TÁI cấu TRÚC NGÂN HÀNG và các vấn đề LIÊN QUAN đến tái cấu TRÚC NGÂN HÀNG tại VIỆT NAM - Pdf 23

BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
CƠ SỞ THANH HÓA- KHOA KINH TẾ
d&c
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG VÀ CÁC
VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN TÁI CẤU TRÚC NGÂN
HÀNG TẠI VIỆT NAM
Giáo viên hướng dẫn : LÊ ĐỨC THIỆN
Sinh viên thực hiện : LÊ THỊ HẠNH
Mã số sinh viên : 10021123
Lớp : CDTN12TH
Thanh Hóa, tháng 07 năm 2013

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của tôi. Những kết quả và các số liệu trong
chuyên đề tốt nghiệp được tìm hiểu qua các trang
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này.
Thanh Hoá, ngày 05 tháng 07 năm 2013
Tác giả
Lê Thị Hạnh
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ BIỂU ĐỒ
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CAR Tỷ lệ an toàn vốn
CTCK Công ty chứng khoán
CSTT Chính sách tiền tệ
ĐHCĐ Đại hội cổ đông
ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông
IAS Chuẩn mực kế toán quốc tế
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế

ngân hàng hoạt động yếu kém, hoạt động thị trường chưa hiệu quả thì việc tái cấu trúc là
một hướng đi tích cực nhưng đồng thời cũng không hề dễ dàng. Nhằm nghiên cứu những
vấn đề liên quan tới tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, rút ra các bài học kinh nghiệm từ
các trường hợp tái cấu trúc ngân hàng của các quốc gia, đồng thời nghiên cứu thực trạng
hệ thống ngân hàng Việt Nam, em chọn đề tài “ Tái cấu trúc ngân hàng và các vấn đề
liên quan đến tái cấu trúc ngân hàng tại Việt Nam” làm chuyên đề tốt nghiệp. Đề tài
cũng đề xuất một số giải pháp cần thiết cho việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng với
mong muốn hệ thống ngân hàng sẽ được hoàn thiện và vững mạnh hơn, đảm bảo cho việc
thực hiện mục đích chung của nền kinh tế.
Về nội dung, đề tài nghiên cứu tái cấu trúc hệ thông ngân hàng, các phương thức tái cấu
trúc hệ thông ngân hàng, các trường hợp tái cấu trúc ngân hàng trên thế giới và ở Việt
Nam, thực trạng ngân hàng Việt Nam và trên cơ sở đó đề xuất giải pháp cho vấn đề này.
Về không gian, đề tài nghiên cứu trên địa bàn cả nước. Về thời gian, đề tài nghiên cứu
giới hạn hoạt động của Chính phủ và các ngân hàng trong giai đoạn sau khủng hoảng tài
chính đến nay.
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc tái cấu trúc ngân hàng trong nền kinh
tế hiện nay và được sự hướng dẫn của thầy giáo Lê Đức Thiện nên em đã chọn đề tài này
làm bài chuyên đề tốt nghiêp của mình với mục đích chính là đề xuất một số giải pháp
nhằm nâng cao việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.
Dựa trên những mục tiêu và định hướng của đề tài, ngoài phần mở đầu và kết luận, đề
tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề liên quan tới tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
Chương 2: Những bài học về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của các nước trên thế giới
và các vấn đề tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay
Chương 3: Giải pháp nâng cao tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay.
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN TỚI TÁI CẤU TRÚC NGÂN HÀNG
1.1. Khái niệm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng
Ngân hàng là một thành phần quan trọng của nền kinh tế, vì vậy việc tái cấu trúc ngân
hàng phỉ được nhìn nhận trên phương diện tổng thể. Nội dung và trọng tâm trong tái cấu
trúc ngân hàng không chỉ cần được xem xét từ góc độ từng ngân hàng, mà còn từ góc độ

trình tăng trưởng bền vững cho quốc gia. Sự thay đổi có tầm ảnh hưởng quyết định đến
sự thành bại của tái cấu trúc hệ thống ngân hàng lại nằm ở phía Chính phủ nói chung và
NHTW nói riêng.
1.2. Nguyên nhân thực hiện tái cấu trúc ngân hàng
Hệ thống TCTD của Việt Nam đã phát triển rất mạnh mẽ kể từ đầu thập niên 90 của
thế kỷ XX đến nay và đã có những đóng góp rất lớn vào sự phát triển của đất nước với
tổng tài sản gấp 2 lần so với GDP, trong đó tổng vốn tín dụng cho nền kinh tế đã tăng rất
nhanh và lên dến 125% GDP vào cuối năm 2010. Hệ thống các TCTD nói chung, hệ
thống các NHTM nói riêng đã đẩy mạnh hoạt động huy động vốn và trở thành nguồn
cung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế,cả về vốn ngắn hạn cũng như trung và dài hạn, cả
vốn bằn VND cũng như vốn bằng ngoại tệ. Một số NHTM và TCTD lớn đã vươn lên
thành lập tập đoàn tài chính với quy mô vốn điều lệ tương đương lên đến hàng trăm triệu
USD, hàng loạt hoạt động đầu tư trong các lĩnh vực như chứng khoán, bất động sản, bảo
hiểm, vàng, ngoại tệ, cho thuê tài chính,… thông qua hàng trăm chi nhánh, sử dụng hàng
vạn lao động, thành lập nhiều công ty con,… đạt lợi nhuận mỗi năm tới hàng ngàn tỉ
đồng, kể cả trong nền kinh tế khó khăn những năm 2009, 2011.
Một nền kinh tế có thể chỉ khoẻ mạnh khi được hỗ trợ bởi một hệ thông ngân hàng
khoẻ mạnh. Trước diễn biến của khủng hoảng tài chính toàn cầu và những khó khăn nội
tại của nền kinh tế thì việc tái cấu trúc ngân hàng một các toàn diện là việc làm cần thiết.
Nếu hệ thống ngân hàng rơi vào khủng hoảng sẽ kéo theo nguy cơ khủng hoảng của kinh
tế xã hội hoặc một ngân hàng lớn bị rơi vào khủng hoảng có nguy cơ lan rộng ra toàn hệ
thống. Nền kinh tế của một quốc gia khó có thể phát triển ổn định và lành mạnh khi hệ
thống ngân hàng nhiều bất ổn và hoạt động kém hiệu quả.
Nhu cầu cấu trúc trở nên cần thiết hơn khi hiện trạng của các ngân hàng gặp nhiều
vấn đề trong cơ cấu, hoạt động khiến ngân hang hoạt động không hiệu quả; thậm chí trì
trệ, vốn yếu, thiếu hụt thanh khoản và chất lượng tài sản suy giảm đứng trước nguy cơ tan
rã, phá sản… những vấn đề trên xuất phát từ những yếu kém nội tại của hệ thống ngân
hàng. Nhiều nguyên nhân là do cơ cấu sai, không hợp lý cụ thể: không xác định được
chiến lược và kế hoạch, đội ngũ lãnh đạo làm việc không chất lượng, công cụ kiểm soát
rủi ro cần thiết, quản trị nguồn nhân sự kém,… Ví dụ như sự phát triển nhanh chon dễ dãi

với hệ thống ngân hàng.
Thứ tư, tối thiểu hoá chi phí tái cấu trúc đối với NHTW. Song song với những mục
tiêu củng cố sức mạnh cho hệ thống ngân hàng thì việc tái cơ caauscungx nhằm mục đích
giảm thiểu tới mức nhỏ nhất các chi phí liên quan đến NHTW, để mang lại hiệu quả cao
nhất cho quá trình tái cấu trúc.
1.3.2. Các mục tiêu dài hạn
Thứ nhất, tạo ra một khuôn khổ quản lý nhà nước mới, phát triển phương cách qunr
trị theo hướng phù hợp hơn chuẩn mực quốc tế, ngày càng đáp ứng đủ các yêu cầu của
nền kinh tế. Theo đó, cần phải đảm bảo các nguyên tắc khi cho vay của ngân hàng
khuyến khích các nguồn vốn mới.
Thứ hai, xây dựng tính cạnh tranh và khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng để
có thể đạt các chuẩn mực của quốc tế, tăng cường sức mạnh nội tại của ngân hàng, chống
lại các mầm móng bất ổn và khủng hoảng.
Thứ ba, tăng cường cơ sở hạ tầng tổng thể của hệ thống tài chính, góp phần thúc đẩy
hệ thống tài chính phát triển,tạo cơ sở cho việc ổn định lâu dài của toàn bộ nền kinh tế.
Đồng thời góp phần nâng cấp việc tiếp cận các dịch vụ tài chính
1.4. Điều kiện thực hiện tái cấu trúc thành công
Việc cơ cấu lại chỉ thực sự cần thiết khi hoạt động của các TCTD đi chệch khỏi chức
năng cơ bản của chúng trong nền kinh tế hoặc có những trục trặc nảy sinh gây mất an
toàn hoặc nguy cơ đổ vỡ có tính hệ thống
Việc tái cấu trúc cần nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau và cần trả lời được câu
hỏi tại sao phải cấu trúc, tái cấu trúc khía cạnh nào, các ngân hàng sẽ hoạt động như thế
nào sau quá trình tái cấu trúc, các ngan hàng sẽ xử lý khoản nợ xấu như thế nào… Điều
quan trọng của quá trình tái cấu trúc là phải thiết lập được môt tiêu chí rõ ràng, đưa ra
những kỉ cương của nhà nước, kỷ luật của thị trường cần được triển khai thận trọng trên
nguyên tắc tư nguyện với lộ trình và bước đi cụ thể, thích hợp. Phải nhìn vào từng trường
hợp rõ ràng để tìm ra giải pháp.
Phải có khuôn khổ pháp lý phù hợp cho phép chính phủ có thể can thiệp nhằm đảm bảo
rằng hệ thống bảo hiểm tiền gửi có đủ vốn để xử lý khủng hoảng và có thể sử dụng nhanh
chóng và hiệu quả, bên cạnh đó can thiệp vào các ngân hàng mất khả năng thanh toán,

Yêu cầu các ngân hàng có vấn đề về vốn tự có phải tăng vốn hoặc sáp nhập
Cung cấp bảo lãnh các khoản vay liên ngân hàng
Lập quỹ tái cấu trúc và tái đầu tư vào ngân hàng khi không tự tăng được vốn. Với quỹ tái
cấu trúc NHTW có thể mua lại cổ phần của các ngân hàng có mức vốn dưới tỷ lệ an toàn
Đề xuất lên Chính phủ việc nới lỏng tỷ lệ sở hữu nước ngoài cho một số ngân hàng
Đưa ra khung pháp lý để các ngân hàng có thể mua, bán nợ xấu và nợ dưới tiêu chuẩn
1.5.2. Xử lý nợ khó đòi hay nợ không hiệu quả
NHTW cần phải rà soát lại tỷ lệ nợ xấu và mức dự phòng rủi ro tín dụng một cách kỹ
lưỡng để có thể xác định chính xác, kịp thời các vấn đề nảy sinh, để NHTW có thể kịp
thời có nhiều phương pháp xử lý.
1.5.4. Tái cấp vốn
Biện pháp tái cấp vốn có thể được thực hiện dưới các hình thức sau:
Chính phủ bơm vốn hoặc mua cổ phiếu để nnawms quyền quản lý
Sâp nhập ngân hàng với nhau,trong nước với nước ngoài, hay giữa các ngân hàng trong
nước với nhau
Thay đổi cơ cấu sở hữu đối với các ngân hàng được tái cấu trúc
1.5.5. Xử lý nợ doanh nghiệp
Nợ của các NHTM có thể mua và bán thông qua các công ty mua bán nợ. Trên thế
giới cóhai loại hình công ty mua bán nợ tập trung ở cấp độ quốc gia và công ty mua bán
nợ của NHTM. Đối với công ty mua bán nợ cấp quốc gia cũng có hai dạng: một loại
được thành lập để xử lý nhanh nợ xấu của ngân hàng, loai còn lại được sử dụng lâu dài để
hỗ trợ tái cơ cấu doanh nghiệp.
Để mua bán nợ đạt hiệu quả, đòi hỏi phải có môi trường pháp lý hiệu quả, hoạt động của
các ngân hàng phải được minh bạch, công khai, tạo niềm tin cho thị trường. Đồng thời,
cần phân định rõ trách nhiệm của các bên liên quan cũng như điều kiệnđể mua lại nhằm
tránh tình trạng các NHTM dồn hết nợ xấu cho NHTW.
1.5.6. Đổi mới quản trị, công nghệ và nhân lực
Để nâng cao chất lượng quản lý của các ngân hàng, việc thay đổi phương thức quản lý
thật sự cần thiết. Với yêu cầu ngày càng cao trong vấn đề quản trị ngân hàng, đòi hỏi mỗi
ngân hàng cần phải có mô hình tổ chức thích hợp cũng như khả năng quản trị, hoạch định

tình trạng thiếu thanh khoản và có tài sản xấu chiếm tỷ trọng lớn, số lượng ngân hàng
hoạt động hiệu quả để có khả năng mua lại, thâu tóm ít hơn nhiều so với số lượng các
ngân hàng yếu kém. Điều này cũng ảnh hưởng tới an ninh tài chính – tiền tệ quốc gia.
Thứ sáu, rủi ro mất niềm tin đối với hệ thống ngân hàng, do những ngân hàng thuộc
sở hữu nhà nước có thể có cơ chế bảo lãnh ngầm đối với người gửi tiền. Trong khi đó,
các ngân hàng tư nhân không được đảm bảo có thể khiến luồng tiền ồ ạt rút khỏi những
ngân hàng này, hoặc việc Chính phủ đóng cửa một số ngân hàng này, hoặc việc Chính
phủ đóng cửa một số ngân hàng có thể tạo ra nghi ngờ về sự lành mạnh của những ngân
hàng khác hệ thống.
Biểu đồ 1.1: Những khó khăn thách thức đối với tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại
VN
Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng là quá trình phân bổ lại các nguồn lực tài chính, nhân
lực, tổ chức, công nghệ quản lý…;thể chế và cấu trúc sở hữu tài sản nhằm làm cho hệ
thống hoạt động vững mạnh, tăng khả năng tiếp cận của người dân và doanh nghiệp, đặc
biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với các dịch vụ của ngân hàng, tạo tiền đề cho sự
phát triển của hệ thống nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung. Động cơ dẫn đến tái
cấu trúc do ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng tài chính kinh tế, nợ xấu của ngân hàng
gia tăng, khả năng thanh khoản thấp, trung gian tài chính không hiệu quả voà khuôn khổ
pháp lý, giám sát không hiệu quả. Bên cạnh đó,sự mất lòng tin vào hệ thống ngân hàng
của công chúng cũng là một trong những nguyên nhân của tái cấu trúc. Việc thực hiện tái
cấu trúc hưởng tới nhiều mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhưng trọng tâm nhất là
duy trì sự ổn định và tăng cường các chức năng của hệ thống ngân hàng, tạo lòng tin nơi
công chúng cũng như góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Để thực hiện việc tái cấu trúc
hệ thống ngân hàng, các quốc gia cần phải xem xét các điều kiện để việc tái cấu trúc diễn
ra thành công. Từ đó lựa chọn ra các phương pháp tái cấu trúc phù hợp trên nguyên tắc
cân nhắc giữa lợi ích với những khó khăn và rủi ro trước, trong và sau khi tái cấu trúc.
Chương 2: Những bài học về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của các nước trên thế
giới và các vấn đề tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay
2.1. Những bài học về tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của các nước trên thế giới
2.1.1. Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại Trung Quốc

có thể tăng lên một cách nhanh chóng. Đặc biệt, đối với các công ty uỷ thác đầu tư, vốn
của họ không được tăng trong thời gian dài trong khi tích tụ thêm các khoản lỗ và nợ xấu.
b. Thực hiện sáp nhập
Từ 1995 đến 1998, hơn 2000 hợp tác xã tín dụng thành thị được sáp nhập vào 88
NHTM cấp thành phố theo các nguyên tắc: đánh giá tài sản và vốn, xoá các khoản nợ
xấu, ước tính khoản đóng góp và khuyến khích sự tham gia của các cổ đông mới. Tuy
nhiên giải pháp này vẫn chưa có trường hợp nà thành công. Do hoạt động yếu kém của
các hợp tác xã tín dụng thành thị trước đó, 88 NHTM mới đã có khoản nợ xấu lớn và bị
thua lỗ nặng nề, và một số rơi vào tình trạng khủng hoảng thanh toán. Để giảm thiểu rủi
ro, Chính phủ đã được thực hiện kế hoạch cắt giảm số lượng NHTM cấp thành phố tư
239 xuống còn 60 thông qua biện pháp sáp nhập.
c. Đóng cửa, giải thể và cho phá sản
Trong 2 năm 1997 và 1998, 1 NHTM mất khả năng thanh toán và 3 công ty đầu tư và
uỷ thác đã bị đóng cử tại TQ, các khoản nợ của 4 định chế này lên đến 120 tỷ nhân dân tệ
d. Xử lý nợ xấu của các NHTM
Tại TQ khi đó, số lượng nợ xấu của các NHTM là rất lớn, chiếm tỷ trọng từ 6-7%
trên tổng dư nợ. Theo quy chế của Bộ tài chính đề ra khi đóthì chỉ 1% dư nợ của năm
trước liền kề phải được trích ra làm việc dự phòng cho việc xoá đi các khoản nợ xấu
của năm hiện hành. Kết quả là các khoản trích lập dự phòng rủi ro rất nhỏ. Năm 1998,
TQ thông báo bắt đầu áp dụng các quy tắc, quy định, định mức và tỷ lệ an toàn theo
chuẩn mực của Ngân hàng Thanh toán Quốc tế, tỷ lệ an toàn vốn được nâng lên 8%,
những quy định mới về khoản vay. Nhờ đó, toàn cảnh về số nợ dưới tiêu chuẩn trở
nên rõ rang hơn và hình thành kế hoạch làm sạch bảng cân đối của các NHTM.
Tháng 4/1999, 4 công ty quản lý tài sản được thành lập để xử lý toàn bộ số nợ xấu và
dưới tiêu chuẩn ước tính lên 670 tỷ nhân dân tệ cho các NHTMNN và tiếp sau đó
thêm 3 công ty nữa đã ra đời. Họ chịu trách nhiệm tách bạch các khoản nợ xấu ra khỏi
các NHTMNN, những công ty này được giao toàn quyền ngoại lệ đặc biệt để xử lý,
mua lại nợ xấu, thậm chí đầu tư và sinh lời từ công ty đó.
Bên cạnh đó số nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước chiếm tới 70% tổng dư nợ
trong hệ thống ngân hàng được đưa ra ngoài bảng cân đối để xử lý. Sau đó, Chính phủ

khuôn khổ điều tiết linh hoạt, đảm bảo cho các ngân hàng phát triển ổn địnhtrong môi
trường hoạt động liên tục thay đổi và độ mở ngày càng tăng.
h. Chấp nhận sự hiện diện của ngân hàng nước ngoài
Chính phủ TQ đã triển khai việc cơ cấu lại hoạt động ngân hàn một cách linh hoạt
theo hướng tìm kiếm sự trợ giúp các ngân hàng yếu kém từ ngân hàng nước ngoài một
cách thận trọng. Mặc dù các ngân hàng nước ngoài có những lợi thế nhất định, nhưng chấ
nhận các ngân hàng này gia nhập thị trường TQ đã phải chuẩn bị một nền tảng vững chắc
cho công tác thanh tra, giám sát. Hơn nữa, các ngân hàng nước ngoài được phép gia
nhập thị trường phải tập trung nguồn lực tín dụng cho các ngành chủ chốt của nền kinh
tế, đồng thời tuân thủ quy định về giới hạn hoạt động một vài lĩnh vực chính yếu.
Từ những biện pháp trên, chúng ta có thể thấy ngành tài chính TQ không bị ảnh
hưởng nhiều bởi cuộc khủng hoảng đang diễn ra hiện nay trên thế giới là nhờ tiến trình
tái cấu trúc ngân hàng mà Chính phủ nước này đã thực hiện kịp thời. TQ đã vạch ra kế
hoạch tổng thể và đồng bộ, gắn việc tái cấu trúc ngân hàng với tiến trình tái cấu trúc hệ
thống doanh nghiệp nhà nước, tiến hành tái cơ cấu các khoản nợ của doanh nghiệp này,
chuyển đổi mô hình kinh doanh ngân hàng, tăng cường chất lượng quản trị, giám sát
tổng thể thị trường tài chính, tiếp tục áp dụng kinh nghiệm của nước khác một số cách
chọn lọc….
2.1.2. Tái cấu trúc ngân hàng tại Nhật Bản
2.1.2.1. Bối cảnh
Việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của Nhật Bản được triển khai vào năm 1998,
thời kỳ trì trệ kinh tế kéo dài của NB. Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ sự phát triển
bong bóng đầu cơ trong những năm 1980, khi các nhà đầu tư rót tiền ồ ạt vào thị trường
bất động sản và thị trường chứng khoán. Cùng với đó, sự tư do hoá thị trường khiến cho
nguồn đầu tư vào NB tăng kéo theo nhu cầu về văn phòng ở trung tâm thành phố. Từ
năm 1981-1991, giá đất 6 thành phố lớn của NB tăng 500 lần. Sau khi bong bóng nổ, giá
đất này sụt, tốc độ tăng trưởng kinh tế Nhật giảm mạnh. Năm 1995 bắt đầu xuất hiện sự
sụp đổ của các ngân hàng địa phương và các quỹ tín dụng. Trong nước bắt đầu xuất hiện
tình trạng thận trọng khi cho vay, ở nước ngoài thì gặp khó khăn trong việc huy động vốn
ngoại tệ. Trong khi đó, Chính phủ Nhật khá chậm trễ trong việc đưa ra các vấn đề giải

ngân hàng khác hoặc cắt giảm quy mô hoạt động
e. Chia nhỏ nhóm ngân hàng để tái cấu trúc
Chính phủ Nhật đã phân loại các ngân hàng trong nước thành 2 nhóm: nhóm thứ nhất
là các ngân hàng cho vay lành mạnh, sắp giải quyết dứt điểm các khoản nợ khó đòi;
nhóm thứ hai là các ngân hàng đang phải vật lộn với nợ xấu. Mặc dù quy mô ccuar nhóm
thứ nhất nhỏ hơn rất nhiều so với nhóm tư hai, song đó là nơi tập trung những ngân hàng
khổng lồ khoẻ mạnh nhất, là điểm tựa cho quá trình phục hồi toàn bộ hệ thống.
Sự phân chia này, theo các nhà phân tích, sẽ tạo ra các phân cực rõ ràng, nhất là trong
hoạt động kinh doanh chứng khoán, mà kết quả của sự phan cực này các ngân hàng nhỏ
sẽ càng khó khăn hơn trên thị trường chứng khoán. Ngoài ra cac ngân hàng còn thành lập
các liên minh.
Các chính sách để cứu trợ hệ thống ngân hàng Nhật trong năm 1998 đã được ban
hành liên tục, cho thấy Chính phủ Nhật đã thừa nhận sự yếu kemstrong hệ thống đó và
cũng chứng tỏ đây là điểm nóng nhất và quyết tâm của Chính phhur trong việc cải cách
hệ thống tài chính đất nước
2.1.3. Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng tại Thái Lan
2.1.3.1. Bối cảnh
Nguyên nhân khủng hoảng và những bất cập trong hệ thống ngân hàng ở Thái Lan là
do khủng hoảng tài chính Châu Á và những điểm yếu trong chính sách mà Chnhs phủ
Thái Lan đa áp dụng. Chất lượng tín dụng rất thấp, nợ xấu chiếm 7,2% trên tổng dư nợ
vào năm 1995 tăng lên 11,6% năm 1997. Với sự yếu kém trong chuẩn mực kế toán. Bên
cạnh đó các ngân hàng còn có tình trạng thiếu vốn. Nhưng do các ngân hàng chưa trích
lập dự phòng rủi ro đầy đủ cho các danh mục tín dụng của mình do chưa có quy định nào
về trích lập dự phòng rủi ro để phân loại tín dụng, nên chỉ số an toàn vốn do các ngân
hàng báo cáo không phản ánh được các thự tế mức độ an toàn vốn tại các ngân hàng. Lãi
suất đối với các khoản nợ quá hạn tiếp tục được luỹ kế, tổi phồng thu nhập của ngành tài
chính, khiến các ngân hàng và các công ty tài chính vẫn tiếp tục trả được cổ tức, hoa
hồng và thuế dựa trên những khoản lợi nhuận không tồn tại, dẫn đến việc mất vốn ngày
càng trầm trọng hơn. Ngoài ra, tín dụng vẫn tập trung vào bất động sản, trong đó, cho vay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status