Các vấn đề liên quan đến quản lý và phát triển đô thị - Pdf 13

Chìa khóa để tìm hiểu và hành động
Các thành phố
đang phát triển
www.villesendevenir.org
Chìa khóa để tìm hiểu và hành động
Các thành phố
đang phát triển
Các thành phố đang
phát triển
Chìa khóa để tìm hiểu và hành động
Các đô thị đã thay đổi. Là nơi sinh sống của 50% dân số trên trái đất, đô thị trở thành
một trong những thách thức lớn của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực phát triển kinh tế
và xã hội cũng như đối với tương lai của thế giới.
Không thể phủ nhận rằng nhân loại hiện nay đang ở vào giai đoạn chưa từng có trong
lịch sử, giai đoạn bùng nổ đô thị kết hợp với gia tăng dân số. Hiện nay, tốc độ tăng dân
số đô thị là 1,9%/năm, tương đương với một thành phố với 160.000 dân xuất hiện trên
trái đất mỗi ngày.
Ở các quốc gia đang phát triển, đô thị có nhiều đặc trưng rất khác nhau: đô thị mật độ
cao ở Châu Á và Trung Đông, đô thị trải rộng ở Nam Mỹ và đô thị mang tính nông thôn
ở Châu Phi. Một số thành phố rất năng động về kinh tế, trong khi một số khác lại không
có động cơ tăng trưởng.
Tuy nhiên, tình hình phát triển hiện nay chứng minh rõ ràng rằng đô thị là những đầu
tàu chính của sự phát triển: hệ thống công trình giao thông và cơ sở hạ tầng được xây
dựng tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và tiếp cận văn hóa, hình thức tiếp cận dịch
vụ cơ bản ở đô thị phong phú hơn và nguồn thu nhập ở đô thị cũng đa dạng hơn. Vì
tình hình hiện nay ở các đô thị làm cho thách thức này ngày càng lớn hơn, nên cần phải
hiểu được sự vận hành ở cấp địa phương cũng như toàn cầu để có thể cải thiện nó.
Mười hai chủ đề được đề cập trong quyển sách này, chia thành hai phần chính và có
thể đọc một cách riêng rẽ. Phần đầu đề cập đến những kiến thức và vấn đề liên quan
đến quản lý đô thị, phần hai nói về những vấn đề chính của phát triển đô thị (nhà ở,
dịch vụ cơ bản, giao thông, an ninh, nguy cơ và di sản). Chương cuối đề cập đến các

75700 Paris 07 SP –
France
www.diplomatie.gouv.fr
C quan Phát trin
Pháp (AFD)
5, rue Roland
Barthes
75598 Paris Cedex
12
France
www.afd.fr
Vin Khoa hc – K
thut C s h tng
và Môi trng vì s
Phát trin (ISTED)
La Grande Arche
Paroi Nord
92055 La Defense
Cedex
France
www.isted.com
ISBN 2.86815.059.4
Các thành phố đang phát triển
Chìa khóa để tìm hiểu và hành động
Dissemination:
Trung tâm D báo và
Nghiên cu Đô th
(PADDI)
D án Đào to
Chuyên ngành Đô th

đọc có thể hiểu rõ hơn các vấn đề ở đô thị thông qua 12 chủ đề được trình
bày trong quyển sách với những phương pháp và kinh nghiệm về lĩnh vực
đô thị cũng như danh mục các trang web của các tổ chức và cơ quan chủ
chốt tham gia vào các lĩnh vực này.
Cuốn sách được chia thành 2 phần, phần đầu đề cập về những kiến thức và
những vấn đề liên quan đến quản lý đô thị, phần hai nói về những vấn đề
chính của phát triển đô thị. Cuối quyển sách là phần đề cập đến các mối quan
hệ hợp tác giữa các thành phố, yếu tố đang đóng vai trò ngày càng quan
trọng trong cơ chế hợp tác của Pháp và của các tổ chức quốc tế.
Dominique Bureau
Cục trưởng Cục Kinh tế và Quốc tế (DAEI)
Bộ Sinh thái, Phát triển và Quy hoạch bền vững
Lời mở đầu
5
4
Các thành phố đang phát triển, Bản tiếng Pháp
Ban chỉ đạo
Bộ Sinh thái, Phát triển và Quy hoạch bền vững
Cục kinh tế và quốc tế (DAEI): Thierry Desclos
Tổng cục quy hoạch đô thị, nhà ở và xây dựng
(DGUHC): Francine Gibaud
Cơ quan quy hoạch đô thị, xây dựng và kiến trúc
(PUCA): Anne Querrien
Isted
Xavier Crépin, Anne Charreyron-Perchet,
Isabel Diaz, Anne Baron
Bộ Ngoại giao và Châu Âu
Tổng cục hợp tác quốc tế và phát triển (DGCID):
Olivier Mourareau
Cơ quan Phát triển Pháp

Mục lục
Mô tả đô thị 16
Yêu cầu trước tiên của mọi động thái cải thiện công tác quy hoạch, quản
lý và rộng hơn là điều hành đô thị ở các thành phố đang phát triển là phải
xác định rõ địa bàn bị ảnh hưởng nhằm nắm rõ hơn những thách thức trên
địa bàn.
Tokyo
Bombay
Delhi
Calcutta
Shanghai
Jakarta
Dakha
Osaka-Kobe
Karachi
Pékin
u
Manille
Điều hành đô thị 22
Trên thế giới, xu hướng phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương đã làm
tăng vai trò của chính quyền đô thị. Nhưng, những yếu tố quyết định đến hiệu
quả của công tác quản lý ở địa phương gắn liền với các đặc điểm văn hóa
chính trị của mỗi thành phố.
Tài chính đô thị 26
Việc đáp ứng các nhu cầu của thành phố đòi hỏi chính quyền địa phương
phải có năng lực quản lý và phải đa dạng hóa các nguồn tài chính của mình.
Việc nắm vững vấn đề phức tạp này quyết định đến cuộc sống hàng ngày
của người dân thành phố.
Nhà ở và đất đai 38
Nhà ở luôn là vấn đề cần quan tâm của bất kì thành phố đang phát triển nào.

ngoại ô.
Dự báo và quản lý các nguy cơ lớn 66
Đợt sóng thần năm 2004 hay cơn bão Katrina năm 2005 đã gây thiệt hại
nặng nề về người và của. Hai thảm họa đó cho thấy hậu quả của đô thị
hóa tại các khu vực nguy hiểm, sự cần thiết phải đưa dự báo nguy cơ vào
chính sách quy hoạch và tầm quan trọng của từng bộ phận như dự báo,
bảo vệ hay quản lý thảm họa.
Bảo tồn và phát huy giá trị di sản đô thị 72
Việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản kiến trúc đô thị không còn đơn thuần
là một hoạt động văn hóa: nó là một nhân tố quan trọng trong quá trình
phát triển đô thị. Nó tạo ra mối liên kết lâu dài giữa các cơ sở đào tạo với
chính quyền địa phương ở các nước đang phát triển cũng như ở các
nước phát triển.
Hợp tác giữa các thành phố 76
Sự hiện diện của các thành phố trên trường quốc tế chưa bao giờ mạnh mẽ
như hiện nay, không chỉ vì quy mô dân số mà còn vì là nơi những thách
thức lớn của quá trình toàn cầu hóa được thể hiện rõ nhất. Minh chứng cho
điều này là sự ra đời của nhiều mạng lưới hợp tác giữa các thành phố và
sự hình thành thứ bậc giữa các các thành phố lớn, vừa và nhỏ.
Mục lục
Dẫn nhập 8
Từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Các thành phố do Liên Hợp Quốc tổ chức
năm 1996 tại Istanbul, các đô thị được xem là một trong những thách thức
lớn đối với cộng đồng quốc tế trong việc phát triển kinh tế xã hội và đối
với tương lai thế giới.
T
ừ sau hội nghị thượng đỉnh các thành phố do
Liên Hợp Quốc (LHQ) tổ chức tại Istanbul vào
năm 1996, đô thị được xem là một trong những
thách thức lớn của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực

Âu. Quyển sách này cũng được thực hiện với sự đóng
góp của nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu và giới
chuyên môn, những người đã biết cách chấp nhận
những khiếm khuyết khi khái quát hóa vấn đề từ
những trường hợp cụ thể.
Rủi ro gắn liền với cách làm này là chia hiện tượng đô
thị hóa, vốn bản chất là một hiện tượng toàn diện và có
nhiều yếu tố phụ thuộc lẫn nhau, dưới nhiều góc độ
tiếp cận khác nhau. Mỗi người có một cách tiếp cận
riêng đối với đô thị trên cơ sở trình độ và vốn văn hóa
của mình. Đối với người này thì đô thị là nơi chứa
đựng đủ loại nguy hiểm, nhưng đối với người khác nó
Dẫn nhập
98
Dẫn nhập
Các thành phố đang
phát triển
Thành ph Cairo (Ai Cp) nhìn t trên cao.
Sự trỗi dậy của thế giới đô thị
Theo ước tính mới nhất của LHQ
2
, dân số đô thị trên thế
giới gia tăng mạnh mẽ: 3,1 tỉ, (so với 1 tỉ vào năm 1960 và
2 tỉ vào năm 1985) tương ứng với 50% dân số thế giới vào
năm 2007. Các dự báo dựa trên mô hình của LHQ (4 tỉ vào
năm 2020, và có thể lên đến 5 tỉ vào năm 2030) vẫn còn
chưa chắc chắn và đã ước tính quá cao về tốc độ cũng
như quy mô tập trung đô thị ở các nước đang phát triển:
do đó, cần xem xét lại dự báo cho rằng đến năm 2030 sẽ
có 60% dân số thế giới sống ở đô thị.

trong quá trình phát triển nhằm xác định chất lượng điều
hành của chính quyền địa phương trên
địa bàn của mình cũng như khả năng
của chính quyền trong việc giảm bớt
những khó khăn mà người dân, đặc
biệt là người nghèo vốn chiếm số đông
ở đô thị, đang gặp phải. Là đầu tàu
chính trị, kinh tế và xã hội, đô thị là nơi
quyết định thành hay bại của các ứng
viên trong các cuộc bầu cử quốc gia.
Toàn cầu hóa kinh tế và gia tăng di
dân xuyên quốc gia đè nặng lên các
đô thị ở những nước phát triển và các
siêu đô thị cấp vùng ở những nước
đang phát triển. Những lĩnh vực mới
như an ninh đô thị hoặc tác động
của đô thị đến môi trường sinh
thái ở địa phương và trên thế giới
thu hút sự quan tâm đặc biệt của
giới chính trị gia ở tất cả các nước
trên thế giới.
Cuối cùng và quan trọng nhất, những thay đổi thật sự ở
đô thị trên toàn thế giới vốn là hệ quả tất yếu của biến
động về dân số đã được cụ thể hóa trong các mục tiêu
phát triển thiên niên kỷ của LHQ vào năm 2000. Đó là
một trong những thách thức lớn cần phải vượt qua
trong thế kỷ này.
10
Dẫn nhập
Dân số của 24 siêu đô thị năm 2003

Prospects: the 2005
Revision, UNDESA/
Population Division,
New York, mars 2006.
1
www.isted.com/villes-
developpement/accueil_
documentation.htm
Nguồn: Gilles Antier, 2006
Ở các nước đang phát triển, đô thị
càng mở rộng, thì nó càng thu hút
dân số trẻ và càng có nhiều người
sống trong các khu nhà tạm bợ
không được tiếp cận với hệ thống
giao thông và…càng không được
tiếp cận hệ thống cấp và thoát
nước. Đô thị mở rộng làm cho
người dân càng gặp khó khăn trong
việc tiếp cận nhà ở và đất ở. Vấn đề
đất ở của hàng chục triệu người tại
các đô thị ở các nước đang phát
triển là một yếu tố hàng đầu gây
căng thẳng và bất ổn.
Ùn tắc giao thông là vấn đề ngày
càng lớn vì tỉ lệ cơ giới hóa tăng rất
nhanh, diện tích đường dành cho
giao thông quá hạn hẹp và vì có
quá nhiều loại phương tiện giao
thông xung đột với nhau. Đô thị
càng mở rộng thì người dân càng


xã hội
hiện nay góp phần làm cho chúng ta có cảm giác đang
có “khủng hoảng đô thị” và khủng hoảng trong phát
Dẫn nhập
13
Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng nhân loại hiện nay
đang ở vào giai đoạn chưa từng có trong lịch sử, giai
đoạn bùng nổ đô thị kết hợp với gia tăng dân số. Hiện
nay, tốc độ tăng dân số đô thị là 1,9%/năm, tương đương
với một thành phố 160.000 dân xuất hiện trên trái
đất mỗi ngày.
Trong hệ thống đô thị mênh mông, có 940 triệu người
sống ở các đô thị lớn – đô thị có hơn 2 triệu dân – ,
trong số đó hơn 1/3 (khoảng 350 triệu) sống trong 24
siêu đô thị – đô thị có hơn 10 triệu dân. 2/3 các siêu đô
thị này nằm ở các nước đang phát triển, trong khi
đó vào năm 1960, chỉ có New York và Tokyo có hơn
10 triệu dân.
Hiện nay, các đô thị trên thế giới có hai xu hướng
chính:
• Tăng trưởng vừa phải ở các nước phát triển từ sau
bước ngoặt ở thập niên 1960, trái ngược với thời kỳ
phát triển kinh tế năng động từ cuộc cách mạng
công nghiệp đến giữa thế kỷ 19. Việc tăng trưởng
chậm này diễn ra rõ nét hơn ở Châu Âu so với ở
Bắc Mỹ.
• Tăng trưởng mạnh, toàn diện ở các nước đang phát
triển kể từ thập niên 1960, nhưng với tốc độ khác
nhau tùy theo khu vực: tăng trưởng có xu hướng

giao thông, nhà ở và các dịch vụ đô
thị). Tất cả góp phần tạo nên cảm
giác khủng hoảng, nhất là ở các đô
thị thuộc các nước đang phát triển.
Có lẽ, nên nói đó là những căng
thẳng: một số (các vấn đề về đất đai,
tiếp cận nguồn nước sạch và hệ
thống xử lý nước) mang tính đặc
trưng riêng của các nước đang phát
triển; một số khác thì có cả ở những
đô thị thuộc các nước phát triển (ùn
tắc giao thông và hậu quả của nó đối
với môi trường, sự gia tăng của các
nguy cơ).
Tuy nhiên, song song đó, tình hình
phát triển hiện nay chứng minh
rõ ràng rằng đô thị và đại đô thị là
những đầu tàu chính của sự phát
triển: hệ thống công trình giao thông
và cơ sở hạ tầng được xây dựng
tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại
và tiếp cận văn hóa. Hình thức tiếp
cận dịch vụ cơ bản ở đô thị phong
phú hơn và nguồn thu nhập ở đô thị
cũng đa dạng hơn. Đô thị cũng là
nơi hội đủ các yếu tố để trở thành
nơi có những tiến bộ và sáng tạo cả về mặt văn hóa lẫn
kinh tế–xã hội và công nghệ. Mỗi ngày, các đô thị đều
chứng tỏ được khả năng cũng như sức sáng tạo của
mình. Vì tình hình hiện nay tại các đô thị thuộc những

Chúng có thể được dùng đối chiếu với
số liệu thống kê để xác định mật độ dân
số hoặc bổ sung cho kết quả khảo sát
trên thực địa để suy ra số dân tại các khu
vực có công trình xây dựng tương đồng
với nhau. Tuy nhiên, công
cụ này có hai khó khăn:
một là rất tốn kém và hai là
nhanh chóng trở nên lạc
hậu do sự mở rộng nhanh
chóng của đô thị ở các
nước đang phát triển.
Mô tả đô thị
17
vụ đô thị (nước sạch, nước thải, thu
gom rác thải…). Các bản đồ này cho
phép phân tích các mối quan hệ giữa
những dịch vụ này với các điều kiện
sống ở đô thị (mức độ trang bị cơ
sở hạ tầng cho các khu vực). Nhưng
các bản đồ này với tỉ lệ 1/80.000 và
1/40.000 thường ít chính xác hơn các
file có được từ ảnh trực giao (thường
với tỉ lệ 1/5.000 hoặc 1/10.000).
Sự phát triển đô thị theo kiểu “vết
dầu loang” ở các nước đang phát
L’ile de la Cité,  Paris, nh trc giao và bn đ.
16
Mô tả đô thị
Mô tả

các đơn vị tư vấn thống kê đầy đủ
các số liệu. Trong bối cảnh đó, việc
khảo sát có sự phối hợp của các
bên liên quan sẽ đáp ứng được 2
yêu cầu: thu thập được những dữ
liệu quan trọng trên địa bàn và dự
báo “những thách thức trong tương
lai” về kinh tế và xã hội.
Dữ liệu và bản đồ
Không ảnh chụp theo chiều thẳng
đứng cho phép nghiên cứu sâu hơn
kết cấu đô thị và công trình xây dựng.
Khu dân c  ngoi
ô Thành ph Cap,
Nam Phi.
S dng đt ca thành ph
Băng-ga-lo (n- Đ) do
IAURIF v bn đ có s
dng phng pháp đánh
du bng hình nh. Các khu
đô th đuc th hin bng
màu đ và tím, đt nông
nghip màu vàng và da cam.
Không ảnh chụp bằng máy cơ dần dần
được số hóa và nắn chỉnh hình học
để mỗi điểm trên không ảnh trùng với
điểm tương ứng trên bản đồ phẳng –
gọi là ảnh trực giao. Cách làm này cho
phép tạo được các file hình với những
thông tin và nhận xét đặc biệt (ranh

giao thông…), thì nên sử dụng hệ
thống GIS “địa chính”. Hiện nay, chưa
có công cụ GIS nào có thể cho phép
chúng ta thực hiện được đồng thời
hai việc trên.
Địa chính đơn giản hóa
Việc không có bản đồ địa chính hoặc
bản đồ địa chính cũ, không còn phù
hợp, thường thúc đẩy các chính
quyền địa phương tiến hành thực hiện
bản đồ địa chính đơn giản vì lý do tài
chính và vì không có nhiều thời gian.
Mục tiêu là cụ thể hóa các quyền sẵn
có (cho dù quyền đó có nguồn gốc
như thế nào đi nữa) và tạo ra sự đồng
thuận trên địa bàn trước khi tiến hành
cải cách pháp luật về đất đai. Tuy
nhiên, trong cách làm này, việc phân
tích các đặc điểm xã hội và đất đai của
những quyền hiện hữu được thực
hiện khá sơ sài. Các tổ chức tại địa
phương cần bổ sung thêm nhiều chi
tiết vào bản đồ địa chính này và cần
phải lập danh sách chủ sở hữu các lô
đất để có thể tiến hành cấp giấy
chứng nhận sở hữu đất. Dù để lập dữ
liệu địa chính, đăng ký địa chỉ bưu
điện, đăng ký giấy chứng nhận quyền
sở hữu hay để theo dõi các biến động
về bất động sản, thì việc xác định

đường giao thông, mức độ nguy hiểm
đối với môi trường…
Trong lĩnh vực đô thị, GIS được ưu
tiên sử dụng để phân tích hiện trạng
sử dụng đất (thông qua ảnh chụp qua
vệ tinh và các cuộc điều tra), bản đồ
đô thị hóa, dữ liệu về nhà ở, việc làm,
cơ sở hạ tầng (xác định vị trí lắp đặt
và địa bàn phục vụ), không gian xanh
… Trong lĩnh vực môi trường, GIS
cũng được sử dụng thí điểm để giải
quyết các vấn đề liên quan đến tiếng
ồn và ô nhiễm không khí.
Cần phân biệt GIS ở quy mô vùng đô
thị với hệ thống GIS « địa chính », hệ
thống thông tin cho từng lô đất. Nếu
chúng ta muốn xây dựng những công
cụ ở cấp vùng đô thị, ví dụ quy hoạch
18
Mô tả đô thị
triển dẫn đến việc sử dụng ngày càng
nhiều hình thức viễn thám qua vệ
tinh. So với phương pháp phân tích
không ảnh bằng mắt, thì phương pháp
này nhanh và ít tốn kém hơn, nhưng
nó lại đòi hỏi phương tiện kỹ thuật và
nhân lực có chất lượng cao hơn.
Viễn thám
Nằm trên quỹ đạo cách trái đất 830 km,
vệ tinh Spot của Pháp có vùng ảnh

đã được lồng ghép vào nhau, từ đó xác định được 39 hình
thức sử dụng đất khác nhau (trong đó 30 hình thức ở đô thị)
tại 17 quận và vùng ven. Sau đó, diện tích của từng khu vực
trên hình cũng được xác định và diện tích đất được sử dụng
trong mỗi hình thức cũng được xác định chính xác đến từng
m
2
. Những hình ảnh này đã chứng minh rằng 2/3 tăng
trưởng đô thị đã nằm ngoài ranh giới của Vùng đô thị Manila.
Nắm và quản lý mạng lưới hạ tầng kỹ thuật
bằng GIS
Việc sử dụng GIS để hỗ trợ công tác quản lý mạng lưới hạ
tầng kỹ thuật là không thể thiếu khi quy mô đô thị bắt đầu
đạt đến ngưỡng nhất định, từ 500.000 đến 1 triệu dân. Tối
thiểu, thành phố cũng phải có bản đồ địa chính đơn giản và
số hóa. Nó sẽ giúp quản lý đặc điểm kỹ thuật của mạng lưới
(quản lý dữ liệu), thiết kế mở rộng mạng lưới (hỗ trợ mở
rộng hoặc cải tạo mạng lưới hiện hữu) và xác định tốt hơn
việc bảo trì (nạo vét) hoặc sửa chữa (ô nhiễm, rò rỉ, hư hỏng
đường ống…)
1
Mô hình kỹ thuật số địa bàn là cách thể hiện một
địa bàn dưới dạng ảnh kỹ thuật số để có thể tính
được diện tích hoặc các khối và từ đó đưa ra hình
ảnh không gian 3 chiều cho khu vực quy hoạch
trong tương lai.
Chng nh trc giao
lên bn đ s dng
đt đn gin ca
thành ph Issy-les-

dân cư được hình thành mà không có
cơ sở hạ tầng và hệ thống đường
giao thông. Xuất phát từ nhận định
này, hệ thống địa chỉ giúp từng bước
nắm vững thông tin liên quan đến đô
thị: bản đồ thành phố, mã hóa các
tuyến đường giao thông, điều tra
thống kê, xây dựng hệ thống thông
tin đơn giản, phát triển các công cụ
quản lý.
Để thực hiện việc cấp địa chỉ, trước
hết cần có bản đồ số của thành phố.
Bản đồ này ở tỉ lệ 1/10.000 sẽ đánh số
từng tuyến đường, xác định rõ điểm
đầu và điểm cuối của mỗi đường, vị trí
của các công trình hạ tầng kỹ thuật và
xã hội trên từng tuyến đường và ranh
giới giữa các khu vực trong thành phố.
Mỗi công trình xây dựng, thửa đất sẽ
được đánh mã số theo tuyến đường
đi qua và số xác định vị trí của công
trình đó trên tuyến đường. Lợi ích
của phương pháp này rất rõ ràng: mọi
thành phố đều có thể sử dụng được (vì
thành phố nào cũng có đường giao
Lập các đài quan sát
Thay đổi nhanh chóng của đô thị đòi hỏi phải theo dõi và
cập nhật thường xuyên dữ liệu. Ngoài công cụ GIS, việc
lập đài quan sát đô thị cho phép tập hợp các đối tác nhà
nước và tư nhân tổng hợp dữ liệu và trao đổi thông tin.

hot đng xã hi (hình
bên cnh).
Danh bạ trang
web
Viện nghiên cứu phát triển –
IRD
www.ird.fr
Hội phát triển đô thị và hợp
tác – ADP
www.adp.asso.fr
Các dữ liệu lượng hóa
Hình Spot
Hình spot cung cấp dữ
liệu thu được qua vệ tinh,
thư viện ảnh spot trực
tuyến.
www.spotimage.fr
Hội đồng thông tin địa lý
quốc gia – CNIG
Nhiều tài liệu nghiên
cứu về thông tin địa lý và
tài liệu về công tác chủ
đầu tư được cung cấp tại
địa chỉ.
www.cnig.gouv.fr
Viện quy hoạch đô thị Vùng
Ile-de-France – IAURIF
Tài liệu tham khảo về
nước Pháp và các nước
trên thế giới.

địa chỉ cho phép thiết lập các chỉ số
định vị ở đô thị hoặc liệt kê các công
trình cần thực hiện trong chương trình
đầu tư và xây dựng cơ sở hạ tầng. Địa
chỉ cho phép có được thông tin gắn với
từng thửa đất và giúp phân chia địa
bàn một cách dễ dàng nhằm xây dựng
chương trình hành động về cơ sở hạ
tầng và công trình phúc lợi (y tế, giáo
dục, trụ cấp nước, rác thải…).
Từ những dữ liệu này và trên cơ sở
các chỉ số, ta có thể biết được mức độ
tiếp cận các công trình hạ tầng của
người dân ở các khu vực và từ đó có
thể xếp loại các khu vực và các ưu
tiên ở từng khu vực cũng như các loại
dịch vụ.
Kết luận, việc mô tả đô thị là điều đầu
tiên và cần thiết, trước khi thực hiện
bất kỳ can thiệp nào vào đô thị. Các kỹ
thuật được trình bày ở đây mang tính
bổ sung cho nhau và đều đóng góp
vào công việc này.

Điều hành đô thị
23
Văn hóa đô thị và chính trị
Mỗi vùng, mỗi đô thị đều có nền văn
hóa chính trị đặc thù của mình. Cách
tổ chức, hoạt động và quyền hạn của

Chin dch vn đng tranh c cp thành
ph  Caracas (Venezuela).
Chùm sao nhân loi, mt tác phm biu trng
cho “Các trng hin đi trong đi thoi và
trao đi hu ngh gia các dân tc”, theo tác
gi Chez Zen.
22
Điều hành đô thị
Trên thế giới, xu hướng
phân cấp mạnh cho
chính quyền địa
phương đã làm tăng vai
trò của chính quyền đô
thị. Nhưng, yếu tố
quyết định đến hiệu
quả của công tác quản
lý địa phương gắn liền
với các đặc điểm văn
hóa chính trị riêng của
mỗi thành phố.
Điều hành
đô thị
N
gày nay, vấn đề điều hành đô
thị luôn nằm trong chương
trình nghị sự của cộng đồng
quốc tế vì trong thập kỷ vừa qua,
các định chế quốc tế và các nhà
tài trợ phát triển luôn xem các địa
phương là những chủ thể không

khác ở Peru, Equator và Bolivia.
Mt cuc hp cp thành ph ti Bê-lem,
Bra-xin.
Điều hành đô thị
25
trung hóa có thể là cơ hội cho chính
quyền trung ương giao bớt một phần
quyền hạn và nghĩa vụ của mình cho
chính quyền địa phương. Ở Châu
Phi, việc chuyển giao nguồn lực cần
thiết để thực hiện điều này vẫn chưa
được thực hiện. Do đó, chính quyền
địa phương chưa có khả năng đứng
ra làm chủ đầu tư và thương thảo
với nhà tài trợ.
Khả năng hành động của địa phương
vẫn còn nhiều hạn chế và chưa
tương xứng với thẩm quyền có được
trong khuôn khổ quá trình phi tập
trung hóa. Điều này là do chính
quyền địa phương thiếu rất nhiều
nguồn lực cả về nhân sự lẫn sự
phối hợp với các đơn vị đại diện
của các cơ quan chính phủ tại địa
phương cũng như các ban ngành
của địa phương. Cần ưu tiên bổ
sung những năng lực này cho
chính quyền địa phương đặc biệt
là trong dịch vụ do nhà nước thực
hiện cũng như trong quản lý dịch

phương – UCLG
Đài quan sát Quốc tế tình
hình dân chủ tại địa
phương và phi tập trung
hóa GOLD, theo cách
viết tắt trong tiếng Anh, là
một cổng internet do
UCLG thực hiện nhằm
cung cấp thông tin cho
các tác nhân tại địa
phương về tình hình phi
tập trung hóa và điều
hành địa phương trên
khắp thế giới.
www.cities-
localgovernments.org/gold
Cities Alliance – Liên minh
đô thị Tổ chức hợp tác
giữa Ngân hàng Thế giới,
các tổ chức quốc tế và cơ
quan hợp tác ở các quốc
gia và các thành phố.
Liên minh đô thị được
thành lập nhằm giải quyết
các vấn đề ở các khu dân
cư tạm bợ và sự nghèo
khổ ở đô thị.
www.citiesalliance.org
Chính quyền địa phương
trên thế giới – WLA

về phương diện
này, Nam Phi là
nước đã xây dựng
được tầm nhìn về đô thị thời hậu
Apartheid, đô thị nén. Ý tưởng chính
là dệt lại tấm vải đô thị bằng cách
gắn kết những mảng đô thị được tạo
ra trong thời kỳ Apartheid, tổ chức lại
mạng lưới giao thông, phân bổ lại
đất đô thị và tổ chức lại các hoạt
động với phương châm càng đa dạng
càng tốt trong khuôn khổ dự án tăng
mật độ đô thị.
Phi tập trung hóa và điều
hành địa phương đang được
thử thách
Từ khoảng 15 năm trở lại đây, quá
trình phi tập trung hóa về chính trị,
thuế và hành chính đã được triển
khai ở nhiều nước trên thế giới.
Điều này phù hợp với mong muốn
tăng hơn nữa hiệu suất điều hành,
giải quyết các vấn đề ở địa phương
bằng cách phối hợp giữa nhà nước
với tư nhân và người dân. Hiện nay,
các mối quan hệ giữa chính quyền
địa phương với chính phủ trung
ương đang được thiết lập xoay
quanh mô hình này.
Đối với những khu vực, những quốc

này được phát triển ở Braxin, nước
có rất nhiều kinh nghiệm trong việc
xây dựng các phương thức phi tập
trung hóa trong điều hành đô thị.
Sau khi trải qua một thảm họa – thiên
tai, chiến tranh – ưu tiên hàng đầu
của chính quyền địa phương là đáp
ứng nhu cầu trước mắt của người
dân và xây dựng cho tương lai.
Trong đa số các trường hợp, tính
cấp thiết trong các hành động
(nhanh chóng xây dựng lại, tái định
cư, các vấn đề về sức khỏe cộng
Không tư nhân hóa lĩnh vực cấp nước sạch
Việc người dân Thành phố Cochabamba (Colombia) không
chấp nhận giao cho tư nhân công tác cấp nước sạch vào
năm 2000 đã trở thành biểu tượng trên toàn thế giới trong
việc chống lại tư nhân hóa các loại dịch vụ. Sau một năm
căng thẳng, các công ty tư nhân đã phải rút lui và chịu tổn
thất lên đến 50 triệu USD. Hiện nay, việc cấp nước cho
Thành phố do công ty nhà nước SEMAPA đảm trách trong đó
3/7 thành viên hội đồng quản trị là đại diện của người dân.
Nhờ sự hỗ trợ của nhiều nhà tài trợ, công ty đã mở rộng
được mạng lưới và cung cấp nước với giá xã hội chấp nhận
được. Hai công ty cấp nước tư nhân đã từ bỏ việc yêu cầu
đòi bồi thường thiệt hại vào năm 2006 nhờ trung gian hòa
giải là chính phủ Bolivia.
Hi đng nhân dân
Thành ph Papudo
(Chilê) và Thành ph

phủ trung ương thu những nguồn này
mà không có cơ chế phân bổ lại cho
địa phương.
Ngoài ra, thuế ở địa phương cũng
không đủ để đáp ứng nhu cầu. Ở
các nước Châu Phi, thu từ thuế địa
phương không vượt quá 1% GDP
của địa phương đó, trong khi đó lẽ ra
nó phải đạt gần 5%; khu vực phi
chính quy và các hộ gia đình không
đóng thuế vì cho rằng không chính
đáng. Muốn tăng thuế và tăng thu từ
thuế trước hết phải xây dựng một
chính sách đô thị có thể huy động
được các nguồn lực của địa phương.
Một khó khăn nữa là việc xác định
chế độ sở hữu đất đai, vốn là cơ
sở của nhiều loại thuế chính ở địa
phương. Việc xây dựng chế độ đăng
ký đất đai – xác định vị trí các lô đất
và chủ sở hữu – sẽ giúp mở rộng
các nguồn thu từ thuế. Ở Benin, nhờ
xây dựng được hệ thống địa chỉ, nên
nguồn thu từ thuế đã tăng gấp 4 lần
trong một thời gian tương đối ngắn
mà không cần phải tăng thêm áp lực
Học cách tự chủ
Cơ quan phát triển địa phương
của Senegal (ADM) đã được
thành lập vào năm 1997 để

sng tt cho ngi
dân đòi hi lng vn
đu t rt ln.
H
iện nay, các thành phố có nhu
cầu tài chính rất lớn để đảm
bảo sự tăng trưởng của mình.
Cung cấp dịch vụ cơ bản, nhà ở,
giao thông, thu gom và xử lý rác
thải, bảo vệ môi trường, tạo điều
kiện sống tốt cho người dân đòi hỏi
một nguồn vốn đầu tư và vận hành
rất lớn. Chỉ trong lĩnh vực xử lý nước
thải, theo ước tính, cần phải có 14
tỉ euro đầu tư mỗi năm cho đến
năm 2025.
Thông thường, ngân sách của chính
phủ và thuế tại địa phương là hai
nguồn tài chính chủ yếu để đáp ứng
nhu cầu của các đô thị. Hiện nay,
phần chuyển giao ngân sách từ chính
phủ xuống cho địa phương vẫn còn,
nhưng theo xu hướng phi tập trung
hóa, chính quyền trung ương thường
tăng thêm quyền hạn cho chính
quyền địa phương nhưng đôi khi
không cấp phương tiện và nguồn
lực tương xứng. Thuế tại địa phương
thường quá thấp và do đó không đủ
để bù đắp cho các khoản đầu tư

quản lý địa phương tốt hơn.
Phát triển các nguồn lực riêng
Về kinh tế, các đô thị đang gặp mâu
thuẫn. Ngày nay, trên khắp thế giới,
đô thị là đầu tàu của sự phát triển
kinh tế, là nơi tập trung hoạt động
công nghiệp và thương mại. Các đô
thị đóng góp từ 50 đến 80% tổng
sản phẩm quốc gia, tùy theo tình
hình mỗi nước. Các đô thị lớn ở
Nam Phi – Johannesburg, Durban
và Le Cap – đóng góp đến 50% tổng
Thay đổi logic
Nói đến “tài chính cho chính quyền địa phương” đòi hỏi
thoát ra khỏi logic can thiệp theo từng dự án để hướng
đến cơ chế tài chính đáp ứng nhu cầu về vốn trong trung
và dài hạn dựa trên mô hình đã được các định chế tài
chính ở Băc Phi (CPSCL, FEC) và Nam Phi (DBSA, INCA)
áp dụng. Việc đánh giá rủi ro cũng khác và nhấn mạnh
đến rủi ro của người đi vay, nhưng cũng không nên đánh
giá thấp rủi ro của dự án.
Tài chính đô thị
thị không được tiếp cận với thị trường
tài chính, thậm chí với các chương
trình của các nhà tài trợ quốc tế. Do
đó, chính quyền địa phương cần một
đơn vị trung gian bảo lãnh các khoản
vay và có thể đứng ra cho các chính
quyền địa phương vay. Đó chính là
các định chế tài chính đặc biệt được

quyền địa phương có thể áp dụng
các biện pháp ưu đãi thuế để tạo
thuận lợi cho việc phát hành trái
phiếu, ví dụ miễn thuế đối với tiền
lãi từ trái phiếu. Những hình thức
bảo đảm và ưu đãi khác có thể do
các yếu tố bên ngoài mang lại: một
liên minh các ngân hàng có thể tạo
ra một quỹ bảo đảm cho việc phát
hành trái phiếu đô thị; việc chuyển
giao tài chính từ chính phủ cho các
29
Ngân sách không cân đối
Rất khó so sánh nguồn lực của các thành phố. Những
thành phố có ngân sách bình quân đầu người cao
nhất nằm ở Châu Âu hay ở Mỹ. Các thành phố ở
Châu Phi, Châu Á và Nam Mỹ có ngân sách ít nhất.
Do đó, các thành phố này không có đủ nguồn lực để
đáp ứng nhu cầu đầu tư.
Nguồn: Globan Urban Observatory 1998
Thành phố Nước Ngân sách/người
Stockholm Thuỵ Điển $ 5 450,00
Umea Thuỵ Điển $ 4 942,00
Amal Thuỵ Điển $ 4 835,00
Singapor Singapor $ 4 637,00
New York Mỹ $ 3 962,00
Wiesbadan Đức $ 3 609,00
Cologne Đức $ 3 531,00
Duisburg Đức $ 3 273,00
Leipzig Đức $ 3 273,00

thành ph Hartford, M, cao gp 3256 ln sn
phm ca thành ph Erevan, Acmenia.
28
Tài chính đô thị
về thuế. Tương tự, ở các nước Trung
Âu, chính quyền địa phương đã gắn
kết việc sở hữu tư nhân với các chế
độ thuế.
Quá trình thực hiện phi tập trung hóa
thường gắn với việc chuyển giao cho
địa phương các nhiệm vụ và trách
nhiệm liên quan đến giáo dục và y tế
hơn là liên quan đến việc quản lý các
dịch vụ về điện, nước vốn thuận lợi
hơn cho chính quyền địa phương khi
huy động vốn vay hoặc thiết lập mối
quan hệ đối tác công–tư.
Thách thức trong việc vay vốn
Đối mặt với các nhu cầu thường lớn
hơn những nguồn lực riêng của
mình, chính quyền địa phương ở các
đô thị buộc phải tìm các nguồn tài
chính bổ sung. Việc tìm đến nguồn
vốn vay là một xu hướng mới nhưng
quan trọng để đáp ứng nhu cầu tài
chính của địa phương. Từ thập niên
80, số tiền các thành phố vay mỗi
năm là khoảng 12 tỉ euro. Những
nước vay nhiều nhất, ngoài khối G7,
là Nam Phi, Bungari, Ba Lan,

Amal Thuỵ Điển $ 17 360,00
Manchester Anh $ 16 218,00
Des Moines Mỹ $ 15 342,00
Pampelune Tây Ban Nha $ 14 840,00
Phnom Penh Campuchia $ 699,00
Semarang Indonesia $ 614,00
Parakou Benin $ 571,00
Bangalore Ấn Độ $ 564,00
Chennai Ấn Độ $ 547,00
Kigali Ruanda $ 538,00
Brazzaville Congo $ 518,00
Oulan-Bator Mông Cổ $ 505,00
Dhaka Bangladesh $ 500,00
Bulawayo Zimbabue $ 402,00
Entebbe Uganda $ 400,00
Viêng-Chăn Lào $ 340,00
Port-Gentil Gabon $ 186,00
Libreville Gabon $ 180,00
Sokode Togo $ 156,00
Thies Senegal $ 119,20
Colombo Sri Lanka $ 43,30
Erevan Armenia $ 12,59
Danh mục trang
web
Cơ quan Phát triển Pháp –
AFD
www.afd.org
Tổ chức Hợp tác và Phát
triển Kinh tế – OCDE
www.ocde.org

www.boad.org
Ngân hàng Phát triển liên Mỹ
www.iadb.org
Ngân hàng Phát triển Châu Á
www.adb.org
Danh mục trang web trực
tuyến:
www.villesendevenir.org
ty Aguas Achentina thực hiện là tổ
chức lại một cách hợp lý bộ phận
thương mại và quản lý nội bộ của
công ty. Ngoài ra, các công ty nhận
ủy thác cũng được hy vọng là quan
tâm hơn đến chất lượng dịch vụ và
quản lý khách hàng.
Cuối thập niên 90, mối quan hệ đối
tác này đã phát triển rất mạnh với
việc nhiều hợp đồng có giá trị giữa
các thành phố lớn và các tập đoàn
lớn được ký kết, thu hút sự chú ý
của dư luận, ví dụ hợp đồng giữa tập
đoàn Suez và thành phố Buenos
Aires. Tuy nhiên, do vốn đầu tư ban
đầu rất lớn, nên nếu muốn các hợp
đồng này mang lại lợi nhuận, thì cần
phải có sự ổn định lâu dài. Việc biến
động của tỉ giá hoặc khủng hoảng
kinh tế đã cho thấy quản lý theo
phương pháp ủy thác không phải lúc
nào cũng mang lại những bảo đảm

điểm chung là có một hợp đồng giữa
một cơ quan nhà nước và một đơn
vị khác (tư nhân, hỗn hợp hoặc nhà
nước) trong một thời hạn nhất định.
Có hai hướng áp dụng ủy thác dịch
vụ công. Ở các nước nói tiếng Anh,
người ta dùng hình thức Build –
Operate – Transfer (BOT), giao cho
nhà đầu tư xây dựng và khai thác.
Chính quyền chỉ trở thành chủ sở hữu
thật sự của công trình khi kết thúc hợp
đồng. Lợi ích của phương thức này là
dựa vào người sử dụng dịch vụ chứ
không phải là người đóng thuế để đầu
tư ban đầu cho các công trình.
Ở Pháp, khi ủy thác dịch vụ công,
chính quyền luôn nắm vai trò chủ sở
hữu công trình cơ sở hạ tầng đó.
Việc ủy thác dịch vụ công được thực
hiện đi kèm với một tập hồ sơ kỹ
thuật trong đó nhấn mạnh đến lợi ích
công và đơn vị được ủy thác phải
tuân thủ hồ sơ kỹ thuật này.
Mối quan hệ đối tác này nhằm giúp
quản lý dịch vụ công tốt hơn–quản
lý nhân sự, theo dõi biến động thị
trường, thu phí sử dụng dịch vụ. Vì
thế, việc đầu tiên mà công ty
SODECI ở Bờ Biển Ngà hoặc Công
Ngân hàng hướng đến thành phố

Trở thành các đối tác
Việc thiết lập mối quan hệ đối tác
công–tư sẽ tạo ra một kênh tài
chính mới cho các dịch vụ công.
Ý tưởng của mối quan hệ đối tác này
là kết hợp hoạt động vì lợi ích chung –
thường gặp nhất là phát triển các
dịch vụ cơ bản – với phương pháp
quản lý của tư nhân vốn được xem là
có hiệu quả hơn. Việc tư nhân đồng
đầu tư vào các dịch vụ cho phép
giảm bớt gánh nặng cho ngân sách
thành phố. Ví dụ ở Thành phố Bunos
Aires, chỉ có 6 triệu trên tổng số 11
triệu dân của thành phố được tiếp
cận nước máy. Để đáp ứng hết nhu
cầu của người dân, cần phải mở
rộng mạng lưới đường ống hiện hữu
và xây dựng thêm nhà máy lọc nước.
Điều này đòi hỏi nguồn kinh phí rất
lớn mà một mình chính quyền thành
phố không thể đảm đương nổi.
Nhưng vì dịch vụ này sẽ trở thành
một thị trường lớn trong tương lai,
nên có thể kêu gọi các công ty tư
nhân tham gia đầu tư và khai thác.
Có hai hình thức quan hệ đối tác
công-tư: tư nhân hóa hoàn toàn hoặc
ủy thác có điều kiện công tác quản lý
cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích chung

Ở Ấn Độ, đơn vị hàng đầu về xếp
hạng tín dụng Credit Rating
Information Service of India Ltd.,
đã triển khai từ năm 1997 dịch vụ
xếp hạng các địa phương dựa
trên 6 tiêu chí:
(1) khung pháp lý và quy định,
(2) cơ sở kinh tế của vùng,
(3) tình hình tài chính hiện nay,
(4) các dự án hiện tại của thành
phố, (5) khả năng quản lý của
thành phố, (6) dự án có liên quan.
Cách xếp hạng này đặc biệt chú
trọng đến nguồn lực sẵn có, ổn
định và có thể đánh giá được để
hoàn trả vốn vay.
33
sẽ xây dựng mới (1/5.000, đôi khi
1/2.000). Điều này sẽ giúp quản
lý công trình xây dựng và mạng
lưới hạ tầng kỹ thuật tốt hơn.
Tóm lại, đô thị càng lớn thì càng
không thể quy hoạch và quản lý bằng
một tài liệu. Nhưng dù quy mô đô thị
có như thế nào đi nữa, thì vẫn cần
phải bổ sung vào các tài liệu quy
hoạch một bản kế hoạch hành động
trước mắt và trung hạn trong đó xác
định chi tiết hành động trong từng
lĩnh vực (đất đai, nhà ở, hoạt động,

quyền địa phương cần phải có
nhiều tài liệu định hướng và phát
triển đô thị, mỗi tài liệu có vai trò
chuyên biệt như sau:
• Một tài liệu chiến lược (tỉ lệ từ
1/10.000 đến 1/50.000), xác định
hướng chiến lược, công trình cơ
sở hạ tầng chính, khu vực đã và
sẽ đô thị hóa, khu có nguy cơ.
• Một hoặc nhiều tài liệu quy hoạch
cho từng khu hiện hữu hoặc khu
 Phnom Penh
(Campuchia, hình trên),
và  Queretaro
(Mehico, hình di),
chính quyn thành ph
luôn luôn có các công
c giúp qun lý s
tăng trng ca đô th.
Nghệ thuật khảo sát có sự
phối hợp
Việc khảo sát trước khi lập quy
hoạch nhằm xác định những thế
mạnh và bất cập của đô thị: có
những cơ hội nào cho cơ sở hạ
tầng, công trình công cộng, môi
trường…? Đâu là những nguy
cơ và điểm yếu trong cấu trúc
đô thị hiện hữu? Từ đó xác định
những thách thức về tính hấp

trung hn. Thành ph
Kisumu (Kenya, hình
bên di) đã lng
ghép các Mc tiêu
Phát trin Thiên niên
k trong k hoch
hành đng ca mình.
C
hính quyền địa phương có
nhiều tài liệu quy hoạch đô thị
để đương đầu với những
thách thức về dân số, môi trường và
kinh tế ở đô thị. Trong những năm
gần đây, những tài liệu này đã có
nhiều thay đổi: về mục
tiêu (định hướng sự phát triển đô thị
hơn là kiểm soát sự phát triển), về
hình thức (các tài liệu được đơn giản
Định hướng phát triển đô thị
Định hướng phát triển đô thị
Vai trò của Quy hoạch tổng thể
Ở Phnom Penh, (hình bên cạnh),
trong khuôn khổ chương trình hợp
tác, Pháp đã hỗ trợ lập quy hoạch
tổng thể Phnom Penh đến năm
2020. Là tài liệu tham chiếu đối
với đầu tư của nhà nước và tư
nhân, bản quy hoạch này ấn định
vị trí của các công trình công cộng
và các cơ sở hạ tầng chính của

lai: bản đồ quy hoạch này chỉ nêu lên
hướng của các tuyến đường chính
và các địa điểm dự định xây dựng
công trình công cộng, dịch vụ đô thị
chính, các khu vực dự kiến đô thị
hóa trong 5 đến 10 năm tới và các
khu vực dự trữ để xây dựng các
công trình hạ tầng lớn. Như vậy, các
bản đồ quy hoạch này đề ra một
khung chương trình hành động trong
trung hạn. Do đó, chúng tạo thuận
lợi cho các đơn vị ở địa phương
trong công tác quản lý.
Tài liệu quy hoạch có thể ấn định
phạm vi các khu vực được xây dựng,
đề xuất mục đích sử dụng đất (công
nghiệp, nhà ở xã hội, công trình công
cộng) và đôi khi có thể dự tính quy mô
dân số vào thời điểm nhất định. Nó
cho phép tính được nhu cầu cơ sở hạ
tầng và quy mô mạng lưới đường
giao thông cũng như mạng lưới hạ
tầng kỹ thuật. Cách quy hoạch này
dựa trên nền tảng đô thị hiện hữu –
còn được gọi là quy hoạch theo cấu
trúc chủ yếu của đô thị – và đặc biệt
quan tâm đến việc kết hợp đồng bộ
giữa quy hoạch và dịch vụ đô thị
(nước sạch, thoát nước, xử lý nước
thải, điện, chiếu sáng…).

quy hoạch khuyến khích và có sự
tham gia của nhiều bên.
Đối với các đại đô thị, bản đồ quy
hoạch chung và các bản đồ quy
hoạch chi tiết cho từng khu vực là
hai công cụ quy hoạch không thể
thiếu. Đối với các thành phố trung
bình và nhỏ, nhiều loại tài liệu quy
hoạch mới xuất hiện. Một số cho
Các tài liu mang tính
giáo dc (hình trên,
d án quy hoch và
phát trin bn vng
ca Thành ph Rouen,
Pháp), Các cuc hp
thuyt minh, gii thích
(hình bên cnh, mt
cuc hp  Kawempe,
Kenya) hoc hp ly ý
kin (hình bên di,
cuc hp ly ý kin 
Nouakchott,
Mauritanie), s tham
gia tích cc và đông
đo ca ngi dân
góp phn vào s phát
trin hài hòa, cân đi
ca thành ph.
Định hướng phát triển đô thị
theo đó là đánh giá môi

hoạch đô thị Vùng Ile-de-
France – IAURIF
www.iaurif.org/fr/index.htm
Xưởng Quy hoạch đô thị
Paris – APUR
Ngân hàng Dữ liệu đô thị
www.apur.org
IGN International
(Cơ quan trực thuộc Viện
Địa lý Quốc gia)
www.ignfi.fr
Cơ quan công về Quy
hoạch của Senart – EPA
Senart
www.epa-senart.fr
Hội Doanh nghiệp Quy
hoạch và Đầu tư phát
triển ở Pháp – GIE
ADEFRANCE
www.gie-adefrance.fr
Danh mục trang web trực
tuyến:
www.villesendevenir.org
như Các cơ quan đô thị ở Maroc
hoặc Các Viện quy hoạch đô thị ở
Mexico.

Vic cung ng
thc phm cho Hà
Ni, thành ph ln

quản lý và theo dõi thực hiện quy
hoạch là tối cần thiết và phải được
thực hiện ngay từ lúc lập quy hoạch.
Có quá nhiều đồ án quy hoạch được
chuyển giao cho các thành phố dưới
dạng “chìa khóa trao tay” mà không
thông qua một hoặc nhiều cơ quan
tương xứng ở địa phương. Để theo
dõi việc thực hiện các đồ án này,
cần đào tạo nhân lực cho địa phương
ngay từ đầu của quá trình lập đồ án
quy hoạch kết hợp với việc đưa vào
sử dụng các phương tiện kỹ thuật.
Việc chuyển giao và tiếp quản này
là rất cần thiết để đảm bảo thực
hiện được quy hoạch, đảm bảo việc
theo dõi (dựa vào chỉ số, số liệu
thống kê, công cụ bản đồ và địa chỉ,
đơn vị quan sát… 
 Xem thêm
chương
Mô tả đô thị) và đánh
giá thường xuyên nhằm có thể đưa
ra những điều chỉnh phù hợp. Ở
các thành phố nhỏ và trung bình,
nhìn chung, chỉ cần thành lập hoặc
tăng cường năng lực của Phòng
quy hoạch đô thị là đủ. Ở thành phố
lớn và siêu đô thị, cần thành lập cơ
quan chuyên trách quy hoạch đô thị

được xây dựng cùng với một loạt
hành động cụ thể và dự án đầu tư.
Các chỉ số cũng được xây dựng để
theo dõi và đánh giá việc thực hiện
các hành động.
Điểm yếu của CDS là nắm bắt chưa
sâu và theo dõi chưa đầy đủ quá
trình phát triển tổng thể của đô thị.
Tuy nhiên, chúng ta cũng phải công
nhận hai điểm mạnh của nó:
• Nó cho thấy sự kết hợp khá rõ giữa
tầm nhìn của nhà lãnh đạo ở địa
phương về phát triển kinh tế, về
mục tiêu môi trường và giảm nghèo
với các ưu tiên rõ ràng trong hành
động và đầu tư;
• Nó tạo điều kiện thuận lợi cho sự
tham gia của người dân và các tổ
chức đoàn thể.
Về phương diện này, CDS đã rút ra
được kinh nghiệm của các chương
trình đa phương như chương trình
quản lý đô thị (PGU) hoặc hỗ trợ
phát triển xã hội đô thị (PDSU). Ví
dụ, chương trình PDSU hỗ trợ xây
dựng kế hoạch chiến lược phát
triển trong đó điều tối quan trọng là
tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình
thành các dự án có tính đồng bộ và
lồng ghép các hoạt động trên cơ sở

vực quy hoạch và phát triển đô thị.
Các qun ca Thành
ph Pikine (Senegal)
đã xây dng k hoch
hành đng u tiên:
din đàn v s tham
gia ca công dân, các
y ban theo dõi và y
ban chuyên trách ca
Thành ph.
Nhà ở và đất đai
39
Đảm bảo tiếp cận đất đai
Khái niệm sở hữu đất đai không đơn
giản và không chỉ có một nghĩa. Từ
việc sử dụng hoàn toàn không chính
thức đến việc có đầy đủ quyền sở
hữu lô đất và được công nhận rõ
ràng trên bản đồ địa chính qua rất
nhiều hình thức sở hữu trung gian
với những nội dung rất khác nhau.
Sở hữu, sử dụng, thừa kế, chuyển
nhượng đất đai luôn luôn được quy
định bằng hệ thống văn bản pháp
luật. Theo truyền thống, các quy định
này là do các thế hệ trước để lại, đặc
biệt ở Châu Phi, đây là những quy
định được người dân biết đến nhiều
nhất. Dưới áp lực của nhà tài trợ, xu
hướng hiện nay là cụ thể hóa các

đu đã xung cp,
 Soweto
(Nam
Phi);
chung
c cao
tng 
Poznan (Ba
Lan); ph c
Thng Hi
(Trung Quc).
Nhà ở và
đất đai
H
iện nay, trên toàn thế giới,
phần lớn nhà ở được xây
dựng mà không tuân theo quy
định của pháp luật. Nhà ở được xây
dựng hoặc không đúng giấy phép đã
cấp, hoặc không có giấy phép, hoặc
trên đất của người khác và thường
là trên đất công, đây là trường hợp
thường gặp nhất. Từ 40 đến 80%
người dân ở các thành phố lớn của
Ấn Độ và từ 30 đến 40% người dân
ở các thành phố Nam Mỹ sống trong
các căn nhà không được chính thức
công nhận. Tỉ lệ này càng cao hơn
nữa ở các thành phố thuộc Châu Phi
hạ Sahara. Do đó, ở các thành phố

Ngân hàng Thế giới đã triển khai
các chương trình đầu tư phát triển
nhà ở dựa trên tín dụng có thế
chấp. Những dự án này đã phát
huy hiệu quả ở Trung Quốc và
Malaysia, những nước có chế độ
chính trị ổn định, nền hành chính
và hệ thống ngân hàng hoạt động
hiệu quả, tốc độ tăng trưởng kinh
tế cao và lạm phát ở mức vừa
phải. Tuy nhiên, ở khu vực Châu
Phi hạ Sahara thì kết quả của các
dự án này không khả quan lắm.
• Các tài liệu quy hoạch và quy định
pháp luật có thể tạo thành bộ công
cụ hiệu quả trong quản lý đất đai.
Tuy nhiên, ở các nước đang phát
triển, việc thực thi các quy định
này cũng còn nhiều hạn chế.
• Hợp thức hóa việc chiếm và sử
dụng đất bất hợp pháp là một trong
những mục tiêu chính của các định
chế tài chính cho đến đầu những
năm 2000. Để được hợp thức hóa,
người chiếm và sử dụng đất đó
phải đóng góp tài chính.
Việc xác định ranh giới sở hữu và
cấp giấy chứng nhận sở hữu vừa
tạo sự an tâm cho người chủ đất
vừa là điều kiện cần thiết để họ có

đầu với sự gia tăng dân số chưa
từng có.
Ở các quốc gia đang phát triển, nhu
cầu nhà ở của người nghèo rất
lớn. Họ thường dành trung bình từ
30 đến 40% thu nhập của mình để
trả tiền thuê nhà (trong khi đó ở
những nước phát triển, tỉ lệ này
trung bình là 19%). Thiếu vốn là một
trở ngại đối với việc xây dựng và
phát triển nhà ở. Vì chính quyền
không đủ nguồn lực để xây dựng và
Tài chính cho sở hữu
Ở các nước Đông Âu trong thời kỳ quá độ, Nhà
nước, trước kia là người phát triển và sở hữu nhà ở
nhiều nhất, đã bán lại phần lớn quỹ nhà của mình
cho những người đang sử dụng với giá thấp. Nhưng
từ đó trở đi, tình hình ngày càng xấu thêm.
Ít gia đình có đủ khả năng tài chính để mua nhà ở
mới, đặc biệt ở thành phố có sức hút về kinh tế.
Ngoài ra vì người dân ngại gửi tiền tiết kiệm vào hệ
thống ngân hàng, nên những nước này gặp nhiều
khó khăn trong việc triển khai các cơ chế tài chính
mới. Những chương trình đã triển khai dao động
giữa hệ thống hỗ trợ tiết kiệm (theo mô hình cũ của
Pháp và Đức) và mô hình của khu vực Bắc Mỹ về
bảo hiểm trung tâm các khoản cho vay có thế chấp
(Ba Lan).
S h gia đình có đ
kh năng mua nhà 

cho việc thực hiện chính sách thuế
đất và thuế công trình xây dựng của
thành phố.
Việc người dân đổ xô đến sinh sống
ở các khu tự phát đặt ra nhiều vấn
đề về đất đai. Đất công và chương
trình nhà ở cho người có thu nhập
thấp chỉ đáp ứng được một phần
nhỏ nhu cầu của người dân. Do đó,
nó thường được ưu tiên cho gia đình
có thu nhập trung bình và khách
hàng của nhà nước. Vì thế, các gia
đình nghèo không có sự lựa chọn
nào khác là tìm đến các đơn vị phi
chính quy về đất đai và nhà ở để
tìm được một mảnh đất hoặc để
thuê ở.
Quốc hữu hóa quyền sở hữu đất đai,
xác lập mức trần sở hữu đất đai, lập
cơ quan quản lý đất đai và công ty
đầu tư phát triển đô thị: tất cả các
hình thức can thiệp trực tiếp của
chính quyền hầu như đều thất bại.
Chỉ còn lại các hình thức can thiệp
gián tiếp:
• Chính sách thuế có thể hạn chế
đầu cơ đất đai: đánh thuế vào các
khu đất không phát huy giá trị tại đô
thị, đánh thuế vào giá trị gia tăng
khi chuyển nhượng hoặc sau khi

LHQ
www.unhabitat.org
Cơ quan Quốc gia Thông tin
Nhà ở - ANIL
www.anil.org
Hệ thống Nghiên cứu về
Nhà ở Châu Âu
www.enhr.ibf.uu.se/
index.html
Cơ quan Nghiên cứu Đất đa
i
www.foncier.org
Hội Nhà ở xã hội
www.union-hlm.org
Phong trào Pact Arim vì sự
Cải thiện Nhà ở
www.pact-arim.org
Trung tâm Khoa học – Kỹ
thuật xây dựng – CSTB
www.cstb.fr
Geoexpert
www.geoexpert.asso.fr
Groupe Huit
www.groupehuit.com
Hội Thông tin địa lý Pháp –
AFIGEO
www.afigeo.asso.fr
Danh bạ trang web trực
tuyến:
www.villesendevenir.org

Ghana.
Phát triển tín dụng nhà ở bằng các
định chế tài chính tương trợ lẫn
nhau, gần gũi với người dân, cũng là
một hướng để tạo cơ chế tài chính
cho nhà ở tại những nước nghèo.
Các mạng lưới tiết kiệm – tín dụng
tương trợ lẫn nhau ở Congo –
Brazzaville, Burkina Faso và Mali là
những ví dụ điển hình hiệu quả của
mô hình này. Số người gửi tiền tại
các Quỹ tín dụng nhân dân này
nhiều hơn số khách hàng của các
ngân hàng tại các địa phương. Dĩ
nhiên, số tiền tiết kiệm nhìn chung
còn khiêm tốn, nhưng tăng rất đều
và nhanh chóng. Nếu tình hình tài
chính lành mạnh, các Quỹ tín dụng
này có thể cho vay với mức vay
Từ không thừa nhận đến
hợp nhất
Cho đến cuối thập niên 60, sự
tồn tại của các khu tự phát vẫn
không được thừa nhận. Các
khu này không được thể hiện
trên bản đồ thành phố và trong
tài liệu quy hoạch. Từ những
năm 70, việc giải toả, hợp nhất
và tư nhân hoá các khu này
tuần tự được khuyến nghị thực

lệ này từ 35 đến 40%. Ở Đông Phi,
Châu Phi hạ Sahara và Nam Á, sự
phát triển của tín dụng có thế chấp
còn rất hạn chế và chiếm dưới 10%
tổng vốn đầu tư cho nhà ở.
Hiện nay, hệ thống ngân hàng và tài
chính ở các nền kinh tế phát triển
cho phép định hướng tiền gửi tiết
kiệm vào đầu tư cho nhà ở. Tại hầu
hết các quốc gia, ở mọi trình độ
phát triển, ngân hàng tư nhân và
nguồn cung tài chính nhà ở cho
những người thuộc tầng lớp trung
lưu khá đầy đủ. Điểm chung của
những nước đang phát triển và
những nền kinh tế mới nổi là tầng
lớp trung lưu dễ tiếp cận với nguồn
vốn để mua nhà, trong khi đó việc
đầu tư nhà ở cho người nghèo, vốn
chiếm đa số, thì lại thuộc về khu
vực phi chính quy. Về mặt chi phí,
nhà ở trái phép có thể còn gây tốn
kém hơn nhà ở hợp pháp. Thật vậy,
chi phí cho nhà ở, ăn uống và đi lại
chiếm 80% thu nhập của các gia
đình nghèo, tỉ lệ này cao hơn nhiều
so với tỉ lệ ở các gia đình trung lưu
hoặc giàu.
Vì vậy, công cụ tài chính có thế chấp
đã được triển khai thực hiện từ đầu

chỉ nhằm đảm bảo an toàn cho các
ngân hàng mà còn có nghĩa là
quyền của cá nhân đối với tài sản
đó đã được thừa nhận và bảo vệ.
Trong khi chờ đợi điều này, hỗ trợ
Chiến lược tài chính dài hạn
Theo sáng kiến của Ngân hàng Thế giới và Chương
trình nhà ở của Liên Hiệp Quốc (UN – Habitat) và với
sự hỗ trợ của 12 nước thuộc khối OCDE, chương
trình Cities Alliances giúp các thành phố xây dựng
Chiến lược Phát triển đô thị (City Developpement
Strategies – CDS). Chương trình hỗ trợ tài chính và kỹ
thuật cho các chủ thể tại địa phương xây dựng dự án
phát triển đô thị của mình. Chiến lược này đặc biệt
nhấn mạnh đến việc sắp xếp thứ tự ưu tiên trong hành
động và đầu tư. CDS hỗ trợ các hoạt động như cải
cách chính sách, thể chế và quy định trên quy mô cả
đô thị. Một trong những hướng của CDS là minh bạch
hóa công tác quản lý dịch vụ nhằm ổn định nguồn thu
và thu hút thêm vốn của đơn vị trong và ngoài nước,
nhà nước và tư nhân. Cities Alliance đã hỗ trợ xây
dựng CDS ở hơn 150 thành phố trên thế giới.
Các thành ph có th
nh giúp đ xây dng
chin lc phát trin
đô th và nhn đc
s h tr tài chính và
chuyên môn.
Tiếp cận các dịch vụ cơ bản
45

chuẩn kỹ thuật và môi trường, cơ
chế kiểm tra và mức đóng góp của
người sử dụng).
Cần phải xác định rõ ràng trách nhiệm
của mỗi bên: chính quyền trung ương
Hinh bên cnh, t
trên xung di:
Thành ph Macia
(Mozambique)
đc ni vào li
đin quc gia; bãi
rác Chimalhuacan
(Mexico).
Hình bên di: ti các
đô th  n Đ, nc
ung đc là mt
thách thc v sc
khe cng đng.
Hình bên cnh, np
cng  Pê-ru.
Công bằng trong tiếp cận dịch vụ
Khi đề cập đến việc tiếp cận các
dịch vụ, cần phân biệt rạch ròi 2 vấn
đề sau: Có cơ sở hạ tầng cần thiết
hay không và tính liên tục của dịch
vụ có được đảm bảo hay không?
Giá dịch vụ có vừa túi tiền của
người sử dụng hay không?
Nước Pháp đã mất hơn 100 năm để
đưa các dịch vụ cơ bản này đến với

Nhưng nếu không có các dịch vụ này,
thì những ngành như giáo dục, y tế,
nhà ở, các hoạt động kinh tế không
thể vận hành ổn định được.
Tiếp cận
các dịch
vụ cơ bản
Đô thị là địa bàn
phù hợp nhất để
cung cấp dịch
vụ cơ bản
như cấp
nước sinh
hoạt, xử lý nước
thải, thu gom và
xử lý rác thải, điện
(rộng hơn là năng lượng)
và giao thông. Chính quyền
địa phương cần được
trang bị chuyên môn kỹ
thuật cũng như phương
tiện tài chính để thực hiện
tốt nhiệm vụ này.
Tiếp cận các dịch vụ cơ bản
47
Trong nhiều trường hợp, thực tế
cho thấy có sự nhập nhằng về vai
trò và trách nhiệm của cơ quan tổ
chức dịch vụ và đơn vị khai thác
(thường là một doanh nghiệp nhà

uỷ thác quản lý dịch vụ công (IGD) thông qua và ký kết.
Quy chế này nhấn mạnh đến các nguyên tắc cơ bản
trong quản lý: minh bạch, rõ ràng và phân chia trách
nhiệm của các bên, sự tham gia của tất cả các bên có
liên quan vào việc ra quyết định định hướng, đánh giá
hiệu quả dịch vụ…Không mang tính bắt buộc, quy chế
này dự trên sự tham gia tự nguyện và điều chỉnh trên cơ
sở giữ uy tín của mỗi bên. Sau khi Quy chế được ký kết,
các nhóm công tác theo từng lĩnh vực gồm đại diện của
các bên ký kết đề ra các chỉ số đánh giá hiệu quả cho
từng dịch vụ: cấp nước sạch, xử lý nước thải, thu gom
và xử lý rác thải, giao thông công cộng.
Một số giải pháp dành cho
người thu nhập thấp
Ở Thành phố Port-au-Prince,
Công ty cấp nước CAMEP, đơn
vị nhà nước, bán nước sĩ cho
các ban quản trị khu phố. Ban
này quản lý các điểm bơm nước
để bán nước có chất lượng với
giá thấp cho người dân. Công ty
Aguas Argentinas ở Thành phố
Buenos Aires đã tổ chức mô hình
quản lý có sự tham gia và chia
sẽ vai trò trách nhiệm tại các khu
vực khó khăn. Doanh nghiệp
cung cấp trang thiết bị và khuôn
khổ quản lý, còn người dân đóng
góp công lao động. Việc tiết kiệm
chi phí góp phần làm giảm giá

Giá dịch vụ phù hợp với từng
đối tượng xã hội
Ở Chilê, cơ chế trợ giá cho các
hộ nghèo đã được triển khai thực
hiện để giúp các hộ này thanh
toán hoá đơn sử dụng nước sạch
và xử lý nước thải. Sau khi được
chính quyền địa phương xác
nhận thuộc diện nào, hộ đó sẽ
được giảm từ 25 đến 85% số tiền
trên hoá đơn dịch vụ do đơn vị
cung cấp dịch vụ gửi đến. Đơn vị
cung cấp dịch vụ nhận được trợ
cấp trực tiếp từ Thành phố số tiền
tương ứng với phần giảm giá.
Về phần mình, chính quyền thành
phố được chính quyền trung
ương cấp cho khoản ngân sách
tương ứng. Để được hưởng trợ
cấp này, người sử dụng phải
thanh toán hoá đơn của mình.
Làm hoá đn, thu
tin và tip khách
hàng ti hp tác
xã đin lc
Tangali
(Bangladesh).
lập khung pháp lý và ban hành quy
định; chính quyền địa phương có
trách nhiệm tổ chức dịch vụ (đặc

Nguồn thu của đơn vị khai thác bao
gồm đóng góp của người sử dụng
với mức độ khác nhau (theo biểu phí
dịch vụ) và phần trợ giá của nhà
nước.
Biểu giá dịch vụ có thể được xây
dựng dựa trên nguyên tắc chia sẻ
lẫn nhau giữa những người sử dụng
(dùng cho sinh hoạt hoặc công
nghiệp, hộ giàu hay hộ nghèo),
nhưng điều này thường gây ra những
hiệu ứng xấu, như phát triển dịch vụ
thay thế khi mức đóng góp quá cao.
Cũng có thể áp dụng hình thức chia
sẻ lẫn nhau giữa các dịch vụ (thường
là giữa cấp nước sạch và xử lý nước
thải, hoặc giữa điện và nước), nhưng
cũng có cùng rủi ro như trên. Ngày
nay, việc áp dụng biểu giá mang tính
xã hội, khi diện người sử dụng được
xác định và phân loại rõ ràng và khi
đơn vị tổ chức dịch vụ đảm trách
phận trợ giá, được xem là cách tốt
nhất.
Các nguồn tài chính bổ sung có thể
lấy từ thuế dựa trên nguyên tắc chia
sẻ lẫn nhau giữa các vùng miền,
các tầng lớp xã hội và thu nhập của
người đóng thuế. Chính phủ và chính
quyền cấp vùng đóng vai trò quan

hàng Thế giới.
www.worldbank.org/watsan
Viện quản lý nước quốc tế –
IWMI
www.cgiar.org/iwmi
Tập đoàn nước Suez Lyon –
Onde Services
www.suez-env.com
Tập đoàn nước Veolia
www.veoliaeau.com
BCEOM (Công ty tư vấn
của Pháp)
www.bceom.fr
Công ty tư vấn Sogreah
www.sogreah.fr
Công ty tư vấn kỹ thuật và
kinh tế – ICEA
www.icea-consult.com
Liên đoàn doanh nhân Pháp
trên thế giới – SEFI
www.sefifrance.fr
Viện nghiên cứu chính trị
Rennes –IEP
Chương trình Thạc sĩ
ISUR (Thiết kế mạng lưới
dịch vụ đô thị ở các nước
đang phát triển).
www.rennes.iep.fr
Danh bạ trang web trực
tuyến:

nhà nước, thường là những khoản
đầu tư không thu hồi lại được, là
không thể thiếu. Nguồn vốn có thể
đến từ vốn viện trợ quốc tế hoặc
vốn vay (hoàn trả vốn vay bằng tiền
thuế hoặc đôi khi trích một phần tiền
của người sử dụng). Để có thể dễ
dự trù phương án tài chính, thì thời
hạn vay càng dài càng tốt (30–40
năm) và chi phí vốn vay càng thấp
càng tốt: Hoặc vốn có được từ nguồn
có lãi suất thấp (tiết kiệm của người
dân, quỹ lương hưu, vốn vay trong
khuôn khổ chương trình hợp tác
quốc tế), hoặc nhờ các nhà tài trợ
quốc tế bảo lãnh để giảm bớt tiền
bảo hiểm rủi ro. Cơ quan tổ chức
dịch vụ phải tiếp cận được các nguồn
vốn vay này. Ở nhiều quốc gia, chính
quyền địa phương không được tiếp
Giữa nhà nước và tư nhân
Quan hệ đối tác công–tư, kết hợp giữa một cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức dịch vụ và một
doanh nghiệp cung cấp dịch vụ, thường được sử dụng để quản lý dịch vụ đô thị. Ngoài mô hình Công ty
kinh tế hỗn hợp ở Pháp, các hình thức quan hệ đối tác công–tư khác đều dựa trên quan hệ hợp đồng, với
một hồ sơ kỹ thuật cụ thể do đơn vị tổ chức dịch vụ đưa ra và do đối tác tư nhân thực hiện. Quan hệ đối
tác công–tư có thể áp dụng cho toàn bộ dịch vụ (khai thác, bảo trì và sửa chữa các công trình, quản lý
người sử dụng) hoặc đối với một công trình riêng biệt (một nhà máy thủy điện, một nhà máy cấp nước).
Có nhiều hình thức thiết lập mối quan hệ đối tác công–tư:
Nguồn tài chính
Lĩnh vực Thời hạn trung Đơn vị sở để chi trả cho đối

Belem (Braxin).
Bo trì đng cng
thoát nc 
Bamako (Mali).
Nguồn: Viện Quản lý.

Trích đoạn Bảo tồn và phát huy giá trị di sản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status