Quá trình phát triển kinh tế trang trại gia đình tại tỉnh bình phước giai đoạn 1986 2006 - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
****

TRẦN HÁN BIÊN

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TRANG TRẠI GIA ðÌNH TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC
GIAI ðOẠN 1986 – 2006

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2010


ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
****

TRẦN HÁN BIÊN

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
TRANG TRẠI GIA ðÌNH TẠI TỈNH BÌNH PHƯỚC
GIAI ðOẠN 1986 – 2006
Chuyên ngành: Lòch sử Việt Nam
Mã số: 5.03.15

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS.VÕ VĂN SEN

1.3.1. Sự ra đời của tỉnh Bình ..................................................................... 45
1.3.2. Những thuận lợi, khó khăn của điều kiện tự nhiên, xã hội ảnh hưởng
đến việc phát triển kinh tế trang trại gia đình............................................. 47


Chương 2

BƯỚC ĐẦU HÌNH THÀNH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TRANG TRẠI GIA ĐÌNH Ở 5 HUYỆN PHÍA BẮC
TỈNH SÔNG BÉ THỜI KỲ 1986 - 1996
2.1. Cơ sở để phát triển kinh tế trang trại gia đình ở tỉnh Sông Bé thời kỳ
đổi mới ......................................................................................................... 61
2.2. Kinh tế trang trại gia đình ở 5 huyện phía Bắc tỉnh Sông Bé thời kỳ
1986 – 1996 ................................................................................................... 63
2.2.1. Sự phát triển về số lượng và đòa bàn phân bố của trang
trại gia đình ............................................................................................... 64
2.2.2. Quy mô sản xuất kinh doanh của các trang trại gia đình ............... 69
2.2.3. Phương tiện và điều kiện vật chất phục vụ sản xuất trong các
trang trại gia đình thời kỳ 1986 - 1996 ..................................................... 80
2.2.4. Cơ cấu sản xuất của kinh tế trang trại gia đình ............................... 83
2.2.5. Kết quả sản xuất của kinh tế trang trại gia đình ở 5 huyện
phía Bắc tỉnh Sông Bé .............................................................................. 87

Chương ba
KINH TẾ TRANG TRẠI GIA ĐÌNH Ở TỈNH BÌNH PHƯỚC
PHÁT TRIỂN TRONG THỜI KỲ 1997 – 2006
3.1. Chủ trương của tỉnh Bình Phước về phát triển
kinh tế trang trại gia đình.. ............................................................................ 92
3.2. Kinh tế trang trại gia đình ở tỉnh Bình Phước
phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ 1996 – 2006........................................... 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 184
PHỤ LỤC .................................................................................................. 200


1

Dẫn luận
1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Kinh tế trang trại gia đình trên thế giới hình thành và phát triển từ
khi phương thức sản xuất tư bản thay thế cho phương thức sản xuất phong
kiến. Trong hàng trăm năm phát triển, kinh tế trang trại gia đình đã thể
hiện rõ vai trò tích cực nhiều mặt của mình trong quá trình phát triển kinh
tế nông nghiệp sản xuất hàng hóa.
Ngày nay, mặc dù trên thế giới vẫn tồn tại nhiều hình thức tổ chức
sản xuất nông nghiệp khác nhau như kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại
gia đình, xí nghiệp nông nghiệp tư bản tư nhân và tư bản nhà nước, hợp tác
xã sản xuất nông nghiệp, công xã nhân dân, nông trang tập thể, nông
trường quốc doanh. Nhưng trong đó, kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang
trại gia đình là hai trong nhiều hình thức sản xuất ổn đònh nhất và cũng là
lực lượng sản xuất chủ yếu, tạo ra khối lượng nông sản hàng hóa trên thế
giới. Năm 1990 – 1991, lực lượng sản xuất ra 1.955 triệu tấn hạt ngũ cốc,
225 triệu tấn hạt có dầu, 1.000 triệu tấn thực phẩm thòt sữa, rau quả cho
thế giới không phải là các xí nghiệp nông nghiệp tập trung quy mô lớn mà
là các hộ nông dân, các trang trại gia đình [64, tr.5].
Không chỉ là lực lượng sản xuất ra phần lớn sản phẩm phục vụ xã
hội mà kinh tế trang trại gia đình còn phù hợp với sản xuất nông nghiệp và
có thể khai thác có hiệu quả các nguồn lực xã hội để nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp. Nước Mỹ với 2,2 triệu trang trại đã
sản xuất ra hơn 50% sản lượng đậu tương và ngô của toàn thế giới, hàng


của kinh tế trang trại gia đình trong sự so sánh với các hình thức sản xuất
nông nghiệp khác tiếp tục được khẳng đònh: linh hoạt và có khả năng thích
ứng với nhiều điều kiện xã hội khác nhau; năng động và có khả năng ứng
dụng kết hợp nhiều thành tựu khoa học – kỹ thuật (từ thô sơ đến hiện đại)
trong sản xuất; hiệu quả trong quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất
cho gia đình và cho xã hội đạt được những ưu thế riêng nhất đònh.
Đến năm 2006, sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới toàn diện do
Đảng cộng sản Việt Nam khởi động và lãnh đạo, kinh tế nước nhà đã và
đang thu được những thành tựu quan trọng. Nền kinh tế tập trung trước đây
từng bước chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ
chế thò trường có sự quản lý của nhà nước. Kinh tế đất nước có những bước
phát triển vượt bậc và đạt được nhiều kết quả. Trong sản xuất nông
nghiệp, năng suất đến chất lượng được nâng cao, đời sống của đại bộ phận
quần chúng nhân dân được cải thiện, bộ mặt các vùng nông thôn có những
diện mạo mới. Những chuyển biến tích cực của đất nước về kinh tế, xã hội
trong 20 năm qua có sự góp sức của nhiều ngành, nghề kinh tế khác nhau
trong đó có kinh tế trang trại gia đình.
Hòa cùng sự nghiệp đổi mới của đất nước, Bình Phước cũng có
những bước tiến dài và thu được những thành tựu đáng trân trọng trên
nhiều lónh vực kinh tế, xã hội.
Tại thời điểm tái lập ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Bình Phước có
xuất phát điểm kinh tế gần như thấp nhất toàn quốc. Tổng thu ngân sách
hàng năm của tỉnh thường chỉ đạt từ 30 đến 40% tổng chi ngân sách [27,


4

tr.32]. Cơ cấu kinh tế mất cân đối, ngành nông – lân – ngư nghiệp chiếm
70%, dòch vụ chiếm 25%, công nghiệp 5% [14, tr. 8]. Sau 10 năm phát
triển (1997 – 2006), tốc độ tăng trưởng GDP của tỉnh luôn đạt trên 8%

mình.
Xuất phát từ lý do nêu trên nên mục đích nghiên cứu của đề tài này
hướng đến là mô tả lại những đặc điểm cơ bản nhất của kinh tế trang trại
gia đình dưới các phương diện:
Thứ nhất, dựng lại toàn cảnh quá trình phát triển của kinh tế trang
trại gia đình tại tỉnh Bình Phước qua từng thời kỳ khác nhau (1986 đến
1996 và từ 1997 đến 2006). Thông qua đó đi đến xác đònh kinh tế trang trại
gia đình ở Bình Phước đang trong thời kỳ hình thành hay thời kỳ phát
triển?
Thứ hai, trên cơ sở tư liệu của những thời kỳ phát triển khác nhau,
tác giả đi đến phân tích, làm rõ những tác động của kinh tế trang trại gia
đình đối với kinh tế – xã hội tại đòa phương tỉnh Bình Phước. Trong từng
thời kỳ đó, kinh tế trang trại gia đình có đặc điểm gì và có vai trò ra sao
trong cơ cấu kinh tế – xã hội của tỉnh? Kinh tế trang trại gia đình đã và
đang tác động ra sao đến việc tăng cường phát triển lực lượng sản xuất tại
đòa phương?


6

Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu dựng lại toàn cảnh những bước phát
triển khác nhau của kinh tế trang trại gia đình, kết hợp cùng việc nắm bắt
những quy luật phát triển, luận án làm rõ những mặt hạn chế cần phải
khắc phục cũng như mặt tích cực và ưu thế nào của kinh tế trang trại gia
đình cần tiếp tục khai thác và phát triển?
2. Lòch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề sản xuất kinh tế trang trại là một vấn đề lớn, chứa đựng
nhiều phức tạp trong quá trình nghiên cứu đối với các ngành khoa học xã
hội đặc biệt là ngành sử học. Mặc dù chưa có những công trình lớn mang
tính toàn diện và chuyên sâu trong việc nghiên cứu chủ đề này nhưng

triển kinh tế – xã hội của Nguyễn Thò Hằng; Chuyển dòch cơ cấu kinh tế và
lao động nông thôn của Nguyễn Sinh Cúc…
Nhìn một cách khái quát có thể nói rằng ở những năm 80 của thế kỷ
XX, vấn đề kinh tế trang trại nói chung cũng như kinh tế trang trại gia đình
nói riêng chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm. Các công trình nghiên
cứu chủ yếu đi sâu vào lónh vực kinh tế hộ gia đình và những vấn đề liên
quan đến kinh tế nông nghiệp nông thôn.
Đến những năm 90 của thế kỷ XX, nhiều công trình nghiên cứu
chuyên sâu vào lónh vực kinh tế trang trại đã được công bố dưới dạng sách,
các bài nghiên cứu. Năm 1993, Trung tâm kinh tế Châu Á – Thái Bình


8

Dương đã cho xuất bản quyển sách: Kinh tế trang trại gia đình trên thế giới
và Châu Á của tập thể tác giả Nguyễn Điền, Trần Đức, Trần Huy Năng.
Tài liệu này không chỉ đề cập đến nguồn gốc ra đời mà còn mô tả những
đặc điểm cơ bản nhất của kinh tế trang trại gia đình ở nhiều nước trên thế
giới. Năm 1998, trong chương trình nghiên cứu Việt Nam – Hà Lan, kỹ sư
Trần Đức – Trưởng đề án Kinh tế trang trại vùng đồi núi đã cho ra đời tác
phẩm: “Kinh tế trang trại vùng đồi núi”. Cuốn sách này có thể được coi là
một trong những cuốn sách đầu tiên viết về kinh tế trang trại ở Việt Nam.
Công trình này chưa đi sâu vào việc phân tích làm rõ quá trình phát triển
cũng như những thành quả từ kinh tế trang trại đem lại mà chủ yếu đi vào
mô tả những điều kiện để kinh tế trang trại phát triển như: quan hệ đất đai;
vốn đầu tư phát triển; lao động và máy móc; thò trường đầu ra của các loại
sản phẩm… Năm 1999, sau Hội nghò đại biểu nông dân sản xuất – kinh
doanh giỏi toàn quốc lần thứ nhất tổ chức tại Hội trường Ba Đình Hà Nội
(từ ngày 10 – 11 tháng 9 năm 1998), Trung Ương Hội Nông dân Việt Nam
phối hợp với Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn biên soạn và cho ra

và những đònh hướng của Đảng và nhà nước về việc phát triển kinh tế
trang trại gia đình cùng 141 bài nghiên cứu, báo cáo của các nhà nghiên
cứu, nhà quản lý kinh tế. Đây là tập thể tác giả đang làm công tác nghiên
cứu khoa học và những người đang giữ các chức vụ khác nhau trong công
tác quản lý tại đòa phương trong toàn quốc. Đúng như tên gọi của nó, ngoài
một số bài viết mang tính lý luận, còn lại là các báo cáo nặng về tổng hợp


10

số liệu hoặc và đôi khi nêu ra một vài kinh nghiệm phát triển trang trại tại
các đòa phương. Đây là một tài liệu có nhiều ý nghóa và rất có giá trò trên
phương diện tham khảo tư liệu. Năm 2001, tác giả Nguyễn Thò Song An
cho xuất bản cuốn sách có tên là “Quản trò nông trại”, đây là một tài liệu
phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu đối với sinh viên hệ chính qui và
không chính qui thuộc chuyên ngành có tên gọi: Tổ chức quản lý xí nghiệp
nông nghiệp, hay là Quản trò nông trại. Cuốn sách này gồm 21 chương và
được chia thành 5 phần với nội dung chính là cung cấp những kiến thức cơ
bản trong việc quản lý một trang trại. Do vậy, cuốn sách này không chỉ là
một tài liệu cần thiết đối với các sinh viên chuyên ngành mà nó còn có giá
trò tham khảo đối với các nhà khoa học, nghiên cứu, các nhà quản lý, chủ
các trang trại. Năm 2002, Tác giả Vũ Trọng Khải xuất bản công trình có
nhan đề “Hai mô hình kinh tế và sự đổi mới kinh tế qua thực tiễn phát triển
nông nghiệp ở Việt Nam”. Đây là công trình nghiên cứu của một người,
dưới dạng là tập hợp những bài viết trong nhiều năm và đã được đăng tải
trên các tạp chí, báo trong thời gian từ năm 1969 đến những năm 2000. Tác
giả cũng là người đã có thời gian công tác nhiều năm trong ngành nông
nghiệp về lónh vực này. Do đó, trong công trình tác giả đã đề cập đến
nhiều góc độ khác nhau của lónh vực kinh tế nông nghiệp từ các chủ trương
chính sách đến những diện mạo cụ thể. Trong đó kinh tế trang trại gia đình

Nhìn chung, đến nay việc nghiên cứu và nhận thức về kinh tế trang
trại nói chung, kinh tế trang trại gia đình nói riêng đã và đang được nhiều


12

ngành quan tâm, nhiều vấn đề đã được đặt ra và giải quyết, nhiều công
trình đã được công bố. Tuy nhiên ở phương diện quốc gia cũng như ở đòa
phương tỉnh Bình Phước vẫn chưa có những công trình chuyên sâu, phân
tích đầy đủ các mặt của kinh tế trang trại gia đình.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mặc dù có thể tiếp cận ở những phương diện khác nhau kết hợp
cùng những cách thức khác nhau, song cho dù ở phương diện hay cách thức
nào đi nữa thì với đề tài: “Quá trình phát triển kinh tế trang trại gia đình tại
tỉnh Bình Phước giai đoạn 1986 – 2006” vẫn là quá lớn so với khả năng
thực hiện. Vì vậy, việc giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu là cần
thiết đối với tác giả.
Một là, mặc dù đề tài của luận án là nghiên cứu: “Quá trình phát
triển kinh tế trang trại gia đình tại tỉnh Bình Phước giai đoạn 1986 – 2006”
nhưng điều đó không có nghóa là tác giả đi sâu xem xét hết tất cả các hình
thức sản xuất kinh tế trang trại hiện đang tồn tại ở tỉnh Bình Phước. Trong
luận án tác giả chỉ tập trung đào sâu, xem xét và giải quyết những vấn đề
có liên quan đến kinh tế trang trại gia đình. Sở dó tác giả tập trung vào kinh
tế trang trại gia đình vì đây là hình thức sản xuất kinh doanh nông nghiệp
chủ yếu và phổ biến nhất hiện nay so với các hình thức tổ chức sản xuất
khác.
Hai là, về phạm vi không gian và thời gian nghiên cứu: như tựa đề
của luận án, tác giả đã chỉ rõ luận án chỉ nghiên cứu kinh tế trang trại gia



Về phương pháp nghiên cứu: mọi sự vật, hiện tượng của tự nhiên và xã
hội ñều có một quá trình lịch sử riêng – ñó là quá trình phát sinh, phát triển và
diệt vong. Nắm bắt và ñi theo những bước ñi ñó người nghiên cứu sẽ dựng lại
ñược một bức tranh ñầy ñủ về chính ñối tượng cần nghiên cứu. Phương pháp
lịch sử với những ưu thế nhất ñịnh: “ñi tìm nguồn gốc phát sinh, quá trình
phát triển và biến hóa của ñối tượng, ñể phát hiện bản chất và quy luật của ñối
tượng” sẽ giúp cho các nhà nghiên cứu làm ñược ñiều mong muốn ñó. Vì vậy,
luận án rất coi trọng phương pháp lịch sử và sử dụng phương pháp lịch sử
xuyên suốt quá trình nghiên cứu ñề tài.
Song hành với phương pháp lịch sử và kết hợp chặt chẽ với phương
pháp lịch sử là phương pháp logic trong quá trình nghiên cứu. Cả hai phương
pháp kết hợp với nhau trong quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra bản chất phát
triển của sự vật, nắm bắt những quan hệ biện chứng, nhân quả và quy luật
phát triển của sự vật, hiện tượng.
Mặt khác ñể hỗ trợ phương pháp lịch sử, tác giả cố gắng tiếp cận và kết
hợp với các phương pháp khác trong quá trình nghiên cứu như phương pháp
phân tích; phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm; phương pháp tổng
hợp...
Phương pháp phân tích là phương pháp nghiên cứu các văn bản, tài liệu
lý luận khác nhau về một chủ ñề, bằng cách phân tích chúng thành từng bộ
phận, theo lịch sử thời gian ñể hiểu chúng một cách ñầy ñủ và toàn diện.
Phương pháp này ñược sử dụng kết hợp và nhiều nhất trong chương 1;
chương 2; chương 3.
Phương pháp tổng hợp là phương pháp liên kết từng mặt, từng bộ phận
thông tin ñã thu thập ñược từ ñó tạo ra hệ thống lý thuyết ñầy ñủ, sâu sắc về
ñối tượng nghiên cứu. Phương pháp này ñược sử dụng nhiều trong chương 2;


15


thống kê đầy đủ, toàn diện với độ tin cậy cao là một yếu tố không thể
thiếu. Đây là những cơ sở quan trọng cho phép tác giả cũng như những nhà
nghiên cứu nói chung quan tâm đến lónh vực này đưa ra những đánh giá,
nhận xét có tính đònh lượng thuyết phục. Xuất phát từ vai trò quan trọng
đó, tác giả cố gắng tiếp cận với các nguồn số liệu thống kê có thể tiếp cận
từ Tổng cục Thống kê Việt Nam, Cục thống kê Bình Phước, phòng thống
kê các huyện, thò cũng như số liệu thống kê của các xã thuộc đòa bàn tỉnh
Bình Phước.
Kết quả tổng điều tra nông thôn và nông nghiệp thời điểm ngày 1
tháng 6 năm 1997 nhằm mục đích nắm bắt những thông tin cơ bản, chuẩn
xác về hiện trạng sử dụng đất nông, lâm nghiệp cũng như kết quả gieo
trồng các loại cây hàng năm, lâu năm, chăn nuôi gia súc,… Đây là tập tài
liệu chứa đựng thông tin nhiều mặt về thực trạng của nền kinh tế nông
nghiệp ở tỉnh Bình Phước những ngày mới tái lập. Tác giả đã tìm thấy ở
đây những số liệu thống kê đa dạng từ đó cho phép nhận diện rõ hơn quá
trình hình thành của kinh tế trang trại gia đình ở tỉnh Bình Phước thời điểm
trước năm 1997.
Năm 1998, thực hiện Quyết đònh của Tổng cục trưởng Tổng cục
Thống kê về việc điều tra tình hình trang trại tại 4 tỉnh là Yên Bái, Thanh
Hóa, Bình Dương và Bình Phước – Kết quả cuộc điều tra này ở tỉnh Bình
Phước được tổng hợp trong 05 tập tài liệu theo đơn vò huyện. Mặc dù chỉ
điều tra tại 4 tỉnh nhưng đây là cuộc điều tra đầu tiên, toàn diện về kinh tế


17

trang trại đình xét ở phương diện quốc gia cũng như đòa phương. Đây cũng
là thời điểm chưa có một khái niệm thống nhất từ trung ương đến đòa
phương về kinh tế trang trại vì vậy cuộc điều tra này được tiến hành trên
cả hai quan niệm trung ương và đòa phương. Do đó, trong quá trình phân

tổng hợp từ TW đến các đòa phương, giữa các đòa phương với đòa phương,
giữa các ban ngành trong một đòa phương vẫn còn nhiều khoảng cách. Do
vậy, việc sử dụng các số liệu tổng hợp từ các đợt điều tra này phục vụ cho
đề tài cũng như các công tác nghiên cứu khác gặp nhiều khó khăn trong
quá trình phân tích, so sánh... Mặt khác, trong khoảng thời gian dài từ năm
1986 đến năm 1998 công tác thống kê về sự phát triển của kinh tế trang
trại chưa phải là một công tác thường niên từ TW đến các đòa phương nên
số liệu tổng hợp thống kê trong thời gian này còn nhiều khoảng trống. Đây
là một khó khăn không chỉ của tác giả mà còn là khó khăn chung cho
nhiều nhà nghiên cứu, quản lý mỗi khi muốn tìm hiểu về quá trình hình
thành và phát triển ban đầu của kinh tế trang trại gia đình.
Thứ tư, những tác phẩm, công trình nghiên cứu đã được đăng tải trên
sách, báo, tạp chí, các luận văn, luận án về phát triển kinh tế trang trại ở
tầm vó mô cũng như ở các đòa phương.
Thứ năm, nguồn tài liệu từ các cuộc điền dã khảo sát thực tế tại một
số trang trại gia đình ở tỉnh cụ thể như sau: Bình Long 40 trang trại; Lộc


19

Ninh 20 trang trại; Chơn Thành 40 trang trại; Phước Long 20 trang trại;
Đồng Phú 40 trang trại; Bù Đăng 20 trang trại; thò xã Đồng Xoài 20 trang
trại. Từ các đợt điền dã khảo sát, phỏng vấn trực tiếp các chủ trang trại đã
giúp và cung cấp thêm cho tác giả nhiều hiểu biết hơn về một sự phát triển
toàn diện của kinh tế trang trại gia đình. Tuy nhiên vì nhiều yếu tố khác
nhau chi phối làm cho quá trình điền dã, khảo sát vượt ra ngoài khả năng
độc lập của tác giả, do đó nguồn tài liệu này chưa phản ánh được tính toàn
diện, còn nhiều hạn chế nên chỉ được xem là nguồn tham khảo.
6. Đóng góp của luận án
Thơng qua việc trình bày một cách tồn diện có hệ thống về kinh tế

- Chương 4: Vai trò và tác động của kinh tế trang trại gia đình trong
phát triển kinh tế – xã hội ở Bình Phước



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status