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo ban hành quy định về kiểm định chất lượng cơ sở giáo
dục đại học.
Cục Khảo thí và KĐCLGD, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành các
văn bản hướng dẫn
19. Công văn số 9098/BGDĐT-KTKĐCLGD ngày 13 tháng 10 năm
2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn đánh giá ngoài trường
ĐH, CĐ, TCCN.
20. Công văn số 462/KTKĐCLGD-KĐĐH ngày 09 tháng 5 năm 2013
của Cục Khảo thí và KĐCLGD về việc hướng dẫn tự đánh giá trường ĐH,
CĐ, TCCN.
21. Công văn số 527/KTKĐCLGD-KĐĐH ngày 23 tháng 5 năm 2013
của Cục Khảo thí và KĐCLGD về việc hướng dẫn sử dụng tiêu chí đánh giá
60&61& 62/2012/TT-BGDĐT), 2013 (18/2013/TT-BGDĐT; 38/2013/ TT-BGDĐT), 2016
(04/2016/TT-BGDĐT), 2017 (12/2017/TT-BGDĐT)
x Đỗ Thị Ngọc Quyên (2017). Kiểm định chất lượng giáo dục: Nhìn từ góc độ kỹ thuật. truy
cập http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/kiem-dinh-chat-luong-giao-duc-nhin-tu-goc-do-kythuat-414408.html ngày 10/6/2018.
xi Khoản 1, điều 51, Thông tư số 12/2017/TT-BGDĐT ngày 19 tháng 5 năm 2017 của bộ
Giáo dục Đào tạo về Ban hành quy định về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học.
i