Chương 1: Lý luận chung về tỷ giá hối đoái và tác động của tỷ giá tới
ngoại thương
Tỷ giá hối đoái là một trong những biến số kinh tế vĩ mô hết sức nhạy cảm.
Tỷ giá biến động từng ngày, từng giờ và chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố. Bên
cạnh các yếu tố mà ảnh hưởng của chúng đến tỷ giá dễ dàng nhận biết như cung cầu
ngoại hối, lãi suất, lạm phát, cán cân thanh toán…tỷ giá còn chịu tác động bởi
những yếu tố nếu thoáng qua sẽ tưởng như chẳng có mối ràng buộc nào cả. Ví như
công việc của một người bán hàng rong: xét một cách cụ thể công việc của một
người bán hàng rong ảnh hưởng đến thu nhập của anh ta, đến lượt thu nhập lại tác
động lên chi tiêu thực tế, gây ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng và cuối cùng là tỷ
giá hối đoái thực tế. Mặc dù biến động của tỷ giá hối đoái là vô cùng phức tạp song
tỷ giá luôn là đề tài hấp dẫn đối với giới nghiên cứu kinh tế cũng như các nhà quản
lý vĩ mô trong bối cảnh tự do hóa thương mại hiện nay. Các quốc gia trên thế giới từ
lớn đến nhỏ, từ mạnh đến yếu đều ý thức được rằng tỷ giá hối đoái sẽ là một công
cụ hữu hiệu, một liều thuốc cứu cánh cho thương mại các quốc gia nói chung cũng
như ngoại thương nói riêng đang trong tình trạng hấp hối. Việc nghiên cứu những lý
luận cơ bản về tỷ giá hối đoái dưới đây do đó sẽ giúp ta hiểu hơn tại sao tỷ giá hối
đoái lại quan trọng đối với các quốc gia đến như vậy.
1.1.Khái niệm, cơ chế hình thành và phân loại tỷ giá hối đoái:
1.1.1. Khái niệm:
Tất cả chúng ta đã quá quen thuộc với khái niệm thương mại trong nước, khi
ta mua cam Sài Gòn hay bưởi Vĩnh Long, tất nhiên chúng ta sẽ trả bằng tiền đồng
của Việt Nam và tất cả những người bán cũng muốn chúng ta trả cho họ bằng đồng
tiền như vậy. Điều đó cho thấy các giao dịch kinh tế trong phạm vi một nước rất
đơn giản. Song nếu chúng ta muốn mua cam California (Mỹ) thì mọi việc sẽ hoàn
toàn khác. Các nhà xuất khẩu Mỹ sẽ muốn chúng ta trả cho họ đô la Mỹ chứ không
phải tiền đồng Việt Nam, do đó ta sẽ phải mua đô la Mỹ, từ đó dùng lượng đô la
này để trả cho họ. Một câu hỏi đặt ra liệu chúng ta sẽ cần bao nhiêu đô la Mỹ ? Khi
ấy, chúng ta sẽ phải quan tâm đến một khái niệm mới đó là: tỷ giá hối đoái.
1
Karl Mark (1818-1883) chính là người đầu tiên đưa ra khái niệm tỷ giá hối
2
Trong cách viết EUR/VND, EUR đứng trước gọi là tiền yết giá và là một đơn vị
tiền tệ; VND đứng sau là tiền định giá, là một số đơn vị tiền tệ thay đổi phụ thuộc
vào thời giá của tiền yết giá
(35)
.
1.1.2.Cơ chế hình thành tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái có một quá trình phát triển lâu dài, trải qua nhiều chế độ khác
nhau, các chế độ tỷ giá hối đoái luôn gắn liền với quá trình hình thành và phát triển
của thương mại thế giới. Từ chế độ bản vị vàng (1875-1914) đến chế độ bản vị hối
đoái vàng (1944-1972) rồi chế độ tỷ giá thả nổi, thả nổi có quản lý (1975 - nay), tỷ
giá đều được hình thành trên tương quan so sánh giá trị đồng tiền quốc gia này với
quốc gia khác bất kể đó là vàng hay là tiền tệ của một quốc gia đơn lẻ nào đó. Có
thể nói trong lịch sử phát triển của mình, tỷ giá được hình thành trên hai ngang giá
chính đó là ngang giá vàng và ngang giá sức mua.
1.1.2.1.Ngang giá vàng:
Trước năm 1850, rất nhiều quốc gia trên thế giới theo đuổi một chế độ tiền tệ
song bản vị: bạc và vàng là hai loại tiền tệ chính được lưu hành trong thanh toán
thương mại giữa các quốc gia, tỷ giá hối đoái do đó được hình thành trên cơ sở so
sánh hàm lượng vàng và bạc. Năm 1850, khi khám phá ra hai mỏ vàng mới ở Mỹ và
Úc, lượng vàng khai thác được đổ dồn về các quốc gia Châu Âu. Nếu trước đó chỉ
có Anh tiến hành vàng hóa thanh toán (tức mọi giấy bạc của Anh đều đổi được ra
vàng) thì năm 1851, Pháp và một số quốc gia khác cũng đi theo bước chân của Anh.
Đồng bạc bị loại khỏi thanh toán và chế độ bản vị vàng bắt đầu.
Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền của hai nước bất kì thời kỳ bản vị vàng
được quyết định dựa trên việc so sánh hàm lượng vàng của hai nước với nhau. Giả
sử hàm lượng vàng của đồng bảng Anh (GBP) là 1 ounce = 6 GBP trong khi hàm
lượng vàng của franc Pháp (FRF) là 1 ounce = 12 FRF thì suy ra:
6GBP = 12FRF 1GBP = 2FRF
Có thể tổng quát hóa bằng công thức sau:
kinh tế học trường phái cổ điển David Ricardo, sau đó được mở rộng và hệ thống
hóa bởi nhà kinh tế học Thụy Điển Gustav Cassel những năm 1920. Ngang giá sức
mua nhanh chóng được đón nhận trong bối cảnh siêu lạm phát diễn ra ở Đức,
Hungari và Liên bang Xô Viết khi sức mua tiền tệ các quốc gia này đột nhiên sụt
4
giảm bất ngờ. Thuyết ngang giá sức mua được xây dựng trên sự phát triển qui luật
một giá cho rằng: Tỷ giá hối đoái giữa tiền tệ hai quốc gia sẽ bằng tỷ lệ giữa mức
giá của hai quốc gia đó. Từ đây, tỷ giá hối đoái được hình thành như sau: nếu xem
P
D
là mức giá của giỏ hàng hóa trong nước (tính bằng nội tệ), P
F
là mức giá của giỏ
hàng hóa (tính bằng ngoại tệ) thì :
Tỷ giá hối đoái (số đơn vị nội tệ /1 đơn vị ngoại tệ) = P
D
/ P
F
Ví dụ tại Mỹ, một áo sơ mi bán với giá 4 USD trong khi tại Anh, cũng áo đó
nhưng giá bán là 3 GBP thì trên thị trường Mỹ, tỷ giá sẽ là 1GBP = 4/3 = 1,3 USD.
Cách áp dụng tính tỷ giá như trên gọi là PPP tuyệt đối, chỉ đúng trong trường
hợp chi phí vận chuyển thấp, không có rào cản nào giữa hoạt động thương mại hai
nước còn khi chi phí vận chuyển cao đi cùng với cạnh tranh không hoàn hảo, có sự
can thiệp của nhà nước bằng các hàng rào thuế và phi thuế thì tỷ giá hối đoái chắc
chắn sẽ không hoàn toàn được xác định như trên. PPP tương đối được đưa ra để
khắc phục nhược điểm này. Đối với PPP tương đối thì tỷ giá được hình thành trên
cơ sở xem xét chênh lệch lạm phát giữa hai nước.
%∆S = %∆ P
D
- %∆P
*Căn cứ vào tính chất của tỷ giá:
_Tỷ giá danh nghĩa: Tỷ giá danh nghĩa được hiểu là tỷ giá đo lường giá trị
danh nghĩa của đồng tiền mà không phản ánh sức cạnh tranh của hàng hóa trong
nước trong trao đổi thương mại quốc tế. Sự phá giá tỷ giá danh nghĩa vì vậy cũng
không phản ánh được sự thay đổi trong tính cạnh tranh quốc tế hàng hóa một nước
như tỷ giá thực tế trình bày dưới đây.
_Tỷ giá thực tế
(i)
: là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo mức giá tương
đối giữa các nước, có tính đến sức mua thực tế và quyết định tính cạnh tranh của
hàng hóa quốc gia.
*Căn cứ vào phương tiện thanh toán:
_Tỷ giá điện hối: tỷ giá chuyển ngoại hối bằng điện, là cơ sở xác định các loại
tỷ giá khác
_ Tỷ giá thư hối: tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư.
(i)Tỷ giá danh nghĩa được công bố hàng ngày trên thông tin đại chúng trong khi tỷ
giá thực tế phải được tính toán dựa trên tỷ giá danh nghĩa như sau:
Tỷ giá thực tế = (Tỷ giá danh nghĩa * Mức giá nước ngoài)/ Mức giá trong nước
*Căn cứ vào cơ chế quản lý ngoại hối, ở những nước kém phát triển, ngoài
thị trường ngoại hối chính thức còn xuất hiện thị trường chợ đen, tỷ giá được chia
6
thành tỷ giá chính thức do ngân hàng trung ương quy định và tỷ giá chợ đen do quan
hệ cung cầu ngoại hối quyết định
(35)
.
*Căn cứ vào hoạt động thanh toán ngoại thương:
_Tỷ giá xuất khẩu: tỷ giá xuất khẩu được tính bằng tỷ số của giá bán hàng
xuất khẩu theo điều kiện F.O.B bằng ngoại tệ với giá bán buôn xí nghiệp cộng thuế
xuất khẩu bằng nội tệ.
_Tỷ giá nhập khẩu: tỷ giá nhập khẩu được tính bằng tỷ số giữa giá bán buôn
tiền tệ của nền kinh tế.
_Tỷ giá thả nổi có quản lý: Đây là loại tỷ giá được ưa chuộng nhất, đứa con
ruột của cuộc hôn phối giữa tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi, nó khắc phục được các
nhược điểm của cả hai loại tỷ giá trên. Trong tỷ giá thả nổi có quản lý, tỷ giá vận
hành theo sự biến động cung cầu thị trường, chính phủ sẽ can thiệp vào thị trường
ngoại hối khi cần thiết, việc điều chỉnh tỷ giá sẽ dựa trên điều chỉnh tỷ giá chính
thức. Tỷ giá thả nổi có quản lý một mặt phản ánh cung cầu ngoại hối, mặt khác đáp
ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế thông qua việc điều chỉnh tỷ giá của
nhà nước nên được các quốc gia rất ưa chuộng. Tính từ đầu năm 1970 đến nay, số
quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý đã tăng từ 23% (trong tổng số các
quốc gia) lên tới 84% năm 2002 và Việt Nam chúng ta cũng nằm trong số các quốc
gia này
(47)
.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế mở:
Dưới con mắt các nhà kinh tế học, tỷ giá hối đoái luôn vận động theo những
biến động vĩ mô của nền kinh tế. Mặc dù khoác cho mình tấm áo tỷ giá danh nghĩa
có lúc được xem là ổn định song tỷ giá danh nghĩa đối với các nước áp dụng chế độ
thả nổi tỷ giá hoặc thậm chí cố định cũng thường xuyên thay đổi. Tỷ giá giữa đô la
Mỹ và đồng Yên Nhật ngày 31/9 năm 2003 đang dừng ở mức 118 JPY ăn 1 USD
thì chỉ tám ngày sau đó đã lên đến 109 JPY một USD, một mức biến động khá lớn,
ấy là chưa kể trong khoảng thời gian chưa đầy một tuần từ 3/9 đến 8/9 năm 2003 tỷ
giá giữa đồng Baht (Thái Lan) đã tăng giá 2% so với USD
(39)
. Thế giới ngày nay
thực sự đã đổi khác, các hoạt động thương mại, đầu tư trở nên gấp gáp hơn, những
bữa ăn trưa của các doanh nhân cũng vội vàng hơn, thời gian dường như bị thu hẹp
lại, tất cả bị cuốn đi trong vòng xoáy toàn cầu hóa, tự do hóa. Và tỷ giá hối đoái,
8
người bạn đồng hành của lưu thông hàng hóa tiền tệ cũng không tránh khỏi nhịp
0 50 +100
(Đóng cửa) (Độ mở trung bình) (Hoàn toàn mở cửa)
Nguồn: Báo cáo chiến lược kinh tế bang Arizona (Mỹ), 11/2001.
Ở mức 0%, nền kinh tế trong trạng thái “ngủ”, nhân tố mở không còn, khái
niệm độ mở không tồn tại và do đó cũng sẽ không có tác động của độ mở nền kinh
tế lên tỷ giá hối đoái. Mức 0% đến 50% là các quốc gia có độ mở vừa phải, đa số là
các quốc gia đang phát triển, nền kinh tế nhỏ mở cửa, thu nhập bình quân đầu
người ở mức thấp đến trung bình (dưới 1000 USD) trong đó có thể kể đến Lào,
Việt Nam, Tuynidi, Nevanda… Việc mở cửa nền kinh tế các quốc gia này được tiến
hành một cách từ từ, có tính chất thăm dò và chủ yếu dựa trên các hiệp định thương
mại song phương, mục đích kinh tế vẫn còn bị chính trị chi phối, mọi khía cạnh tự
do hóa thị trường tài chính, tự do hóa đầu tư, lãi suất…vẫn còn nằm trong ý chí chủ
quan của nhà nước. Mức trung bình đến 90% là mức độ mở cửa của các quốc gia
như Mỹ, Nhật, EU, Canada… các quốc gia này tìm kiếm tự do hóa thương mại dựa
trên hiệp định cả song phương lẫn đa phương, việc mở cửa kinh tế không đơn thuần
chỉ dựa vào các hoạt động thương mại mà còn liên kết với nhau trên các lĩnh vực
như quân sự, hàng không, thám hiểm vũ trụ, đại dương. Tuy nhiên, cho dù mở cửa
ở mức độ nào thì độ mở ấy cũng sẽ gây ra những tác động nhất định lên tỷ giá hối
đoái.
Trước tiên có thể kể đến việc mở cửa đối với các hoạt động thương mại, một
khi thương mại được tiến hành tự do giữa các quốc gia thì khối lượng hàng hóa, kéo
theo khối lượng tiền tệ luân chuyển là khá lớn. Nếu độ mở nền kinh tế càng lớn thì
tác động lên tỷ giá hối đoái càng diễn ra thường xuyên, việc kinh doanh, mua bán
ngoại tệ trên thị trường ngoại hối nhằm đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu sẽ tác động
trực tiếp, liên tục đến tỷ giá hối đoái. Ví dụ giả sử tỷ giá hối đoái trên thị trường
ngoại hối London ở mức cân bằng, nhu cầu nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ đã khiến nhà
nhập khẩu Anh phải bán đồng bảng Anh để mua đô la Mỹ, trên thị trường ngoại hối,
cung bảng Anh tăng lên dẫn đến đồng bảng bị giảm giá, còn đồng đô la Mỹ lại tăng
giá, tại Anh tỷ giá USD/GBP giảm (theo phương pháp yết giá trực tiếp). Do nhu cầu
10
Việc mở cửa, mức độ hội nhập bản thân nó đã thôi thúc các quốc gia đến
các quyết định ký kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương về tỷ
giá hối đoái. Đó là trường hợp các thành viên của Cộng đồng kinh tế Châu Âu (sau
là Liên minh Châu Âu: EU) đã cùng nhau kí kết Hiệp định Roma năm 1957, ấn định
tỷ giá hối đoái giữa các nước thành viên và từ đó đến nay, mặc dù có được điều
chỉnh một vài lần song tỷ giá hối đoái giữa các quốc gia thành viên Liên minh kinh
tế Châu Âu này luôn được giữ ổn định, dao động trong biên độ thấp nhằm tránh các
cú sốc kinh tế bên ngoài gây bất ổn cho tỷ giá và nền kinh tế các quốc gia này
(46)
.
Năm 2003, các nước thành viên EU mặc dù đã quen với việc sử dụng đồng tiền
chung, song việc cố định tỷ giá cộng với trình độ phát triển không đồng đều giữa
các nước thành viên đã khiến mức giá tại một số quốc gia như Bỉ liên tục tăng, gây
căng thẳng cho NHTW Châu Âu trong việc ghìm giữ mức tỷ giá theo luật định.
Cuối cùng, có thể nói lý thuyết cũng như thực tế đã chỉ ra rằng thước đo độ
mở cửa không phải yếu tố nào khác mà chính là mức độ bảo hộ nền kinh tế, nếu các
biện pháp bảo hộ càng cao thì cũng đồng nghĩa với độ mở cửa nền kinh tế càng hẹp.
Bằng các chính sách bảo hộ thuế quan và phi thuế quan, hàng rào bảo hộ được dựng
lên ngăn cản tự do hóa thương mại, thu hẹp độ mở nền kinh tế. Các mức thuế quan
cũng như các biện pháp phi thuế khác: hạn ngạch, hàng rào kỹ thuật… được áp đặt
đối với sản phẩm nhập khẩu vô hình chung làm tăng giá sản phẩm nhập khẩu trên
thị trường nội địa, giảm lợi ích người tiêu dùng, hạn chế khối lượng hàng hóa –
dịch vụ nhập khẩu, dẫn đến giảm cầu ngoại tệ khiến đường cầu ngoại tệ dịch
chuyển xuống phía dưới, cân bằng tỷ giá bị phá vỡ, giá ngoại tệ giảm đẩy giá trị
đồng nội tệ tăng lên trong dài hạn. Ví dụ Việt Nam áp dụng chế độ bảo hộ lên sản
phẩm xe hơi bằng cách đánh thuế 300% xe nhập khẩu từ Nhật, khi đó giá xe ô tô
của Nhật sẽ tăng lên , nhu cầu nhập xe ôtô từ Nhật giảm, cầu về Yên nhật giảm (từ
D xuống D’: Hình 1), đồng Việt Nam tăng giá (tỷ giá chuyển từ vị trí 1 xuống vị trí
2), tỷ giá hối đoái giảm (theo phương pháp yết giá gián tiếp nội tệ/ngoại tệ)
Hình 1: Tác động của hàng rào bảo hộ lên tỷ giá hối đoái cân bằng
1
2
E(VND/JPY)
Q
2
Q
1
Trong đó: Q (JPY) là lượng ngoại tệ
E (VND/JPY) tỷ giá giữa
nội tệ và ngoại tệ
D, D’ : Cầu ngoại tệ
1 : Điểm cân bằng gốc
2 : Điểm cân bằng sau khi
cầu ngoại tệ giảm
S : Cung ngoại tệ
chặn đứng cho đến tận đầu năm 1990
(27)
.
Còn đối với lãi suất ngoại tệ, một khi lãi
suất ngắn hạn ở một nước cao hơn mức lãi suất quốc tế, vốn ngắn hạn sẽ chảy vào
với mục đích thu lãi dựa trên những khoản chênh lệch đó và kết quả là cung ngoại
hối tăng lên, cầu ngoại hối giảm xuống kéo theo tỷ giá giảm.
(35)
Mối quan hệ giữa tỷ giá và lãi suất cũng đã được nhiều nhà kinh tế học quan
tâm. Theo lý thuyết ngang giá lãi suất, đồng tiền của một quốc gia nào có lãi suất
thấp hơn thì nhất định sẽ bù kì hạn cho hợp đồng kỳ hạn đối với đồng tiền của một
của Mỹ), chính khoảng cách chênh lệch này đã khiến các tài sản định giá bằng đồng
EUR trở nên hấp dẫn hơn đồng USD, cầu Euro tăng mạnh, đồng đôla sụt giá
nghiêm trọng, tính đến tháng 11 năm 2003, sau khi cả FED (Cục dự trữ liên bang
Mỹ) và ECB đồng loạt cắt giảm lãi suất xuống mức tương ứng là 1% (mức thấp kỉ
lục trong lịch sử nước Mỹ từ trước đến nay) và 1,75%, đồng USD đã mất giá gần
30% so với đồng Euro
(24)
.
Mặt khác, bên cạnh việc nâng hoặc giảm lãi suất danh nghĩa, ngân hàng trung
ương còn có thể tác động vào lãi suất chiết khấu, điều chỉnh mức độ tăng giảm cung
tiền, gián tiếp ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái. Cung tiền giảm đồng nghĩa với tỷ giá
hối đoái tăng, cung tiền tăng đi đôi với tỷ giá hối đoái giảm…
Xét riêng thị trường Việt Nam, vấn đề lãi suất nóng lên cũng gây tác động
xấu tới tỷ giá hối đoái. Nếu xu hướng chung năm 2003 trên thế giới là duy trì lãi
suất ở mức thấp thì Việt Nam lại đi theo chiều hướng mức lãi suất cao, tính trung
bình 11 tháng đầu năm 2003, lãi suất VND cao hơn lãi suất USD tới khoảng 6%
điểm
(17)
, việc VND đang bị định giá cao so với giá trị thực là 20% cộng với sự sụt
giảm chỉ số giá tiêu dùng, vô hình chung cho thấy tỷ giá hối đoái thực tế có xu
hướng tăng, gây tổn hại đến các hoạt động xuất khẩu, du lịch, đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên cũng có trường hợp tác động tăng hoặc giảm của lãi suất không hề
gây ra biến động nào cho tỷ giá hối đoái, đó là trường hợp nền kinh tế đang trong
tình trạng bất ổn có nguy cơ khủng hoảng, khi ấy cho dù lãi suất có tăng đến mấy
cũng không có một nhà đầu tư nào làm cái việc dại dột là chuyển vốn của mình vào
nơi nước sôi lửa bỏng để ăn chênh lệch lãi suất cả. Điển hình là trong khủng hoảng
kinh tế năm 1971-1973 mặc dù lãi suất trên thị trường Newyork cao gấp rưỡi thị
trường London, gấp ba lần thị trường Frankfurk nhưng vốn ngắn hạn vẫn không
được chuyển vào Mỹ mà lại đưa đến Tây Đức và Nhật Bản
(21)
Trong trường hợp lạm phát chỉ xảy ra ở một nước, mức giảm tỷ giá đối với
tiền tệ các nước bất kỳ sẽ được xem bằng với mức lạm phát ở quốc gia đó. Cụ thể
hơn, nếu mức lạm phát tại nước A là 6%/năm thì đồng tiền nước A sẽ bị giảm giá
16
6% tương ứng so với đồng tiền nước B trong trường hợp nước B không có lạm phát.
Nếu lạm phát xảy ra đồng thời ở cả hai quốc gia A và B với mức lạm phát lần lượt
là 3% và 4% thì đồng tiền nước A được xem là tăng giá 1% so với đồng tiền nước
B. Tức nước nào có mức độ lạm phát cao hơn, sức mua đồng tiền nước đó sẽ thấp
hơn và đồng tiền nước đó sẽ giảm giá tương ứng đúng bằng mức chênh lệch lạm
phát giữa hai nước.
Lạm phát càng tăng, sức mua thực tế đồng nội tệ càng giảm, dân chúng sẽ tìm
mọi cách “vứt” đồng tiền của mình đi càng nhanh càng tốt, họ tích trữ vàng, động
sản thay vì cầm trong tay một đống giấy lộn và thế là đồng nội tệ bị cuốn trong
vòng xoáy giảm giá. Các nghiên cứu kinh tế đã chỉ ra rằng lạm phát càng cao thì tốc
độ mất giá đồng tiền càng nhanh. Năm 1920, nước Cộng hòa Weimar (hiện nay
thuộc Đức) đã in tiền với mục đích trang trải cho các chi tiêu chính phủ, kết quả là
giá cả tăng vọt, nếu tỷ số lạm phát năm 1923 so với 1922 mới ở mức 140% thì tỷ số
năm 1924 so với 1923 đã lên đến 6666666,7%, đồng Mác Đức bị sụt giá thấp chưa
từng có trong lịch sử
(49)
.
Tuy nhiên một mức lạm phát liên tục giảm sẽ dẫn đến tỷ giá hối đoái tăng,
nếu giảm xuống mức thấp hơn 1% thì cũng có nghĩa là nền kinh tế đã rơi vào tình
trạng giảm phát, một căn bệnh nguy hiểm không kém gì lạm phát phi mã. Những
yếu tố thiểu phát sẽ tác động mạnh hơn những yếu tố làm lạm phát, thiểu phát sẽ
làm cho các nhà sản xuất phải bán hàng với giá hạ đi trong khi chi phí đầu vào
không giảm tương ứng, dẫn đến thu hẹp đầu tư, giảm thu nhập, giảm cầu nền kinh
tế. Với tâm lý giá hàng hóa sẽ còn giảm trong tương lai, người tiêu dùng sẽ hạn chế
chi tiêu kích thích tỷ giá tăng mạnh hơn nữa. Việt Nam hiện nay cũng đang có nguy
cơ phải trải qua tình trạng giảm phát, chỉ số giá tiêu dùng sụt giảm, tính đến tháng 9
lai có thể thâm hụt, trong khi tài khoản vốn thặng dư. Tuy nhiên do những biến
động của các luồng vốn ngắn hạn, dài hạn, của thương mại quốc tế mà hiếm khi cán
cân thanh toán được cân bằng, đây là nguyên nhân trực tiếp và tổng quát dẫn đến sự
thay đổi của tỷ giá. Cần lưu ý là khái niệm không cân bằng trong cán cân thanh toán
hiện nay không phải là cán cân thanh toán với ý nghĩa đầy đủ của nó mà thường
được sử dụng để chỉ tổng cán cân vãng lai và cán cân vốn. Điều đó có nghĩa là một
sự thâm hụt trong cán cân thanh toán có nghĩa là cán cân dự trữ chính thức tăng lên,
trái lại, một sự thặng dư trong cán cân thanh toán đồng nghĩa với việc cán cân dự
18
trữ sẽ giảm xuống. Với cấu trúc cán cân thanh toán như vậy, ảnh hưởng của cán cân
thanh toán đến tỷ giá hối đoái sẽ được phân tích qua cán cân vãng lai và cán cân
vốn.
1.2.4.1.Ảnh hưởng của cán cân vãng lai đến tỷ giá hối đoái:
Cán cân vãng lai bao gồm các yếu tố thể hiện việc mua bán hàng hóa dịch vụ
giữa một nước với các nước khác, nó bao gồm các hoạt động xuất nhập khẩu hàng
hóa hữu hình, các khoản mục thu nhập từ đầu tư và các khoản chuyển giao tiền tệ,
song tác động chủ yếu lên tỷ giá vẫn thuộc các yếu tố nằm trong lĩnh vực xuất nhập
khẩu hàng hóa hữu hình, gọi là cán cân thương mại. Cán cân thương mại là một
phần cấu thành cán cân vãng lai, với hai hạng mục chủ yếu là xuất khẩu và nhập
khẩu hàng hóa hữu hình. Sự di chuyển các luồng ngoại tệ ra, vào một đất nước
thông qua quá trình xuất nhập khẩu này là nhân tố cơ bản và tiên quyết dẫn đến biến
động tăng giảm của tỷ giá hối đoái. Nếu cán cân thương mại thâm hụt, đồng nghĩa
với việc nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu, cung nội tệ để nhập hàng sẽ tăng lên vượt
quá cầu nội tệ, phá vỡ mức cân bằng ngắn hạn, nếu các biến số vĩ mô khác là không
đổi, thì đồng nội tệ sẽ bị đặt trước sức ép giảm giá, ngược lại nếu xuất khẩu nhiều
hơn nhập khẩu tức cán cân thương mại thặng dư thì đồng nội tệ sẽ đứng trước sức
ép tăng giá, nếu trong cơ chế thả nổi tỷ giá, hiệu ứng này sẽ xảy ra, tức thì, đồng nội
tệ tăng giá kéo theo nhập khẩu tăng…Chúng ta có thể khái quát tác động của cán
cân thương mại lên tỷ giá là như sau
19
20
xuất nhập khẩu nếu làm cho cán cân thương mại thặng dư thì nước đó sẽ có điều
kiện tăng dự trữ ngoại tệ đồng nội tệ cũng sẽ tăng giá (hoàn toàn ngược lại trong
trường hợp thâm hụt cán cân thương mại).
1.2.4.2. Tác động của tài khoản vốn lên tỷ giá hối đoái:
Tài khoản vốn ghi chép sự vận động các luồng vốn: đầu tư trực tiếp, gián
tiếp, vốn tín dụng dài hạn, ngắn hạn, các khoản tiền gửi dài hạn ngân hàng. Việc
xem xét tác động của mỗi nhân tố trong cán cân vốn lên tỷ giá phải được đặt trong
mối tương quan giữa sự vận động của các nhân tố khác trong tổng thể cán cân vốn.
Song xét một cách tổng quát, có thể nói mọi lượng vốn chảy vào một nước sẽ làm
tăng tài sản ngoại tệ của nước đó và ngược lại, bất kì lượng vốn nào chảy ra cũng
làm suy giảm tài sản ngoại tệ. Các nhân tố làm thay đổi luồng di chuyển các dòng
vốn sẽ làm thay đổi cán cân tài khoản vốn và làm thay đổi quan hệ cung cầu trên thị
trường tài sản, quan hệ cung cầu đó đến lượt nó lại làm thay đổi tỷ giá hối đoái và
giá trị đồng tiền trong ngắn hạn.
Không giống như các tác động của cán cân vãng lai, tác động của cán cân vốn
lên tỷ giá vận động một cách phức tạp hơn, sự vận động các luồng vốn vào ra này
chịu sự chi phối của rất nhiều các biến sô khác như lãi suất, lạm phát… thay đổi của
lãi suất, lạm phát dẫn đến sự di chuyển các luồng vốn giữa các quốc gia và tác động
đến tỷ giá hối đoái, điều này đã đề cập ở phần trên.(1.2.2; 1.2.3)
1.2.5.Cung, cầu ngoại hối:
Cũng giống như các hàng hóa khác, giá cả của tiền tệ (tỷ giá hối đoái) cũng
được hình thành dựa trên quan hệ cung cầu. Tỷ giá thay đổi hàng ngày, hàng giờ do
những biến động tương tác giữa hai lực lượng chính: cung, cầu ngoại hối trên thị
trường ngoại hối, nơi diễn ra sự trao đổi giữa đồng tiền quốc gia này với đồng tiền
quốc gia khác. Các thị trường ngoại hối lớn trên thế giới như thị trường ngoại hối
Tokyo, London, Zurich thường xuyên tiến hành buôn bán hàng trăm tỷ ngoại tệ mỗi
ngày. Việc nghiên cứu tác động của cung, cầu ngoại hối đến tỷ giá hối đoái sẽ được
xem xét qua việc sử dụng những đường cầu và cung trong mô hình cân bằng cung-
cầu quen thuộc nhằm minh họa rõ việc thị trường sẽ quyết định giá cả tiền tệ như
B
B’
E2
E1
E1 : Mức tỷ giá ban đầu
E2: Mức tỷ giá A sau khi cầu A
giảm.
Q1: Cầu ngoại tệ A gốc
Q2: Lượng ngoại tệ A sau khi
giảm cầu
Q(A): Lượng ngoại tệ A
E(A/C) : tỷ giá ngoại tệ trên nội
tệ theo phương pháp yết giá trực
tiếp
D : Đường cầu ngoại tệ
D
la Mỹ lên giá (giả sử nếu trước kia người Mỹ cần 0,15 USD mới đổi đước 1 CNY,
thì nay chỉ cần 0,125 USD). Sở dĩ biết được sự lên giá của đồng đô la là do chúng ta
đã đảo ngược diễn biến mối quan hệ cung cầu bằng cách phân tích cung cầu USD
trên cơ sở cung cầu CNY và điều này là chấp nhận được. Trong thế giới buôn bán
ngày nay, việc trao đổi các hoạt động thương mại, du lịch, đầu tư… dù dưới vỏ bọc
nào vẫn có thể coi đó là quan hệ song phương, khi ấy, cầu nhân dân tệ của Mỹ được
chuyển thành cung đô la và cung về nhân dân tệ của người Trung Hoa cũng sẽ được
chuyển thành cầu về đồng đô la.
Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa cầu ngoại tệ và các yếu tố cấu thành nên cầu
ngoại tệ cũng được xem là cơ sở cho việc tạo nên những biến đổi cầu ngoại tệ gây
ảnh hưởng đến tỷ giá. Xét riêng trong phạm vi một quốc gia, nếu nhu cầu mua sắm
hàng hóa dịch vụ từ nước ngoài tăng lên thì cầu ngoại tệ cũng tăng lên, cầu nội tệ
giảm và kết quả là tỷ giá nội tệ giảm. Điều đó cho thấy cầu ngoại tệ vận động ngược
chiều với các yếu tố tạo ra nó. Sự tương quan nghịch giữa cầu ngoại tệ và các yếu tố
lúc cung ngoại hối bằng cầu ngoại hối, ví như nếu lượng bảng Anh bán ra đúng
bằng lượng bảng Anh mua vào thì tỷ giá sẽ trong trạng thái cân bằng tối ưu. Tuy
24
S
E’
E
Q(Ngt)
Q Q’
E(Ngt/Nt)
E(Ngt/Nt): Tỷ giá
ngoại tệ/nội tệ
theo phương
pháp yết giá trực
tiếp
Q(Ngt): Lượng
cung ngoại tệ
S: đường cung
ngoại tệ
nhiên, trong thực tế, sự cân bằng đó chỉ xảy ra trong khoảnh khắc, sự vận động liên
tục giữa các luồng vốn xuyên quốc gia nhằm mục đích đầu tư, đầu cơ, thương
mại… đã khiến cho thị trường ngoại hối liên tiếp lâm vào tình trạng dư cung hoặc
dư cầu. Trước tình trạng này, các nước theo chế độ tỷ giá cố định thường can thiệp
vào thị trường ngoại hối nhằm mục đích ổn định tỷ giá. Giữa năm 2001, thị trường
ngoại hối tại Việt Nam liên tiếp rơi vào tình trạng căng thẳng, cầu đô la tăng mạnh
khiến NHTW phải tung đô gần 800 triệu đô la ra bán
(55)
.
Tác động của cung cầu ngoại hối lên tỷ giá hối đoái dựa chủ yếu vào các yếu
tố cấu thành nên nó, tuy nhiên ngoài các tác nhân tác động trực tiếp lên cung cầu
ngoại hối thì các nhân tố gián tiếp như thu nhập, chi tiêu chính phủ, sản lượng…