Lời giới thiệu
Trong xu thế toàn cầu hoá quốc tế hoá hiện nay, các quốc gia trên thế
giới ở mức độ này hay mức độ khác đều tuỳ thuộc lẫn nhau, có quan hệ qua
lại với nhau. Vì thế nớc nào đóng cửa với thế giới là đi ngợc lại xu thế của thời
đại và khó tránh khỏi bị rơi vào lạc hậu, trái lại mở cửa hội nhập kinh tế quốc
tế tuy có phải trả giá nhất định song đó là yêu cầu tất yếu hớng tới sự phát
triển của mỗi nớc, mỗi quốc gia.
Đứng trớc yêu cầu ngày càng cấp bách đó, Đại hội Đảng IX đã đa ra văn
kiện về vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc
tế. Trong bối cảnh hiện nay đặt vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là hoàn toàn đúng đắn và chính xác. Hai
mặt đó có mối quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau nhằm phát
triển nền kinh tế nớc ta ngày càng vững mạnh theo định hớng xã hội chủ
nghĩa.
Trên cơ sở phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến tôi viết bài tiểu luận
này với mong muốn mọi ngời có một cách nhìn sâu sắc hơn, cặn kẽ hơn, toàn
diện hơn về những nguy cơ thách thức cũng nh thời cơ khi chúng ta tham gia
vào quá trình hội nhập kết hợp với xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, và ảnh
hởng qua lại giữa việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh
tế quốc tế.
Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài tiểu luận tôi không thể trình bày
tất cả các vấn đề liên quan đến việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội
nhập kinh tế quốc tế mà chỉ có thể đi sâu vào nghiên cứu phân tích mối quan
hệ giữa chúng đồng thời đa ra những giải pháp, những kiến nghị nhằm góp
phần hoàn thiện đờng lối xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ kết hợp với chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế.
1
Chơng I
Phép biện chứng duy vật về mối liên hệ phổ biến
1. Phép biện chứng duy vật là khoa học về mối liên hệ phổ biến.
1.1. Phép biện chứng duy vật
sự phát triển) phép biện chứng duy vật đã phát hiện ra nguyên lý về mối liên
hệ phổ biến của các sự vật và hiện tợng trong thế giới, coi đây là đặc trng cơ
bản của phép biện chứng duy vật.
2.1. Khái niệm:
- Liên hệ: Là sự quy định lẫn nhau , tác động lẫn nhau giữa các yếu tố
trong cùng một sự vật hoặc giữa các sự vật hiện tợng của nhau.
- Liên hệ phổ biến: Là những mối liên hệ tồn tại một cách phổ biến cả
trong tự nhiên xã hội và t duy. Mối liên hệ phổ biến mang tính chất bao quát,
nó tồn tại thông qua những mối liên hệ đặc thù của sự vật, nó phản ánh tính đa
dạng và tính thống nhất của thế giới.
2.2. Nội dung nguyên lý:
- Triết học Mác khẳng định mọi sự vật hiện tợng trong thế giới đều nằm
trong mối liên hệ phổ biến, không có sự vật hiện tợng nào tồn tại một cách
biệt lập mà chúng tác động đến nhau ràng buộc quyết định và chuyển hoá lẫn
nhau. Các mối liên hệ trong tính tổng thể của nó quy định sự tồn tại vận động,
biến đổi của sự vật. Khi các mối liên hệ thay đổi tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi
sự vật.
2.3. ý nghĩa của nguyên lý
2.3.1. Cơ sở khoa học của quan điểm toàn diện:
- Trong nhận thức và hoạt động phải xem xét sự vật trong tính toàn vẹn
của nhiều mối liên hệ, nhiều mặt, nhiều yếu tố vốn có của nó kể cả các quá
trình, các giai đoạn phát triển của sự vật cả trong quá khứ hiện tại và tơng lai.
Có nh vậy mới nắm đợc thực chất của sự vật. Khi tuân thủ nguyên tắc này chủ
thể tránh đợc sai lầm cực đoan phiến diện một chiều.
- Không đợc đồng nhất và san bằng vai trò của các mối liên hệ của các
mặt sự vật. Phải phản ánh đúng vai trò của từng mặt, từng mối liên hệ. Phải rút
ra đợc những mối liên hệ bản chất nhất chủ yếu của sự vật khi tuân thủ nguyên
tắc này con ngời sẽ tránh đợc sai lầm nguỵ biện và chiết trung.
2.3.2. Cơ sở khoa học của quan điểm lịch sử cụ thể
- Mọi sự vật hiện tợng trong thế giới vật chất tồn tại vận động phát triển
cụ thể đây là ảnh hởng của việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội
nhập kinh tế quốc tế và ngợc lại. Có nh vậy chúng ta mới nắm đợc thực chất
của sự vật mới tránh đợc những sai lầm cực đoan phiến diện một chiều. Đặc
biệt đây lại là những vấn đề rất cấp bách đặt ra đối với chúng ta khi tham gia
quá trình toàn cầu hoá, quốc tế hoá. Chỉ có thể dựa trên nguyên lý mối liên hệ
phổ biến mới có thể giúp chúng ta nhìn sâu hơn, hiểu sâu hơn về vấn đề mà
mình đang nghiên cứu. Hơn nữa cũng theo quan điểm lịch sử cụ thể khi xem
xét một sự vật hiện tợng nào đó ta phải đặt nó trong hoàn cảnh cụ thể không
gian cụ thể. Vấn đề chúng ta đang nghiên cứu ở đây cần đợc đặt trong bối
cảnh toàn cầu hoá hiện nay, tình hình kinh tế nớc ta hiện nay để thấy rõ hơn đ-
ợc ảnh hởng của tình hình thế giới, tình hình trong khu vực, tình hình trong n-
4
ớc đối với việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ kết hợp với hội nhập kinh
tế quốc tế. Chính vì vậy dựa trên nguyên lý về mối liên hệ phổ biến sẽ giúp
chúng ta có một cách nhìn cặn kẽ hơn, tổng quát hơn. Chẳng hạn liệu hội nhập
kinh tế quốc tế có phải là một xu thế tất yếu không, hội nhập có phải là hoà
tan hay không, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ nh thế nào cho phù hợp
với tình hình hiện nay, phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tất cả
những vấn đề đó chỉ có thể giải đáp khi chúng ta hiểu rõ hơn về vấn đề chúng
ta đang nghiên cứu dựa trên nguyên lý về mối liên hệ phổ biến. Từ đó ta có thể
thấy rõ hơn tâm quan trọng của phép biện chứng mối liên hệ phổ biến.
ở chơng II, chơng III chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu rõ hơn, cặn kẽ hơn về
mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc
tế trên cơ sở phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến.
5
Chơng II
Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
với hội nhập kinh tế quốc tế
Thời cơ và thách thức
1. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
độc lập tự chủ về các mặt khác sẽ tạo ra sự độc lập tự chủ và sức mạnh tổng
hợp của một quốc gia.
1.1. Thế nào là nền kinh tế độc lập tự chủ ?
Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc, phụ thuộc
vào nước khác, người khác, hoặc vào một tổ chức kinh tế nào đó về đường
lối, chính sách phát triển, không bị bất cứ ai dùng những điều kiện kinh tế, tài
chính, thương mại, viện trợ để áp đặt, khống chế, làm tổn hại chủ quyền
quốc gia và lợi ích cơ bản của dân tộc.
Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế trước những biến động của thị
trường, trước sự khủng hoảng kinh tế tài chính ở bên ngoài, nó vẫn có khả
năng cơ bản duy trì sự ổn định và phát triển; trước sự bao vây, cô lập và
chống phá của các thế lực thù địch, nó vẫn có khả năng đứng vững, không bị
sụp đổ, không bị rối loạn.
Bảo đảm độc lập tự chủ về kinh tế cũng có nghĩa là bảo đảm vững chắc
định hướng xã hội chủ nghĩa và giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc
trong công cuộc phát triển kinh tế, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Không phải chờ đến khi có trình độ phát triển cao mới đặt vấn đề
giữ vững độc lập tự chủ, mà ngay từ đầu, ngay bây giờ đã phải bảo đảm yêu
cầu cơ bản về độc lập tự chủ, trước hết là về đường lối chính trị, các nguyên
tắc cơ bản về phát triển kinh tế. Đương nhiên, xây dựng kinh tế độc lập tự chủ
là một quá trình lâu dài, đi từ thấp đến cao, ngày càng hoàn chỉnh, ngày càng
bền vững.
Trong thời đại ngày nay, nói độc lập tự chủ về kinh tế không ai hiểu đó
là một nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, mà đặt trong mối quan hệ biện
chứng với mở cửa, hội nhập, chủ động tham gia sự giao lưu, hợp tác và cạnh
tranh quốc tế trên cơ sở phát huy tốt nhất nội lực và lợi thế so sánh của quốc
7
gia, tng bc xõy dng mt c cu sn xut ỏp ng c c bn nhu cu
thit yu v i sng ca nhõn dõn v cú kh nng trang b li mc cn thit
cho nhu cu phỏt trin kinh t, cng c quc phũng - an ninh.
năm 1990.
Khách du lịch quốc tế từ 1992 đến 1997 đã tăng bình quân hàng năm là
26,5%. Mật độ điện thoại năm 1999 đã tăng 13,8 so với năm 1991 và là nớc
có tốc độ phát triển viễn thông đứng thứ hai thế giới.
8
Vận chuyển hàng hoá tăng bình quân trong 10 năm qua là 9,2%, vận
chuyển hành khách - 14,25%.
Hoạt động xuất khẩu cũng có mức tăng trởng nổi bật. Tổng kim ngạch
xuất khẩu 10 năm qua đã tăng bình quân hàng năm 18,2%, tăng gấp 5,3 lần so
với năm 1990. Tốc độ tăng trởng giá trị nhập khẩu bình quân hàng năm 10
năm qua là 17,5%. Tổng giá trị xuất nhập khẩu năm 2000 đã tơng đơng tổng
GDP.
Vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI) đã tăng rất đáng kể. Tính đến quý I
năm 1999 đã có 2624 dự án đợc cấp giấy phép đầu t với tổng vốn đăng ký là
35,8 tỷ USD, nếu tính cả vốn bổ sung là 40,3 tỷ USD. Trong 10 năm qua, vốn
FDI đã chiếm khoảng 28% tổng vốn đầu t toàn xã hội.
Thứ hai, cơ cấu kinh tế đã có những chuyển biến tích cực. Tỷ trọng nông,
lâm, ng nghiệp trong GDP đã giảm từ 38,7% năm 1990 xuống còn 25,4% năm
1999; công nghiệp và xây dựng đã tăng từ 22,6% lên 34,9%; dịch vụ từ 35,7
lên 40,1%.
Trong nông nghiệp, cơ cấu cây trồng và vật nuôi đợc dịch chuyển theo h-
ớng tăng tỷ trọng một số cây công nghiệp và ăn quả có tiềm năng xuất khẩu và
sức cạnh tranh quốc tế nh cà phê, điều, chè, tiêu, rau quả, cao su , tốc độ phát
triển chăn nuôi tăng nhanh hơn trồng trọt.
Trong công nghiệp, các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ
cao đã đợc xây đựng, nhiều ngành công nghiệp mới đã đợc hình thành nh ô tô,
xe gắn máy, điện tử
Các ngành dịch vụ phát triển, đặc biệt là ngành bu chính viễn thông, du
lịch, thơng mại đã nâng đợc tỷ trọng lên trên 40% GDP.
Cơ cấu vùng kinh tế đã thay đòi theo hớng tập trung phát triển ba vùng
nghèo dới 10%; 21 tỉnh có tỷ lệ đói nghèo khoảng 11 - 19%.
1.3. Khó khăn và thử thách khi xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
Cơ bản nền kinh tế Việt Nam hiện nay lạc hậu về khoa học kỹ thuật
nhiều chục năm so với các nớc công nghiệp phát triển. Sản xuất, xuất khẩu
của ta chủ yếu gồm các nông khoáng sản thô và các mặt hàng công nghiệp thứ
cấp, khi sản xuất phải nhập khẩu máy và vật t phụ tùng, nông nghiệp lệ thuộc
vào phân bón, xăng dầu, thuốc sâu, nông cơ; công nghiệp lệ thuộc vào máy
vật t, linh kiện rời. Các nông khoáng sản thô nh gạo, cao su, cà phê, hàng thuỷ
sản, than đá - dầu thô, và các mặt hàng thứ cấp khác: hàng may mặc và giầy
dép là những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu Việt Nam vấp phải sự cạnh tranh rất
mạnh của các nớc kém mở mang khác, các hạn định quota nhập khẩu của nớc
ngoài, giá cả bấp bênh và có khuynh hớng giảm, thị trờng hạn chế. Trong
nhiều năm, gạo, cà phê, cao su, hàng may mặc của Việt Nam không xuất khẩu
đợc hết trên thị trờng thế giới, khiến cho giá sụt và làm giảm thu nhập của
công nhân, nông dân trong các ngành liên quan. Trong khi đó, nhập khẩu lại
hớng về máy, các vật t, linh kiện rời giá đắt và các hàng tiêu dùng cao cấp giá
rất đắt.
Tình hình này làm cho vị thế của ta trên thị trờng quốc tế yếu đi và dẫn
đến nhiều nguy cơ lớn về kinh tế tài chính.
Thứ nhất là nguy cơ bán rẻ nh cho và mua phải trả giá cao, tỷ lệ giao
hoán bất lợi, xuất phát từ việc xuất khẩu nông khoáng sản thô giá rẻ và nhập
10
khẩu hàng cao cấp giá cao. Sự thiệt thòi triền miên năm này qua năm khác
mỗi năm ớc hàng nhiều tỷ USD khiến cho nớc ta nghèo càng nghèo thêm.
Thứ hai là nguy cơ siêu đa đến thâm thủng cán cân thơng mại buộc phải
vay tiền nớc ngoài. Trong các năm 1995 dến 95 chúng ta nhập siêu trên dới 3
tỷ USD, nợ quốc tế tăng khoảng 2-3 tỷ USD/năm để trám vào thâm thủng của
cán cân thơng mại và các chi phí khác về ngoại tệ.
Thứ ba là nợ quốc tế tăng gia với tốc độ nhanh hàng năm đa đến tình
hình nợ đáo hạn và vốn lời phải trả mỗi năm mỗi tăng. Muốn trả nợ quốc tế,
11
chí TBT đã xác định là độc lập tự chủ kinh tế là nền tảng cơ bản bảo đảm sự
bền vững của độc lập tự chủ về chính trị, do đó cần phải có biện pháp xây
dựng nền kinh tế tự chủ và chủ động trong việc hội nhập vào kinh tế quốc tế.
12
2. Hội nhập kinh tế quốc tế
2.1. Thế nào hội nhập kinh tế quốc tế:
Ngày nay hội nhập kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ trên mọi châu lục, chi
phối đời sống kinh tế mọi quốc gia. Hội nhập kinh tế quốc tế là hiện tợng xảy
ra trong quan hệ giữa các quốc gia. Cách hiểu phổ biến nhất hiện nay về hội
nhập kinh tế là xoá bỏ sự khác biệt kinh tế giữa những nền kinh tế thuộc các
quốc gia khác nhau.
2.2. Bối cảnh quốc tế và khu vực liên quan tới chủ trơng hội nhập
kinh tế quốc tế ở nớc ta:
i hi ln th VIII ca ng ó xỏc nh nhim v "m rng quan h
kinh t i ngoi, ch ng tham gia cỏc t chc quc t v khu vc, cng c
v nõng cao v th nc ta trờn trng quc t". i hi ln th IX khng nh
ch trng "phỏt huy cao ni lc, ng thi tranh th ngun lc bờn ngoi
v ch ng hi nhp kinh t quc t phỏt trin nhanh, cú hiu qu v bn
vng". Ch trng hi nhp c ra trong bi cnh tỡnh hỡnh th gii v
khu vc din bin nhanh chúng, phc tp, khú lng trc v chớnh tr, kinh
t, vn húa, xó hi v khoa hc - k thut, vi nhng c im ni bt sau :
2.2.1. Trong hn mt thp k qua, kinh t th gii nhỡn chung phỏt trin
khụng n nh v khụng ng u, v tc thp hn thp k trc (trờn
2%/nm so vi 3,2%) ; ó xy ra my cuc khng hong ln, sõu rng hn c
l cuc khng hong kinh t - ti chớnh n ra nm 1997 ; v trớ cỏc nc v
cỏc khu vc thay i theo hng : kinh t M phỏt trin nhanh v n nh liờn
tc trong nhiu nm v n 2002 bt u suy gim ; kinh t Tõy u hin
khụng cũn phỏt trin nhanh nh cỏc thp k trc ; kinh t Nht suy thoỏi
cha cú li ra ; cỏc nc thuc Liờn Xụ trc õy v ụng u ri vo tỡnh
thoái môi trường, bùng nổ dân số, nghèo đói, các bệnh tật hiểm nghèo, các
vấn đề xã hội "xuyên quốc gia" , không một quốc gia riêng lẻ nào có thể giải
quyết được mà cần phải có sự hợp tác đa phương.
Tình hình trên làm nảy sinh và thúc đẩy xu thế hội nhập để phát triển.
Trong xu thế chung đó, các nước công nghiệp phát triển, trước hết là Mỹ, do
có ưu thế về thị trường, nắm được tiến bộ khoa học - công nghệ, có nền kinh
tế phát triển cao, đã ra sức thao túng, chi phối thị trường thế giới, áp đặt điều
14
kiện đối với các nước chậm phát triển hơn, thậm chí dùng những biện pháp
thô bạo như bao vây, cấm vận, trừng phạt, làm thiệt hại lợi ích của các nước
đang phát triển và chậm phát triển. Trước tình hình đó, các nước đang phát
triển đã từng bước tập hợp nhau lại, đấu tranh chống chính sách cường quyền
áp đặt của Mỹ để bảo vệ lợi ích của mình vì một trật tự kinh tế quốc tế bình
đẳng, công bằng. Điều đó chứng tỏ xu thế hội nhập phản ánh cục diện vừa
đẩy mạnh hợp tác, vừa đấu tranh khốc liệt.
2.2.3. Ở khu vực Đông-Nam Á đã diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc.
Sau nhiều thập kỷ chiến tranh, đối đầu, Đông-Nam Á đã có hòa bình,
tuy còn tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây bất ổn định, xu thế hợp tác để phát
triển không ngừng gia tăng. Mặc dù trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế - tài
chính trầm trọng thời gian 1997-1998, song đây vẫn là khu vực có nhiều tiềm
năng do vị trí địa - chính trị và địa - kinh tế của mình, dung lượng thị trường
lớn, tài nguyên phong phú, lao động dồi dào, được đào tạo tốt, có quan hệ
quốc tế rộng rãi.
Toàn bộ tình hình trên đem lại nhiều thuận lợi to lớn, đồng thời cũng
đặt ra nhiều thách thức gay gắt đối với nước ta trong quá trình phát triển đất
nước nói chung và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng.
2.3. Nh÷ng kÕt qu¶ ®¹t ®îc khi ViÖt Nam tham gia qu¸ tr×nh héi
nhËp kinh tÕ quèc tÕ
Quá trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại
thời gian qua đã mang lại cho chúng ta những kết quả quan trọng :
nhà tài trợ đã cam kết dành cho nước ta gần 20 tỷ USD, chủ yếu là cho vay ưu
đãi với lãi suất từ 0,75% đến 2,5% tùy theo mỗi đối tác ; một phần là viện trợ
không hoàn lại.
2.3.5. Tiếp thu khoa học và công nghệ, kỹ năng quản lý, góp phần đào
tạo một đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ kinh doanh năng động, sáng tạo.
Quá trình hội nhập vào nền kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội để Việt Nam
tiếp cận với những thành quả của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang
phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Nhiều công nghệ và dây chuyền sản xuất
16
hiện đại được sử dụng đã tạo nên bước phát triển mới trong các ngành sản
xuất. Đồng thời, thông qua các dự án liên doanh hợp tác với nước ngoài, các
doanh nghiệp Việt Nam đã tiếp nhận được nhiều kinh nghiệm quản lý tiên
tiến.
2.3.6. Từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế
vào môi trường cạnh tranh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại,
nhiều doanh nghiệp đã nỗ lực đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao
năng suất và chất lượng, không ngừng vươn lên trong cạnh tranh để tồn tại và
phát triển ; khả năng cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp đã được nâng lên ; đã
có hàng trăm doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn
ISO-9000. Một tư duy mới, một nếp làm ăn mới, lấy hiệu quả sản xuất
và kinh doanh làm thước đo, một đội ngũ các nhà doanh nghiệp mới năng
động, sáng tạo có kiến thức quản lý đang hình thành.
2.4. Nh÷ng mÆt yÕu kÐm vµ tån t¹i khi ViÖt Nam tham gia vµo qu¸
tr×nh héi nhËp kinh tÕ quèc tÕ
Tuy nhiên, qua quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta cũng bộc lộ
nhiều mặt yếu kém :
2.4.1. Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế đã được khẳng định trong
nhiều nghị quyết của Đảng và văn kiện của Nhà nước và trên thực tế đã được
mối liên hệ khăng khít, biện chứng với nhau. Trong điều kiện toàn cầu hoá
kinh tế đã trở thành một xu thế khách quan, chi phối sự phát triển của các nớc
trên thế giới, để phát triển bền vững, hiệu quả mỗi quốc gia phải xây dựng nền
kinh tế độc lập tự chủ, đồng thời thực hiện chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Có xây dựng đợc nền kinh tế độc lập tự chủ thì mới tạo đợc cơ sở kinh tế, cơ
sở vật chất - kỹ thuật của chế độ chính trị độc lập, tự chủ. Độc lập tự chủ về
kinh tế là nền tảng vật chất để đảm bảo cho sự độc lập tự chủ, bền vững về
chính trị. Thực tế nhiều nớc cho thấy không thể có độc lập tự chủ về chính trị
nếu bị lệ thuộc về kinh tế.
Có lẽ sau khi nghiên cứu kỹ đề tài chúng ta có thể nhận ra rằng không
thể có độc lập tự chủ khi không có hội nhập kinh tế quốc tế, giữa chúng có
mối liên hệ biện chứng với nhau. Chỉ có xây dựng một nền kinh tế độc lập tự
18
chủ chúng ta mới có đầy đủ t cách và tự lực để chủ động hội nhập đúng hớng
và có hiệu quả và ngợc lại chỉ có chủ động hội nhập kinh tế quốc tế chúng ta
mới nhanh chóng bổ sung cho nội lực còn khiếm khuyết thiếu hụt rút ngắn
con đờng phát triển nhằm không ngừng tự hoàn thiện mình để giữ vững nền
độc lập tự chủ. Hơn nữa chúng ta chủ động hội nhập chính là chúng ta chủ
động bảo vệ và quyết tâm bảo vệ bằng đợc mục tiêu độc lập tự chủ trong phát
triển. Độc lập tự chủ để mở cửa chủ động hội nhập để bảo vệ độc lập tự chủ.
Mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế
quốc tế là mối quan hệ tơng hỗ, có tính biện chứng; hội nhập càng chất lợng
thì độc lập tự chủ càng cao. Độc lập tự chủ càng cao thì càng có điều kiện chủ
động, tích cực hội nhập. Việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ hiện nay
không hề mâu thuẫn với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu
hoá kinh tế.
19
Chơng III
Những giải pháp và kiến nghị
1. Đờng lối xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
năm (khoảng 5%/năm) để tiếp tục cải thiện từng bớc đời sống của nhân dân.
20
- Có thể chế kinh tế - xã hội bền vững, có cơ cấu kinh tế hợp lý, có hiệu
quả và sức cạnh tranh. Trong mô hình CNH mới hiện nay, vấn đề xây dựng cơ
cấu kinh tế theo hớng ngày càng có sức cạnh tranh cao hơn, có hiệu quả lớn
hơn là một yếu tố quan trọng hàng đầu. Thực tế cho thấy, trong cuộc khủng
hoảng tài chính - tiền tệ vừa qua, nớc nào có sức cạnh tranh cao hơn thì sẽ có
sức chịu đựng và hạn chế đợc tác động và khủng hoảng nhiều hơn (nh Xin-ga-
po, ) Sức cạnh tranh đó phụ thuộc vào việc phát huy những lợi thế so sánh và
lợi thế cạnh tranh về các mặt: con ngời và nguồn nhân lực, vị trí địa lý, tài
nguyên thiên nhiên, đặc biệt là việc vận dụng những yếu tố tiến bộ khoa học
và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa, tổ chức và quản lý dựa trên một
cơ cấu kinh tế hợp lý, phù hợp nhu cầu của thị trờng trong nớc và thị trờng
quốc tế. Cơ cấu kinh tế này phải luôn luôn đợc hoàn chỉnh, nâng cấp, gắn với
một cơ cấu công nghệ ngày càng tiến bộ, tạo ra và phát triển năng lực nội sinh
về khoa học và công nghệ của đất nớc. Cho đến nay, việc tạo dựng một cơ cấu
kinh tế, trớc hết là cơ cấu ngành kinh tế và gây dựng một năng lực nội sinh về
khoa học và công nghệ nh thế để bảo đảm cho sự độc lập tự chủ vững chắc về
kinh tế của nớc ta, còn ở giai đoạn khởi đầu.
- Có kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại và một số ngành công nghiệp
nặng then chốt. Kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất cơ bản của nền kinh tế và
xã hội. Chúng ta phải chăm lo xây dựng từng bớc cả kết cấu hạ tầng kinh tế
(giao thông, điện lực, bu chính viễn thông, thủy lợi, cấp - thoát nớc ) và kết
cấu hạ tầng xã hội (trờng học, bệnh viện, cơ sở nghiên cứu khoa học, văn hóa,
thông tin, thể dục thể thao ) Yêu cầu về lĩnh vực này thật sự to lớn, dù là ở
mức tối thiểu, để tạo điều kiện tiền đề cho sự phát triển. Do đó, phải khẩn tr-
ơng xây dựng có hiệu agóp phần đạt mục tiêu sớm vợt qua tình trạng kém phát
triển.
Sức mạnh kinh tế của nớc ta chủ yếu và về lâu dài phải dựa vào sức
mạnh của nền công nghiệp. Trong nền công nghiệp này, cần thiết và có thể
cho nền kinh tế và đời sống nhân dân, còn tạo đợc nguồn xuất khẩu quan
trọng. Trong việc bảo đảm an toàn năng lợng, cùng với việc đẩy mạnh khai
thác dầu khí, phát triển lọc dầu và chế biến dầu, phát triển nhanh điện năng đi
trớc và khẩn trơng thực hiện điện khí hóa trong cả nớc.
Điều cơ bản để có nền kinh tế độc lập tự chủ có thực lực kinh tế đủ
mạnh thì nớc ta phải trở thành một nớc công nghiệp theo hớng hiện đại. Vì
vậy, đẩy mạnh CNH, HĐH là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân ta
trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta.
2. Đờng lối hội nhập kinh tế quốc tế
2.1. Mc tiờu ca hi nhp kinh t Quc t
Ch ng hi nhp kinh t quc t nhm m rng th trng, tranh th
thờm vn, cụng ngh, kin thc qun lý y mnh cụng nghip húa, hin
i húa theo nh hng xó hi ch ngha, thc hin dõn giu, nc mnh, xó
22
hội công bằng, dân chủ, văn minh, trước mắt là thực hiện thắng lợi những
nhiệm vụ nêu ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội năm 2001 - 2010
và Kế hoạch 5 năm 2001 - 2005.
2.2. Những quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập.
2.2.1. Quán triệt chủ trương được xác định tại Đại hội IX là : "Chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực,
nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc ; an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc, bảo vệ môi trường".
2.2.2. Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân ; trong quá
trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần
kinh tế, của toàn xã hội, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
2.2.3. Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh và
cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo,
khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tùy theo đối
tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể ; vừa phải đề phòng tư tưởng trì
đa lợi thế so sánh của nước ta, ra sức phấn đấu không ngừng nâng cao chất
lượng, hạ giá thành sản phẩm và dịch vụ, bắp kịp sự thay đổi nhanh chóng
trên thị trường thế giới, tạo ra những ngành, những sản phẩm mũi nhọn để
hàng hóa và dịch vụ của ta chiếm lĩnh thị phần ngày càng lớn trong nước cũng
như trên thế giới, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
Tiến hành điều tra, phân loại, đánh giá khả năng cạnh tranh của từng sản
phẩm, từng dịch vụ, từng doanh nghiệp, từng địa phương để có biện pháp
thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả và tăng cường khả năng cạnh tranh. Gắn
quá trình thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa IX về tiếp tục sắp
xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước với quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong quá trình hội nhập cần quan tâm tranh thủ những tiến bộ mới của
khoa học, công nghệ ; không nhập khẩu những công nghệ lạc hậu, gây ô
nhiễm môi trường.
24
Đi đôi với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm và dịch
vụ, của các doanh nghiệp, cần ra sức cải thiện môi trường kinh doanh, khả
năng cạnh tranh quốc gia thông qua việc khẩn trương đổi mới và xây dựng
đồng bộ hệ thống pháp luật phù hợp với đường lối của Đảng, với thông lệ
quốc tế, phát triển mạnh kết cấu hạ tầng ; đẩy mạnh công cuộc cải cách hành
chính nhằm xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch về phẩm chất, vững mạnh
về chuyên môn.
2.3.4 - Tích cực tạo lập đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ; thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước
hoàn thiện các loại hình thị trường hàng hóa, dịch vụ, lao động, khoa học -
công nghệ, vốn, bất động sản ; tạo môi trường kinh doanh thông thoáng,
bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế, tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý
kinh tế của Nhà nước đối với nền kinh tế, đặc biệt chú trọng đổi mới và củng
cố hệ thống tài chính, ngân hàng.