LỜINÓIĐẦU
Vấn đề tiền lương luôn là vấn đề quan trọng của mọi thời đại, tiền lương
chính là giá cả của sức lao động vì vậy mà nó gắn liền với mọi phương thức sản
xuất và các hình thức kinh tế. Đặc biệt dưới chủ nghĩa tư bản thì tiền lương là
phương tiện, là cái để thấy rõ nhất bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Việc phân
tích tiền lương trong chủ nghĩa tư bản sẽ vạch trần được bản chất bóc lột của chủ
nghĩa tư bản, nóđược biểu hiện bề ngoài là công nhân bán lao động và toàn bộ lao
động được trả công, công nhân không bị bóc lột. Để làm rõ sự nhầm lẫn về bản
chất và hiện tượng bóc lột của chủ nghĩa tư bản thì lí luận về tiền công sẽ là sự bổ
sung và hoàn chỉnh. Nó giúp ta hiểu rõ hơn dã tâm và sự che đậy bóc lột của chủ
nghĩa tư bản. Để hiểu một cách thấu đáo kĩ càng hơn về vấn đề này mà em đã chọn
“tiền lương” làm chủđề cho bài tiểu luận của mình.
1
Phần Nội dung
I. BẢNCHẤTKINHTẾCỦATIỀNLƯƠNGDƯỚICHỦNGHĨATƯBẢN
1. Định nghĩa về tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản
Công nhân làm việc cho nhà tư bản một thời gian nào đó, sản xuất ra một
lượng hàng hoá nào đó thì nhận được một số tiền công nhất định. Tiền trả công đó
gọi là tiền lương. Hiện tượng đó làm cho người ta lầm tưởng rằng tiền công là giá
cả sức lao động. Sự thật thì tiền công không phải là giá cả hay giá trị sức lao động.
Vì lao động không phải là hàng hoá và không thể làđối tượng mua bán.sở dĩ như
vậy là vì:
- Nếu lao động là hàng hoá thì nó phải có trước,phải được vật hoá trong hình
thức cụ thể nào đó. Tiền để cho lao động có thể vật hoáđược là phải có tư liệu sản
xuất. Nhưng người lao động có tư liệu sản xuất thì họ sẽ bán hàng hoá do mình sản
xuất,chứ không bán “lao động”.
- Việc thừa nhận lao động là hàng hoá dẫn tới một trong hai mâu thuẫn về lí
luận sau đây: nếu lao động là hàng hoá vàđược trao đổi ngang giá, thì nhà tư bản
không thu được lợi nhuận<giá trị thặng dư>;điều này phủ nhận sự tồn tại thực
teescuar quy luật giá trị thặng dư của chủ nghĩa tư bản. còn nếu hàng hoáđược trao
đổi không ngang giáđể có giá trị thặng dư cho nhà tư bản, thì sẽ phủ nhận quy luật
nhà tư bản phải trả khi mua và Giá trị mà sức lao động đó có thể tạo ra cho nhà tư
bản là hai đại lượng khác nhau mà nhà tư bản đã tính đến điều đó trước khi mua
sức lao động. Nhà tư bản đã trả tiền mua sức lao động cả ngày. vậy việc sử dụng
sức lao động trong ngày đó thuộc về nhà tư bản. Chẳng hạn, nhà tư bản bắt công
nhân lao động 12 giờ trong một ngày.
3
Chi phí sản xuất Giá trị của sản phẩm mới<20 kg sợi>
Tiền mua bông là 20 đô la
Hao mòn máy móc là 4 đô la
Tiền mua sức lao động trong
một ngày là 3 đô la
Giá trị của bông được chuyển vào sợi 20đô la
Giá trị của máy móc được chuyển vào sợi là 4
đô la
Giá trị do lao động của công nhân tạo ra 12 giờ
lao động là 6 đô la
Cộng: 27 đô la Cộng: 30 đô la
Như vậy toàn bộ chi phí nhà tư bản để mua tư liệu sản xuất và sức lao động
là 27 đô la. Trong 12 giờ lao động, công nhân tạo ra một sản phẩm mới<20 kg
sợi>có giá trị bằng 30 đô la, lớn hơn giá trịứng trước là 3 đô la. Vậy 27 đô la ứng
trước chuyển hoá thành 30 đô la,đãđem lại một giá trị thặng dư là 3 đô la. Nhà tư
bản sẽ chiếm không phần dôi ra này. phân tích giá trị sản phẩm được sản xuất
ra<20 kg sợi>, chúng ta thấy:
-Giá trị những tư liệu sản xuất nhờ lao động cụ thể của người công nhân
màđược bao tồn và di chuyển vào giá trị của sản phẩm mới <sợi> gọi là giá trị cũ
-Giá trị do lao động trừu tượng của công nhân tạo ra trong quá trình lao động
<trong ví dụ trên là 6 đô la>. Phần giá trị mới này lớn hơn giá trị sức lao động,nó
bằng giá trị sức lao động cộng thêm giá trị thặng dư.
Vậy giá trị thặng dư là giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công
nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.