Công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng - Pdf 25

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ THU HỒNG
CÔNG CHỨNG CÁC VĂN BẢN
LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Minh Tuấn

HÀ NỘI - 2012

3
MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục
Đặc điểm của văn bản công chứng
15
1.1.3.3.
Giá trị pháp lý của văn bản công chứng
18
1.2.
Pháp luật Việt Nam về chế độ tài sản của vợ, chồng và việc
công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng
qua các giai đoạn
25
1.2.1.
Giai đoạn từ 1945 đến năm 1954
25
1.2.2.
Giai đoạn từ 1954 đến năm 1975
26
1.2.3.
Giai đoạn từ 1975 đến năm 2000
27
1.2.4.
Giai đoạn từ 2000 đến nay
31
4

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG TRONG VIỆC CÔNG CHỨNG CÁC VĂN BẢN
LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN CỦA VỢ, CHỒNG

2.1.5.
Công chứng việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ giao dịch
40
2.1.6.
Người được đề nghị Tòa án tuyên bố văn bản công chứng
vô hiệu
41
2.2.
Thủ tục công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của
vợ chồng
41
2.2.1.
Tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng
42
2.2.1.1.
Yêu cầu về kiến thức pháp luật
42
2.2.1.2.
Yêu cầu về kỹ năng
51
2.2.2.
Soạn thảo các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng
hoặc kiểm tra nội dung dự thảo văn bản
77
2.2.2.1.
Soạn thảo các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng
theo đề nghị của người yêu cầu công chứng
77
2.2.2.2.
Kiểm tra dự thảo văn bản liên quan đến tài sản của vợ,

quan đến tài sản của vợ chồng
95
3.2.2.
Sửa đổi, bổ sung pháp luật hôn nhân và gia đình có liên
quan đến việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản
của vợ chồng
107

KẾT LUẬN
114

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
116

6
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bên cạnh việc ghi nhận vợ, chồng có quyền sở hữu tài sản chung,
pháp luật Việt Nam hiện hành còn ghi nhận quyền sở hữu tài sản riêng của
mỗi người. Một trong những cách thức mà vợ, chồng có thể thực hiện khi
định đoạt tài sản chung hoặc tài sản riêng là yêu cầu công chứng các văn bản
thỏa thuận liên quan đến tài sản của vợ, chồng. Theo quy định tại Điều 6 Luật
Công chứng năm 2006 thì:
1. Văn bản công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên
liên quan; trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa
vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo

trình tự, thủ tục công chứng được quy định trong Luật Công chứng và các văn
bản pháp luật có liên quan.
Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng việc công chứng các văn bản liên quan
đến tài sản của vợ chồng ở nước ta thời gian qua đã có nhiều quan điểm, nhận
thức đánh giá khác nhau giữa các tổ chức hành nghề công chứng, giữa các
công chứng viên; và đến nay cũng chưa có sự hướng dẫn thống nhất từ phía
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điều đó dẫn đến tình trạng cùng một vụ
việc, có công chứng viên từ chối công chứng nhưng có thể lại có công chứng
viên khác thực hiện việc chứng nhận. Một trong những nguyên nhân dẫn đến
tình trạng đó là do Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Công chứng và
các văn bản hướng dẫn thi hành các luật này về lĩnh vực công chứng các văn
bản liên quan đến tài sản của vợ chồng còn chưa đầy đủ, chưa cụ thể, chưa
theo kịp với sự phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị
trường hiện nay.
Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau
liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng, nhưng chưa có công trình nào
nghiên cứu sâu và toàn diện về công chứng các văn bản liên quan đến tài sản
của vợ chồng. Thực tiễn đòi hỏi phải làm sáng tỏ hơn căn cứ để công chứng
8
viên thực hiện việc chứng nhận các văn bản liên quan đến tài sản của vợ,
chồng; đồng thời thực tiễn cũng đặt ra yêu cầu phải có sự phân tích, đánh giá
các quy định pháp luật hiện hành về công chứng các văn bản liên quan đến tài
sản của vợ chồng và thực trạng áp dụng các quy định này, từ đó đưa ra được
giải pháp khắc phục những bất cập, thiếu sót và tiếp tục hoàn thiện pháp luật
về việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng theo chủ
trương xã hội hóa hoạt động công chứng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Công chứng các văn bản liên quan đến tài

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa,
thực hiện xã hội hóa hoạt động công chứng, vấn đề công chứng các văn bản
liên quan đến tài sản của vợ chồng cần được làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận
và thực tiễn, làm cơ sở cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật về công
chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ nội dung các quy định của pháp luật về công chứng
các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng, thực tiễn thực hiện việc công
chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng, từ đó đánh giá, đưa ra
các kiến nghị, giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật liên
quan đến việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng
theo chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng mà Đảng và Nhà nước ta đã
đề ra trong giai đoạn hiện nay.
* Phạm vi nghiên cứu
Theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành thì có nhiều văn bản có
liên quan đến tài sản của vợ, chồng. Tuy nhiên phạm vi nghiên cứu của đề tài
chỉ đề cập đến việc công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ
chồng được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Công
chứng và các văn bản hướng dẫn thi hành các luật trên gồm:
- Công chứng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ, chồng
trong thời kỳ hôn nhân;
10
- Công chứng văn bản khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng;
- Công chứng văn bản nhập tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng
vào tài sản chung.
Ngoài ra, đề tài cũng đề cập đến hai loại văn bản phát sinh trong thực

viên thực hiện tốt hơn vai trò là "thẩm phán phòng ngừa" của mình. Do vậy,
những kiến nghị luận văn đưa ra có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn đối
với hoạt động công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng.
6. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình
nghiên cứu hoàn thiện các quy định pháp luật, góp phần nâng cao hoạt động
công chứng của các tổ chức hành nghề công chứng ở Việt Nam.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên
cứu và học tập cho các học viên các lớp đào tạo nghiệp vụ công chứng, môn
học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam. Luận văn cũng được sử dụng làm
tài liệu tham khảo cho các công chứng viên khi thực hiện việc chứng nhận các
văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về công chứng các văn bản liên quan đến
tài sản của vợ chồng.
Chương 2: Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng trong việc
công chứng các văn bản liên quan đến tài sản của vợ chồng.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về công chứng các văn bản liên quan
đến tài sản của vợ chồng theo yêu cầu xã hội hóa hoạt động công chứng.

12
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨNG
VÀ VIỆC CÔNG CHỨNG CÁC VĂN BẢN
LIÊN QUAN ĐẾN TÀI SẢN CỦA VỢ, CHỒNG

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội, góp phần phòng ngừa vi phạm pháp
luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa [10].
Từ khái niệm này cho thấy công chứng vẫn là hoạt động đặc thù chỉ
do nhà nước thực hiện, nhưng phạm vi công chứng đã thu hẹp lại, chỉ là việc
chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và các giấy tờ theo quy định của
pháp luật.
Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ về tổ chức và hoạt
động công chứng nhà nước (dưới đây gọi là Nghị định số 31/CP ngày
18/5/1996) đưa ra khái niệm công chứng như sau:
Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp
đồng và các giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là tổ chức), góp phần
phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa [11].
Như vậy, Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 đưa ra khái niệm "công
chứng" thay vì "công chứng nhà nước" như quy định tại các văn bản pháp luật
đã đề cập trước đó. Ngoại trừ điểm khác biệt đó, nội dung khái niệm "công
chứng" cũng tương tự như khái niệm "công chứng nhà nước" được nêu trong
Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991. Đến Nghị định số 75/2000/NĐ-CP
ngày 18/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực (sau đây gọi là
Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 18/12/2000) thì khái niệm "công chứng"
được ghi nhận tại khoản 1 Điều 2, theo đó:
Công chứng là việc Phòng Công chứng chứng nhận tính xác
thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập
14


15
10/10/1987, Điều 14 của Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991, Điều 17
Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996, Điều 30 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP
ngày 18/12/2000). Ngoài các tiêu chí trên, cùng với sự phát triển của hoạt
động công chứng, điều kiện để một người được bổ nhiệm công chứng viên
cũng ngày càng cao hơn. Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 (Điều 14),
Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 (Điều 17), Nghị định số 75/2000/NĐ-CP
ngày 18/12/2000 (Điều 30) đều đòi hỏi ngoài các điều kiện đã nêu, một người
muốn được bổ nhiệm công chứng viên còn phải đáp ứng điều kiện có thời
gian công tác pháp luật từ 5 năm trở lên; Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày
18/12/2000 còn đòi hỏi công chứng viên được bổ nhiệm phải có chứng chỉ tốt
nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng. Mặt khác, các văn bản pháp luật về
công chứng trước đó cũng đã có những quy định về việc công chứng viên
phải hoạt động chuyên trách không được kiêm nhiệm các công việc khác
(mục II.5 Thông tư số 276/TT-CC ngày 20/4/1991 của Bộ Tư pháp hướng dẫn
về tổ chức và quản lý công chứng nhà nước; Điều 17 Nghị định số 31/CP
ngày 18/5/1996 và Điều 29 Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 18/12/2000).
Luật Công chứng đã có sự kế thừa và phát triển các quy định trước
đây về công chứng viên. Điều 7 Luật Công chứng quy định "Công chứng viên
là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật này, được bổ nhiệm để hành
nghề công chứng" [42]. Khoản 1 Điều 13 Luật Công chứng quy định về tiêu
chuẩn công chứng viên là:
1. Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, trung thành
với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo
đức tốt và có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét, bổ nhiệm
làm công chứng viên: a) Có bằng cử nhân luật; b) Có thời gian công
tác pháp luật từ năm năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức; c) Có
Giấy chứng nhận tốt nghiệp đào tạo nghề công chứng; d) Đã qua
thời gian tập sự hành nghề công chứng; đ) Có sức khỏe bảo đảm

đồng, giao dịch
Công chứng viên có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động công
chứng. Tuy nhiên các văn bản pháp luật về công chứng trước đây chưa làm rõ
được vị trí của công chứng viên, thậm chí vai trò, vị trí của công chứng viên
17
bị lu mờ so với Phòng công chứng. Cách thức tổ chức Phòng công chứng nhà
nước trước đây khiến cho phần lớn người dân và các cơ quan, tổ chức coi
Phòng công chứng là chủ thể duy nhất của hoạt động công chứng, còn công
chứng viên chỉ là công chức làm việc trong Phòng công chứng giống như các
công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước khác.
Điều 2 Luật Công chứng quy định "Công chứng là việc công chứng
viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch" [42].
Khi chứng nhận hợp đồng, giao dịch, công chứng viên phải tuân theo các
nguyên tắc hành nghề công chứng được quy định tại Điều 3 Luật Công chứng
như: tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; khách quan, trung thực; chịu trách
nhiệm trước pháp luật về văn bản công chứng; tuân theo quy tắc đạo đức hành
nghề công chứng. Như vậy chủ thể thực hiện việc công chứng nói chung và
thực hiện việc chứng nhận các văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng
nói riêng là công chứng viên. Tuy nhiên trách nhiệm đặt lên vai các công
chứng viên là rất lớn bởi khi chứng nhận hợp đồng, giao dịch trong đó có các
văn bản liên quan đến tài sản của vợ, chồng, công chứng viên không chỉ đảm
bảo "tính xác thực" mà còn phải đảm bảo "tính hợp pháp" của các hợp đồng,
giao dịch đó. Bản thân công chứng viên phải chịu trách nhiệm về văn bản
công chứng do mình chứng nhận. Theo Giáo trình kỹ năng công chứng của
Học viện Tư pháp do Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2010 thì:
Công chứng viên có vai trò rất quan trọng, không chỉ xác
lập hợp đồng, giao dịch về mặt hình thức phù hợp pháp luật mà còn

viên còn phải đảm bảo tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch đó. Đây chính
là điểm khác biệt giữa trường phái công chứng hệ Latine (công chứng nội
dung) và công chứng hệ Anglosason (trường phái công chứng hình thức). Đối
với công chứng hệ Anglosason, việc công chứng được giao cho các luật sư,
hộ tịch viên hoặc cố vấn pháp lý của nhà thờ thực hiện. Khi công chứng, họ
chỉ chú trọng đến tính xác thực về mặt hình thức như: nhận diện đúng khách
hàng, xác định đúng thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, ghi lại sự kiện
pháp lý hoặc thỏa thuận của các bên mà không quan tâm đến việc xác định
tình trạng pháp lý của đối tượng hợp đồng, không quan tâm đến việc thỏa
thuận của các bên yêu cầu công chứng có phù hợp hay trái với các quy định
19
của pháp luật…Do vậy, những hợp đồng, văn bản được lập và chứng nhận bởi
các luật sư, hộ tịch viên hoặc cố vấn pháp lý của nhà thờ mang lại sự an toàn
pháp lý không cao, không được coi là chứng cứ trước Tòa án mà chỉ được coi
là nguồn chứng cứ nên vẫn cần phải điều tra, xác minh. Trong công chứng hệ
Latine, công chứng viên chỉ chứng nhận các hợp đồng, giao dịch hợp pháp và
được từ chối công chứng đối với những hợp đồng, giao dịch bất hợp pháp.
Luật Công chứng của nước ta quy định công chứng viên khi chứng nhận hợp
đồng, giao dịch là chứng nhận "tính hợp pháp" của các hợp đồng, giao dịch
đó. Công chứng viên "có quyền từ chối công chứng" đối với những hợp đồng,
giao dịch "có điều khoản vi phạm pháp luật" sau khi công chứng viên đã chỉ rõ
cho người yêu cầu công chứng sửa chữa nhưng họ không sửa chữa (khoản 5
Điều 35 Luật Công chứng).
Theo Giáo trình kỹ năng công chứng của Học viện Tư pháp do nhà
xuất bản tư pháp ấn hành năm 2010 thì việc đảm bảo tính xác thực và tính
hợp pháp trong văn bản công chứng "chính là việc công chứng viên đảm bảo
an toàn pháp lý cho hợp đồng, giao dịch, hạn chế tranh chấp, đạt hiệu quả tích

tên công chứng viên, tên tổ chức hành nghề công chứng; chứng nhận người
tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành vi dân
sự, mục đích, nội dung của hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật,
không trái đạo đức xã hội, đối tượng của hợp đồng, giao dịch là có thật, chữ
ký trong hợp đồng, giao dịch là đúng chữ ký của người tham gia hợp đồng,
giao dịch. Sau những nội dung trên, công chứng viên ký và đóng dấu của tổ
chức hành nghề công chứng vào văn bản công chứng.
1.1.3.2. Đặc điểm của văn bản công chứng
Văn bản công chứng có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, văn bản công chứng có tính chính xác về thời gian, địa điểm
công chứng và chủ thể tham gia hợp đồng, giao dịch.
Thời gian công chứng phải chính xác ngày, tháng, năm; trong một số
trường hợp như công chứng di chúc hoặc theo yêu cầu của người yêu cầu
công chứng, thời gian công chứng còn phải chính xác cả giờ, phút. Ngày,
21
tháng, năm chính xác vì đó là ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng, giao dịch;
là ngày, tháng, năm công chứng viên ký, là ngày, tháng, năm văn bản công
chứng có hiệu lực. Ngày, tháng, năm trong lời chứng của công chứng viên ghi
bằng chữ. Ngoài ra, các số liệu trong văn bản công chứng, sau phần ghi bằng
số phải ghi bằng chữ để tránh sai lệch hoặc sửa chữa.
Chính xác về thời gian công chứng, văn bản công chứng còn phải
chính xác về địa điểm công chứng. Điều 5 Luật Công chứng quy định: "Lời
chứng của công chứng viên phải ghi rõ thời gian, địa điểm công chứng" [42].
Theo quy định tại Điều 39 Luật Công chứng về địa điểm công chứng thì việc
công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng.
Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề
công chứng nếu người yêu cầu công chứng là người già yếu không thể đi lại

Thứ hai, văn bản công chứng chính thức hóa, công khai hóa các sự
kiện pháp lý. Đặc điểm này được thể hiện rất rõ ngay từ những văn bản đầu
tiên quy định về hoạt động công chứng (Thông tư số 574/QLTPK ngày
10/10/1987), theo đó công chứng nhà nước là một hoạt động của Nhà nước
"nhằm giúp công dân, các cơ quan, tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự
kiện pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự
kiện đó có hiệu lực thực hiện" [6]. Ý chí của các bên phải được thể hiện rõ
trong văn bản công chứng vì đây sẽ là cơ sở cho việc thực hiện hoạt động
công chứng. Điều 5 Luật Công chứng quy định trong lời chứng của công
chứng viên phải chứng nhận việc "người tham gia hợp đồng, giao dịch hoàn
toàn tự nguyện" và "đối tượng của hợp đồng, giao dịch là có thật". Theo quy
định tại khoản 4 Điều 35 Luật Công chứng thì trong trường hợp có căn cứ cho
rằng "việc giao kết hợp đồng, giao dịch có dấu hiệu bị đe dọa, cưỡng ép" hoặc
"có sự nghi ngờ đối tượng của hợp đồng, giao dịch là không có thật" thì "công
chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của
người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu
giám định; trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng" [42].
Thứ ba, văn bản công chứng là những văn bản phù hợp với pháp luật,
đạo đức xã hội. Sự phù hợp của nội dung văn bản công chứng với pháp luật,
đạo đức xã hội là điều kiện cơ bản, quan trọng để văn bản công chứng đó có
23
giá trị pháp lý. Do vậy, khi thực hiện việc công chứng, công chứng viên có
trách nhiệm xem xét các nội dung của hợp đồng, giao dịch có phù hợp với các
quy định của pháp luật hiện hành và đạo đức xã hội hay không. Khoản 5 Điều 35
Luật Công chứng quy định:
Công chứng viên kiểm tra dự thảo hợp đồng, giao dịch; nếu
trong dự thảo hợp đồng, giao dịch có điều khoản vi phạm pháp luật,

Tại các nước có hệ thống công chứng Latine (Pháp, Bỉ, Tây Ban Nha,
Hà Lan, Italia…), văn bản công chứng có giá trị chứng cứ và giá trị thi hành.
Các hợp đồng, giao dịch đã được công chứng thì có hiệu lực thi hành đối với
các bên trong hợp đồng, giao dịch đó và có hiệu với người thứ ba. Tại Pháp,
nếu chủ nợ có giấy chứng nợ là một văn bản công chứng được lập dưới hình
thức bản gốc, trong đó có ghi một phần nợ có thực và đã đến hạn phải trả thì
chủ nợ không phải mất thời gian đi đòi nợ, không phải kiện ra tòa án để đòi
nợ mà có thể trực tiếp yêu cầu con nợ thanh toán. Chủ nợ chỉ cần cung cấp
cho nhân viên thừa phát lại một bản sao có hiệu lực thi hành để nhân viên này
tiến hành thủ tục thi hành (kê biên tài sản của con nợ). Như vậy, giá trị thi
hành của văn bản công chứng thể hiện ở việc nếu một bên không thực hiện
nghĩa vụ của mình thì bên kia không cần phải kiện ra tòa án mà chỉ cần xuất
trình văn bản hợp đồng, giao dịch đã được công chứng đó cho cơ quan có
thẩm quyền (ví dụ, thừa phát lại) để cưỡng chế thi hành. Theo quy định tại
Điều 1319 của Bộ luật Dân sự Pháp, người nào đưa ra một văn bản công
chứng có bề ngoài hợp thức thì không phải chứng minh tính xác thực của của
nội dung văn bản đó. Người nào muốn phản đối tính xác thực của văn bản thì
phải chứng minh được cái sai trong văn bản đó thông qua một thủ tục rất phức
tạp gọi là thủ tục khởi kiện về hành vi giả mạo giấy tờ. Các nước có hệ thống
công chứng Latine đều ghi nhận việc văn bản công chứng có giá trị chứng cứ;
các tình tiết, sự kiện đã ghi trong hợp đồng, giao dịch được coi là chứng cứ
hiển nhiên trước tòa, không cần phải xác minh. Người muốn phản đối đối văn
bản đó phải khởi kiện trước tòa án phải có phải xuất trình được chứng cứ
chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Và chỉ có tòa án mới có thẩm
quyền bác bỏ hiệu lực của văn bản công chứng nếu có đủ chứng cứ. Điều đó
25
cho thấy văn bản công chứng có vai trò phòng ngừa, bảo đảm an toàn pháp lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status