Khoá luận tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
MỤC LỤC
SV: Bùi Thị Hà My Lớp: Anh 3 – TCQT B – K 46
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
BẢNG DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
TIẾNG VIỆT
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
ECB Ngân hàng Trung ương châu Âu
EU Liên minh Châu Âu
FED Cục Dự trữ Liên bang
IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế
NHNN (NHTW) Ngân hàng Nhà nước/Ngân hàng Trung ương
NHTM Ngân hàng thương mại
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức
PPP Ngang giá sức mua
VCCI Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam
WB Ngân hàng Thế giới
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
USD Đồng đô la Mỹ
VND Đồng Việt Nam
EUR Đồng tiền chung châu Âu
CNY Đồng Nhân dân tệ
JPY Đồng Yên Nhật
SV: Bùi Thị Hà My Lớp: Anh 3 – TCQT B – K 46
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2008 là năm nền kinh tế thế giới có nhiều biến động, và sự sụp đổ
“bong bóng” bất động sản ở Mỹ đã khai ngòi cho giai đoạn khủng hoảng của
nền kinh tế Mỹ , kéo theo đó là sự phá sản của nhiều ngân hàng lớn trên thế
nay vẫn xa rời thực tiễn. Cơ chế cố định tỷ giá từ trước những năm đổi mới
quay trở lại với cái mác tỷ giá thả nổi có quản lý song lại quản lý theo kiểu bò
trườn (một dạng khác của tỷ giá cố định). Chính cách quản lý này đã khiến tỷ
giá danh nghĩa bị định cao hơn so với tỷ giá thực rất nhiều lần.
Thế giới giờ đây đã đổi khác, cái luận cứ phát triển hoạt động ngoại
thương nhờ sản xuất và bán hàng hóa ở mức giá rẻ do giá thành thấp không
còn thích hợp. Vụ kiện bán phá giá cá tra, cá basa và sắp tới đây là vụ kiện
bán phá giá tôm do Mỹ tiến hành đối với phía Việt Nam là một minh chứng
hùng hồn cho vấn đề này. Xuất phát từ những khó khăn hiện nay mà ngoại
thương Việt Nam đang phải đối mặt cũng như những hạn chế trong vấn đề
quản lý tỷ giá, người viết đã chọn đề tài: Sự biến động của tỷ giá hối đoái và
tác động của nó tới hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt
Nam giai đoạn 2008 - 2010
2.Mục tiêu nghiên cứu:
*Hệ thống lại một số vấn đề lý luận liên quan đến tỷ giá hối đoái.
*Tổng kết, đánh giá toàn diện tỷ giá hối đoái trong tương quan với hoạt
động ngoại thương Việt Nam.
*Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn và chiến lược xuất khẩu của
nước ta nhằm đưa ra một số giải pháp tăng cường tác động tích cực của tỷ giá
hối đoái lên hoạt động ngoại thương.
3.Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài áp dụng phương pháp phân tích- tổng hợp, tự nghiên cứu vận
dụng những lý luận cơ bản về tỷ giá hối đoái và tham khảo kinh nghiệm về
điều hành tỷ giá hối đoái tại một số nước trên thế giới nhằm đưa ra được mốt
SV: Bùi Thị Hà My Lớp: Anh 3 – TCQT B – K 46
2
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
số giải pháp tăng cường tác động tích cực của tỷ giá lên hoạt động ngoại
thương Việt Nam.
4.Phạm vi nghiên cứu:
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
I. Tỷ giá hối đoái.
1. Định nghĩa tỷ giá hối đoái.
Đối với những giao dịch trong nước, chúng ta thanh toán với nhau bằng
đồng nội tệ, nhưng khi giao thương với nước ngoài, ví dụ như Mỹ, chúng ta
không thể dùng tiền đồng để thanh toán vì họ muốn chúng ta trả bằng đô la
Mỹ. Như vậy, một vấn đề được đặt ra là chúng ta cần bao nhiêu tiền đồng để
đổi lấy một đô la Mỹ. Khi đó, chúng ta phải quan tâm đến một khái niệm: đó
là tỷ giá hối đoái.
Hiện nay trên thế giới, có nhiều cách định nghĩa về tỷ giá hối đoái. Karl
Mark là người đầu tiên đưa ra khái niệm tỷ giá hối đoái. Trong bộ “Tư bản”
(1858) ông viết : “Tỷ giá hối đoái là một phạm trù kinh tế lịch sử, gắn với giai
đoạn phát triển sản xuất của xã hội, tính chất, cường độ tác động của nó phụ
thuộc vào trình độ phát triển thị trường và các giai đoạn cụ thể trong lưu
thông tiền tệ thế giới”. Đây là một khái niệm phức tạp mang nặng tính lý luận
nhưng cũng đã thể hiện được phần nào tính lịch sử cũng như sự vận động của
tỷ giá. Sau Mark, tỷ giá hối đoái đã được hiểu đơn giản hơn. Theo Mankiw, tỷ
giá hối đoái giữa hai quốc gia là giá cả mà tại đó người dân của các quốc gia
này giao dịch với nhau. “The exchange rate between two countries is the
price at which residents of those countries trade with each other”. Trong
Dictionary of banking terms, Thomas P. Fitch định nghĩa: Tỷ giá hối đoái là
giá chuyển đổi một đồng tiền này sang một đồng tiền khác “Exchange rate is
conversion price for exchange one curency for another”. Theo Frederic S.
Miskhin: The Economics of Money, Banking and Financial Markets: Giá của
SV: Bùi Thị Hà My Lớp: Anh 3 – TCQT B – K 46
4
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
một đồng tiền được biểu thị bằng một đồng tiền khác “The price of one
currency is terms of another is called the exchange rate”. Còn theo Pháp lệnh
giấy của hai nước với nhau.
Ví dụ: Trước năm 1914, hàm lượng của GBP là 123,274 grains (7,9880
gam vàng), của USD là 23,22 grains (1,5047 gam vàng), do đó so sánh giữa
GBP và USD ta được:
GBP = 123,274 grains/ 23.22 grains = 5,3089 USD
Chế độ này có ưu điểm là sức mua của đồng tiền ổn định vì được đảm
bảo bằng một hàm lượng vàng nhất định. Tuy nhiên cũng có nhược điểm là
thiếu tiền trong lưu thông và vàng bị hao mòn trong quá trình sử dụng, rất
khó chia nhỏ khi mua bán hàng hóa với giá trị nhỏ.
Chế độ bản vị vàng với cơ chế ngang giá vàng đã đem lại nguồn lợi cho
rất nhiều quốc gia đặc biệt là Anh. Tuy nhiên đến cuối thế kỳ 19, các mỏ vàng
đứng trước nguy cơ bị khai thác hết, lượng cung vàng khan hiếm dần, tình
trạng giảm phát liên tiếp xảy ra, một cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái mới
xuất hiện: Cơ chế ngang giá sức mua.
2.1.2. Thuyết ngang giá sức mua.
Thời kỳ bản vị vàng qua đi, tiền giấy đảm nhận toàn bộ chức năng
thanh toán, cùng với việc giấy bạc không được tự do đổi ra vàng theo hàm
lượng vàng ấn định, ngang giá vàng không còn là cơ sở hình thành tỷ giá hối
đoái. Thay vào đó, việc so sánh hai đồng tiền với nhau được thực hiền bằng
so sánh sức mua của hai tiền tệ. Tỷ giá hối đoái hình thành trên cơ chế ngang
giá sức mua ra đời.
Ý tưởng ngang giá sức mua xuất phát từ thế kỷ 19 với sự góp mặt của
nhà kinh tế học trường phái cổ điểm David Ricardo, sau đó được mở rộng và
hệ thống hóa bởi nhà kinh tế học Thụy Điển Gustav Cassel những năm 1920.
Ngang giá sức mua nhanh chóng được đón nhận trong bối cảnh siêu lạm phát
SV: Bùi Thị Hà My Lớp: Anh 3 – TCQT B – K 46
6
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
diễn ra ở Đức, Hungari và Liên bang Xô Viết khi sức mua tiền tệ các quốc gia
này đột nhiên sụt giảm bất ngờ. Thuyết ngang giá sức mua được xây dựng
Trong đó: % ΔS: Tốc độ thay đổi của tỷ giá
% ΔP
D
: Tỷ lệ lạm phát trong nước
% ΔP
F
: Tỷ lệ lạm phát nước ngoài
Điều này có thể hiểu là nếu tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam là 10%, ở Mỹ là
5/5 thì giá đồng đô la Mỹ dẽ được nâng lên 5% so với đồng Việt Nam. Tuy
SV: Bùi Thị Hà My Lớp: Anh 3 – TCQT B – K 46
7
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
nhiên, PPP tương đối lại chỉ xem xét hàng hóa mậu dịch, đối với hàng hóa phi
mậu dịch như dịch vụ cắt tóc thì PPP tương đối chưa giải thích được cơ chế
hình thành tỷ giá, PPP tương đối không giải thích được tại sao cắt một kiểu
đầu mới giá ở Mỹ là 20 USD trong khi ở Mexico chỉ có 7 USD. Song dù thế
nào đi nữa thì PPP cũng đã đưa ra được một cơ chế hình thành tỷ giá mới dựa
trên cơ sở ngang giá sức mua, mặc dù tỷ giá được xem là chịu tác động của
nhiều yếu tố như sự chênh lệch lạm phát, lãi suất giữa hai nước, … song cái
cốt lõi của việc hình thành tỷ giá trong chế độ tiền giấy ngày nay vẫn chính là
ngang giá sức mua.
2.2. Phân loại tỷ giá hối đoái.
Dựa trên những tiêu thức khác nhau ta có các căn cứ phân loại tỷ giá
khác nhau.
2.2.1. Căn cứ vào nghiệp vu kinh doanh ngoại hối.
• Tỷ giá mua vào
Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá.
• Tỷ giá bán ra
Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá.
• Tỷ giá giao ngay
tiện chuyển tiền điện tử. Tỷ giá này có đặc điểm:
- Là tỷ giá cơ bản của một quốc gia
- Tốc độ thanh toán nhanh
- Chi phí cao
• Tỷ giá chuyển tiền bằng thư còn gọi là tỷ giá thư hối
Là tỷ giá mà ngân hàng bán ngoại tệ cho khách hàng không kèm theo
trách nhiệm chuyển tiền bằng phương tiện điện tử mà ngân hàng sẽ chuyển
SV: Bùi Thị Hà My Lớp: Anh 3 – TCQT B – K 46
9
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
lệnh thanh toán ra bên ngoài bằng con đường thư tín thông thường. Tỷ giá này
có đặc điểm:
- Không thông dụng trong thanh toán quốc tế
- Tốc độ thanh toán rất chậm
- Chi phí rẻ
• Tỷ giá séc
Là tỷ giá mà ngân hàng bán séc ngoại tệ cho khách hàng kèm theo trách
nhiệm chuyển séc đến người thụ hưởng quy định trên séc. Tỷ giá séc bằng tỷ
giá điện hối trừ đi số tiền lãi phát sinh trên tỷ giá điện hối kể từ khi mua séc
đến khi séc được trả tiền.
• Tỷ giá hối phiếu ngân hàng trả tiền ngay
Là tỷ giá mà ngân hàng bán hối phiếu ngoại tệ trả tiền ngay cho khách
hàng là người thụ hưởng hối phiếu. Khách hàng sẽ ký hậu chuyển nhượng hối
phiếu cho người khác mà khách hàng là người có nghĩa vụ trả ngoại tệ cho
anh ta. Người được chuyển nhượng hối phiếu sẽ xuất trình đến Ngân hàng chỉ
định trên hối phiếu để nhận tiền ngay sau khi xuất trình.
Cách tính tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay cũng như cách tính tỷ giá séc,
nếu có khác là lãi suất được tính là lãi huy động ngoại tệ.
• Tỷ giá hối phiếu ngân hàng trả chậm
Là tỷ giá mà ngân hàng bán hối phiếu ngoại tệ trả chậm cho khách hàng
trường, ngân hàng trung ương không hề can thiệp.
• Tỷ giá thả nổi có điều tiết
Là tỷ giá được thả nổi, nhưng ngân hàng trung uonwg tiến hành can
thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lời cho nên kinh tế.
2.2.4. Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng lên cán cân thương mại
SV: Bùi Thị Hà My Lớp: Anh 3 – TCQT B – K 46
11
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
• Tỷ giá danh nghĩa song phương
Là tỷ lệ trao đổi số tuyệt đối giữa hai đồng tiền, ví dụ, tỷ giá giáo giao
dịch trên thị trường ngoại hối Việt Nam là 1USD = 15.500 VND, tại Tokyo là
1 USD = 123.21 JPY Như vậy tỷ giá danh nghĩa song phương chính là giá cả
của một đồng tiên được biểu thị thông qua đồng tiền khác mà chưa đề cập đến
tương quan sức mua hàng hóa giữa chúng, do đố, khi tỷ giá danh nghãi thay đổi
khong nhất thiết phải tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa.
• Tỷ giá thực song phương
Là tỷ giá được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh
bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước và ở nước ngoài, do đó, nó phản ánh tương
quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ.
Trong thức tế để theo dõi và phân tích sự biến động của tỷ giá thức
người ta sử dụng công thức tỷ giá thực dạng chỉ số như sau:
E
Ri
= e
i
.
i
i
CPI
CPI
j: số thứ tự của các tỷ giá song phương
i: kỳ tính toán
• Tỷ giá thực trung bình
Để biết được tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền
còn lại ta phải dùng đến khái niệm tỷ giá thực trung bình. REER được xác
định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đa biến đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm
phát ở trong nước và ở tất cả các nước còn lại. Do đó, nó phản ánh tương
quan sức mua giữa nội tệ và tất cả các đồng tiện còn lại. REER được xác định
theo công thức:
VN
i
w
i
ii
CPI
CPI
xNEERREER =
Trong đó:
∑
=
=
n
j
j
j
i
W
xGDPCPICPI
1
CPI
động có hiệu quả. Lạm phát vừa phải và ổn định sẽ kích thích cầu đầu tư, tiêu
dùng, nhờ đó thức đẩy sản xuất.
Mức chênh lệch lạm phát giữa hai nước là hiệu số của tỷ lệ lạm phát
trong nước và tỷ lệ lạm phát tại nước ngoài.
Mức chênh lệch lạm phát của hai nước ảnh hưởng đến sự biến động của
tỷ giá. Giả sử trong điều kiện cạnh tranh lành mạnh, năng suất lao động của
hai nước tương đương như nhau, cơ chế quản lý ngoại hối tự do, khi đó tỷ giá
biến động phụ thuộc vào mức chênh lệch lạm phát của hai đồng tiền. Sự thay
đổi trong mức chênh lệch lạm phát ảnh hưởng đến cán cân thương mại và
dịch vụ, đầu tư ra nước ngoài qua đó tác động đến cung cầu ngoại tệ, và vì
vậy tác động đến tỷ giá hối đoái.
SV: Bùi Thị Hà My Lớp: Anh 3 – TCQT B – K 46
14
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
Khi tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn tỷ lệ lạm phát tại nước ngoài,
sức mua đồng nội tệ sẽ giảm, với tỷ giá hối đoái không đổi, hàng hóa dịch vụ
trong nước đắt hơn trên thị trường nước ngoài trong khi hàng hóa dịch vụ
nước ngoài rẻ hơn trên thị trường trong nước. Theo quy luật cung cầu, cư dân
trong nước sẽ chuyển sang dùng hàng ngoại nhiều hơn vì giá rẻ hơn, nhập
khẩu tăng, cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng. Tương tự vì tăng giá, cư dân
nước ngoài sẽ dùng ít hàng nhập khẩu hơn. Hoạt động xuất khẩu giảm sút,
cung ngoại tệ trên thị trường giảm, tỷ giá hối đoái tăng. Như vậy mức chênh
lệch lạm phát ảnh hưởng đến cả cung và cầu ngoại tệ theo hướng tăng giá
ngoại tệ, tác động cộng gộp làm cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh hơn. Trên thị
trưòng tiền tệ, tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn tỷ lệ lạm phát tại nước ngoài
làm đồng tiền mất giá, người dân sẽ chuyển sang nắm giữ các tài sản nước
ngoài nhiều hơn, cầu ngoại tệ gia tăng đẩy tỷ giá hối đoái tăng.
Tỷ lệ lạm phát thường ít thay đổi trong ngắn hạn, và chỉ thay đổi từ từ
trong dài hạn, vì vậy, tương quan lạm phát giữa hai đồng tiền quyết định xu
hướng vận động của tỷ giá trong dài hạn.
trong việc đầu tư vào các chứng khoán định danh bằng đồng tiền này. Vì lý
do cần thiết đó phải xem xét lại sự thật là lãi suất danh nghĩa đã điều chỉnh
theo tỷ lệ lạm phát. Theo hiệu ứng Fisher:
Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – Tỷ lệ lạm phát
Chúng ta thường so dánh lãi suất thực giữa các quốc gia để đánh giá
những biến động của tỷ giá hối đoái, bởi len nó kết hợp giữa lãi suất danh
nghĩa và tỷ lệ lạm phát mà cả hai nhân tố này đều ảnh hưởng đến tỷ giá. Khi
các nhân tố khác không đổi, sẽ có một tương quan cao giữa chênh lệch lãi
suất thực của hai quốc gia với tỷ giá của hai đồng tiền của hai nước đó
SV: Bùi Thị Hà My Lớp: Anh 3 – TCQT B – K 46
16
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
Tần số thay đổi của lãi suất phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của
NHTW. Trong nền kinh tế tiền tệ, NHTW thường xuyên thay đổi lãi suất để
tác động tích cực lên nền kinh tế, tần số thay đổi lãi suất càng nhiều làm cho
tỷ giá biến động càng nhanh, chính vì vậy tương quan lãi suất giữa hai đồng
tiền quyết định xu hướng vận động của tỷ giá trong ngắn hạn.
3.3. Cung, cầu ngoại hối:
Cũng giống như các hàng hóa khác, giá cả của tiền tệ (tỷ giá hối đoái)
cũng được hình thành dựa trên quan hệ cung cầu. Tỷ giá thay đổi hàng ngày,
hàng giờ do những biến động tương tác giữa hai lực lượng chính: cung, cầu
ngoại hối trên thị trường ngoại hối, nơi diễn ra sự trao đổi giữa đồng tiền quốc
gia này với đồng tiền quốc gia khác. Các thị trường ngoại hối lớn trên thế giới
như thị trường ngoại hối Tokyo, London, Zurich thường xuyên tiến hành
buôn bán hàng trăm tỷ ngoại tệ mỗi ngày. Việc nghiên cứu tác động của cung,
cầu ngoại hối đến tỷ giá hối đoái sẽ được xem xét qua việc sử dụng những
đường cầu và cung trong mô hình cân bằng cung-cầu quen thuộc nhằm minh
họa rõ việc thị trường sẽ quyết định giá cả tiền tệ như thế nào.
Trước hết, cầu ngoại tệ sẽ nảy sinh khi nào ? Đó là khi một nước có
nhu cầu mua sắm hàng hóa, dịch vụ cũng như các tài sản khác ở nước ngoài
(Với phương pháp yết giá trực tiếp, sự tăng lên của tỷ giá trên chính là
sự tăng lên của giá đồng nội tệ)
Trong thương mại quốc tế, với giả thiết việc mua sắm sẽ được thanh
toán bằng đồng tiền của nước bán thì một sự giảm đi trong nhu cầu người
tiêu dùng sẽ khiến nhu cầu mua ngoại tệ giảm, trên thị trường ngoại hối, cầu
ngoại tệ giảm, trong khi trong ngắn hạn cung ngoại tệ không đổi, đồng ngoại
tệ có xu hướng giảm giá. Nhà kinh tế học Paul Samuelson (Mỹ) cho rằng một
sự giảm trong cầu ngoại tệ sẽ khiến đường cầu ngoại tệ dịch chuyển xuống
dưới, gây tác động giảm giá đồng ngoại tệ.
Một ví dụ cụ thể: Giả sử dịch bệnh SARS khiến người dân Mỹ đi du
lịch sang Trung Quốc ít đi, có nghĩa là số người dân Mỹ phải đổi USD lấy
CNY (Nhân dân tệ) giảm xuống, điều này sẽ làm giảm cầu CNY trên thị
trường ngoại hối, khiến đường cầu nhân dân tệ dịch sang trái, đồng nhân dân
tệ xuống giá trong khi đồng đô la Mỹ lên giá (giả sử nếu trước kia người Mỹ
cần 0,15 USD mới đổi đước 1 CNY, thì nay chỉ cần 0,125 USD). Sở dĩ biết
được sự lên giá của đồng đô la là do chúng ta đã đảo ngược diễn biến mối
quan hệ cung cầu bằng cách phân tích cung cầu USD trên cơ sở cung cầu
CNY và điều này là chấp nhận được. Trong thế giới buôn bán ngày nay, việc
trao đổi các hoạt động thương mại, du lịch, đầu tư… dù dưới vỏ bọc nào vẫn
có thể coi đó là quan hệ song phương, khi ấy, cầu nhân dân tệ của Mỹ được
chuyển thành cung đô la và cung về nhân dân tệ của người Trung Hoa cũng sẽ
được chuyển thành cầu về đồng đô la.
Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa cầu ngoại tệ và các yếu tố cấu thành
nên cầu ngoại tệ cũng được xem là cơ sở cho việc tạo nên những biến đổi cầu
SV: Bùi Thị Hà My Lớp: Anh 3 – TCQT B – K 46
18
D
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
ngoại tệ gây ảnh hưởng đến tỷ giá. Xét riêng trong phạm vi một quốc gia, nếu
nhu cầu mua sắm hàng hóa dịch vụ từ nước ngoài tăng lên thì cầu ngoại tệ
tiếp
Q(Ngt): Lượng
cung ngoại tệ
S: đường cung
ngoại tệ
19
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
phải đổi đồng Real nước họ ra VND, cùng lúc, nhà đầu tư thực hiện hai vấn
đề, cung đồng Real và cầu đồng Việt Nam. Do đó hàm biểu thị mối liên hệ
giữa cung và các nhân tố ảnh hưởng đến cung ngoại hối, gián tiếp gây nên
biến động tỷ giá hối đóai sẽ có dạng:
S
NgT
= f(cầu của dân chúng nước ngoài về hàng hóa dịch vụ , tài sản
một nước; ζ)
(trong đó ζ cũng được xem là biểu thị sự vận động của cung ngoại hối
bởi các biến ngẫu nhiên)
Một cách tổng quát, cung cầu ngoại hối trên thị trường cùng nhau xác
lập một mức tỷ giá ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Khi tỷ giá hối đoái cân
bằng cũng là lúc cung ngoại hối bằng cầu ngoại hối, ví như nếu lượng bảng
Anh bán ra đúng bằng lượng bảng Anh mua vào thì tỷ giá sẽ trong trạng thái
cân bằng tối ưu. Tuy nhiên, trong thực tế, sự cân bằng đó chỉ xảy ra trong
khoảnh khắc, sự vận động liên tục giữa các luồng vốn xuyên quốc gia nhằm
mục đích đầu tư, đầu cơ, thương mại… đã khiến cho thị trường ngoại hối liên
tiếp lâm vào tình trạng dư cung hoặc dư cầu. Trước tình trạng này, các nước
theo chế độ tỷ giá cố định thường can thiệp vào thị trường ngoại hối nhằm
mục đích ổn định tỷ giá. Giữa năm 2001, thị trường ngoại hối tại Việt Nam
liên tiếp rơi vào tình trạng căng thẳng, cầu đô la tăng mạnh khiến NHTW phải
tung đô gần 800 triệu đô la ra bán
(55)
thuộc vào mức độ tác động mạnh yếu của các nhân tố, đó chính là cán cân
thương mại. Nếu một nước có thặng dư cán cân thương mại, cung ngoại tệ lớn
hơn cầu ngoại tệ, tỷ giá hối đoái sẽ giảm, đồng nội tệ lên giá. Khi thâm hụt cán
cân thương mại, tỷ giá hối đoái sẽ tăng, đồng nội tệ giảm giá.
Chúng ta có thể khái quát tác động của cán cân thương mại lên tỷ giá
như sau:
(Tỷ giá tăng)
Sức ép tăng giá nội tệ
Thặng dư cán cân thương mại Thâm hụt cán cân thương mại
(+) (-)
SV: Bùi Thị Hà My Lớp: Anh 3 – TCQT B – K 46
21
Khoá luận tốt nghiệp Đại học Ngoại Thương
Sức ép giảm giá nội tệ
(Tỷ giá giảm)
Tác động của cán cân thương mại lên tỷ giá
3.5. Đầu tư ra nước ngoài.
Đầu tư ra nước ngoài cũng ảnh hưởng tới tỷ giá hối đoái. Cư dân trong
nước dùng tiền mua tài sản ở nước ngoài, có thể là đầu tư trực tiếp (xây dựng
nhà máy, thành lập các doanh nghiệp ) hay đầu tư gián tiếp (mua cổ phiếu,
trái phiếu ). Những nhà đầu tư này muốn thực hiện hoạt động kinh doanh
trên cần phải có ngoại tệ. Họ mua ngoại tệ trên thị trường, luồng vốn ngoại tệ
chảy ra nước ngoài, tỷ giá hối đoái sẽ tăng. Ngược lại một nước nhận đầu tư
từ nước ngoài, luồng vốn ngoại tệ chảy vào trong nước, làm cho cung ngoại tệ
tăng, tỷ giá hối đoái giảm. Đầu tư ra nước ngoài ròng là hiệu số giữa luồng
vốn chảy ra và luồng vốn chảy vào một nước. Khi đầu tư ra nước ngoài ròng
dương, luồng vốn chảy vào trong nước nhỏ hơn dòng vốn chảy ra nước
ngoài,tỷ giá hối đoái tăng. Tỷ giá hối đoái sẽ giảm trong trường hợp ngược
lại, đầu tư ra nước ngoài ròng âm. Theo quy luật tối ưu hoá, luồng vốn sẽ
chảy đến nơi nào có lợi nhất, tức là hiệu suất sinh lời cao nhất. Một nền kinh
Nghiệp vụ thị trường hối đoái: Đó là nghiệp vụ về mua, bán ngoại tệ
nhằm mục đích điều chỉnh tỷ giá hối đoái bằng cách tác động trực tiếp. Việc
mua bán ngoại tệ này cần được thực hiện trên nguyên tắc diễn biến giá cả
ngoại tệ trên thị trường, không nên áp đặt máy móc mà cần tính toán kỹ lưỡng
mức độ can thiệp dựa trên xu hướng phát triển tương lai của nên kinh tế.
Quỹ bình ổn dự trữ hối đoái: được lập nên từ việc phát hành trái phiếu
kho bạc hoặc sử dụng vàng. Khi cán cân thanh toán thâm hụt, quỹ sẽ đưa
vàng ra bán để thu ngoại tệ, cân bằng cán cân thanh toán, giảm bớt sự lên giá
đồng nội tệ và ngược lại.
SV: Bùi Thị Hà My Lớp: Anh 3 – TCQT B – K 46
23