Tiểu luận Định giá đất
I. Mở đầu:
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là cơ sở không gian của mọi
quá trình sản xuất, là tư liệu đặc biệt trong ngành nông nghiệp, là thành
phần quan trọng nhất của môi trường sống. Là địa bàn phân bố khu dân cư,
xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng.
Đất đai có những tích chất đặc trưng khiến nó không gióng bất kỳ một tư
liệu sản xuất nào.
Đất đai là tài nguyên có hạn về số lượng, đất đai có vị trí cố định
trong không gian, không thể di chuyển được theo ý muốn chủ quan của con
người. Chính đặc điểm này là nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự khác biệt về
giá trị giữa các mảnh đất nằm ở vị trí khác nhau.
Ngoài ra khác
với
các
tài
sản
thông
thường
khác
trong
quá
không
bị
mất
đi,
mà
ngày
càng
có
xu
hướng
tăng
lên, d
o đó đòi hỏi phải định giá đất .
Định giá đất đai là một phần quan trọng trong chính sách của Nhà
nước đang thực hiện bao trùm các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu đất
đai, quyền phân phối và chuyển dịch, giá cả và các vấn đề liên quan đến đất
đai.
Với những lý do đó nhóm chúng tôi xin chọn đề tài là: “Hệ thống các
văn bản liên quan đến công tác định giá đất ở Việt Nam từ trước đến nay”
nhằm mang lại một cái nhìn tổng quát hơn về công tác quản lý đất đai của
Nhóm 19 _ Quản lý đất đai K52C
2
Tiểu luận Định giá đất
cho các trường hợp quy định tại Điều 34 và Điều 35 của Luật Đất đai năm
2003;
c) Tính Giá trị quyền sử dụng đất khi giao đất không thu tiền sử dụng đất
cho các tổ chức, cá nhân trong các trường hợp quy định tại Điều 33 của Luật
Đất đai năm 2003;
d) Xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị tài sản của Doanh
nghiệp nhà nước khi doanh nghiệp cổ phần hoá, lựa chọn hình thức giao đất
có thu tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 59 của Luật Đất đai
năm 2003;
đ) Tính giá trị quyền sử dụng đất để thu lệ phí trước bạ chuyển quyền sử
dụng đất theo quy định của pháp luật;
e) Tính giá trị quyền sử dụng đất để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất sử
dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng
và phát triển kinh tế quy định tại Điều 39, Điều 40 của Luật Đất đai năm
2003;
g) Tính tiền bồi thường đối với người có hành vi Vi phạm pháp luật về đất
đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước theo quy định của pháp luật.”
Theo nghị định 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 07 năm 2007, khung
giá đất qui định giá đất cao nhất là 67,5 triệu đồng/m
2
đối với giá đất ở tại
đô thị đặc biệt. Giá đất rẻ nhất đối với đất ở tại đô thị là 30.000 đồng/m
2
(đô
thị loại V). Ngoài ra, khung giá đất còn qui định khung giá cho các loại đất
thuộc nhóm đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng.
Nghị định qui định giá đất sẽ do UBND các tỉnh, thành phố căn cứ vào
giữa người quản lý và người sử dụng đất.
Nhóm 19 _ Quản lý đất đai K52C
4
Tiểu luận Định giá đất
Hiện nay định giá đất ở Việt Nam được thực hiện ở một số lĩnh vực
sau: xây dựng bảng giá quy định hàng năm cho các địa phương làm cơ sở
thực hiện nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất; xây dựng giá khởi điểm
khi thực hiện giao đất có thu tiền thông qua hình thức đấu giá; tính toán giá
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phục vụ các công trình phúc lợi
Công tác định giá đất ở Việt Nam đã được quy định trong các văn bản
sau:
• Nghị định 80/1993/NĐ-CP của Chính phủ ngày 06/11/1993 quy
định khung giá các loại đất để tính Thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền
khi giao đất, cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt
hại về đất khi thu hồi.
• Nghị định 87/1994/NĐ-CP của Chính phủ ngày 17/8/1994 quy
định khung giá các loại đất.
• Thông tư 94/1994/TT-LB của Chính phủ, Liên Bộ Tài chính - Xây
dựng - Tổng cục Địa chính - Ban vật giá Chính phủ ngày 14/11/1994
hướng dẫn thi hành Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 quy định khung giá
các loại đất;
• Nghị đinh 188/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 16 tháng 11 năm
2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;
•Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26 tháng 11 năm 2004 hướng
dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004
của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;
•Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 07 năm 2007 sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11
năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung các loại giá đất;
Nhóm 19 _ Quản lý đất đai K52C
Tiểu luận Định giá đất
2.3. Nguyên tắc định giá đất:
Để phù hợp với công tác định giá đất ở Việt Nam, hiện nay ngoài các
nguyên tắc chung đã nêu ở chương III, Điều 56 Luật Đất đai 2003 cũng quy
định việc định giá đất của Nhà nước phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
1. Sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị
trường trong điều kiện bình thường; khi có chênh lệch lớn so với giá chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường thì phải điều chỉnh cho
phù hợp;
2. Các thửa đất liền kề nhau, có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kết
cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử
dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau;
3. Ðất tại khu vực giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương, có điều kiện tự nhiên, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử
dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau.
Căn cứ vào nguyên tắc định giá đất (nêu trên), phương pháp xác định
giá đất và khung giá các loại đất do Chính phủ quy định, Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng giá đất cụ thể tại địa phương
trình Hội đồng nhân dân cùng cấp cho ý kiến trước khi quyết định.
2.4. Các phương pháp xác định giá đất:
Trước đây phương pháp xác định giá đất đã được quy định tại Thông
tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26 tháng 11 năm 2004 hướng dẫn thực hiện
Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương
pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
Hiện nay phương pháp xác định giá đất là theo Thông tư 145 /
2007/TT-BTC của Bộ tài chính ngày 06 tháng 12 năm 2007 hướng dẫn
Nhóm 19 _ Quản lý đất đai K52C
7
Tiểu luận Định giá đất
thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ
Thu nhập
thuần túy
hàng năm
=
Tổng thu nhập
hàng năm đã tính
ở Bước 1
-
Tổng chi phí
đã tính ở
Bước 2
d- Bước 4: Ước tính mức giá đất cần định giá theo công thức sau:
Giá đất
ước tính
=
Thu nhập thuần túy hàng năm thu được từ
thửa đất
Lãi suất tiền gửi tiết kiệm tiền đồng
Việt Nam kỳ hạn 12 tháng
3. Phương pháp chiết trừ
Khi áp dụng phương pháp chiết trừ để định giá đất cho mỗi loại đất
phải tiến hành các bước sau đây:
a- Bước 1: Thu thập thông tin trên thị trường để lựa chọn ít nhất 3 bất
động sản (bao gồm đất và tài sản trên đất) đã chuyển nhượng thành công,
mà thửa đất của các bất động sản đó có những đặc điểm tương tự với thửa
đất cần định giá (vị trí, hiện trạng, điều kiện kết cấu hạ tầng, đặc điểm pháp
lý, mục đích sử dụng, giá cả…).
Thời gian của những thông tin cần thu thập trên thị trường áp dụng
như hướng dẫn tại Bước 1 của Phương pháp so sánh trực tiếp.
Nhóm 19 _ Quản lý đất đai K52C
e- Bước 5: Xác định giá trị của thửa đất cần định giá
4. Phương pháp thặng dư
Khi áp dụng phương pháp thặng dư để định giá đất phải tiến hành các
bước sau đây:
a- Bước 1: Xác định mục đích sử dụng tốt nhất và hiệu quả nhất của
khu đất dựa vào các căn cứ sau:
- Đặc điểm của khu đất;
- Quy hoạch vùng, quy hoạch đô thị; quy hoạch và các quy định về
xây dựng; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cấp có thẩm quyền phê
duyệt;
b- Bước 2: Ước tính tổng giá trị phát triển của bất động sản.
Nhóm 19 _ Quản lý đất đai K52C
10
Tiểu luận Định giá đất
c- Bước 3: Ước tính tổng chi phí phát triển.
d- Bước 4: Xác định giá trị của thửa đất:
Giá trị ước tính của thửa
đất
= Tổng giá trị phát
triển
−
Tổng chi phí phát
triển
5. Điều kiện áp dụng các phương pháp xác định giá đất
5.1. Khi áp dụng các phương pháp xác định giá đất các thông tin, số
liệu cần thiết để tính toán đi đến kết luận về mức giá cụ thể đều phải thu
thập trên thị trường trong điều kiện bình thường, đồng thời phải phân tích,
lựa chọn các thông tin, số liệu chính xác và có độ tin cậy cao.
5.2. Trong trường hợp thu thập được đầy đủ thông tin, số liệu để có
thể áp dụng cả bốn phương pháp xác định giá đất, thì sử dụng phương pháp
nhiều điểm "vênh" so với các quy định của Luật Đất đai hiện hành. Đây là
nhận định của nhiều chuyên gia pháp lý. Điều quan trọng bây giờ là phải
nhận thấy những điểm "vênh" đó để sửa chữa đưa vào Dự thảo Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2010. Hy vọng rằng trong thời
gian tới Nhà nước sẽ có một hệ thống văn bản liên quan đến định giá đất rõ
ràng và thống nhất nhằm giúp cho công tác quản lý đât đai ngày một tốt
hơn.
Nhóm 19 _ Quản lý đất đai K52C
13