Bài viết số 2 lớp 11 đề 6 - Pdf 34

Bài vi ết s ố2 l ớ
p 11 đề 1: Hình ản h ng ườ
i ph ụn ữvi ệt nam th ờ
i xư
a wa bài bánh trôi n ướ
c tự
tình

2



th ươ
ng

Bài

vợ
.
làm

Trong kho tàng văn học Việt Nam có r ất nhi ều bài th ơ nói lên than ph ận c ủa ng ười ph ụ n ữ phong
ki ến x ưa. Đó là nh ững ng ười ph ụ n ữ chịu s ự ràng bu ộc c ủa l ễ giáo phong ki ến “Tam tòng, t ứ đức”
( t ại gia tòng ph ụ, xu ất giá tòng phu, phu t ử tòng t ử và công dung ngôn h ạnh). H ọ h ầu nh ư không có
quy ền quy ết đị nh cu ộc đời mình, ch ỉ bi ết s ống cam ch ịu và ph ục tùng. C ảm thông v ới s ố ph ận, thân
ph ận và ph ẩm ch ất c ủa ng ười ph ụ n ữ x ưa, hai nhà th ơ H ồ Xuân H ương và Tr ần T ế X ương đã thay
h ọ nói lên ti ếng lòng mình qua các bài th ơ nh ư: T ự tình, Bánh trôi n ước, Th ương v ợ…..

Th ời x ưa, d ưới ch ế độ phong ki ến suy tàn, m ục nát, s ố ph ận ng ười ph ụ n ữ luôn b ị vùi d ập vào v ũng
l ầy đau kh ổ, luôn bị trói bu ộc b ởi xã h ội b ất công, nam quy ền độc đoán, m ột xã h ội “tr ọng nam khinh
n ữ”, m ột ch ế độ đa thê…. H ọ g ặp nhi ều đau kh ổ, l ận đận, tình duyên tr ắc tr ở, ch ịu cu ộc đời làm l ẻ,

ng ười ph ụ n ữ không qu ản khó kh ăn vì ch ồng vì con, là m ột hình ảnh tiêu bi ểu c ảu ng ười ph ụ n ữ
Việt Nam.
Qua đó, đã làm n ổi b ật nh ững v ẻ đẹp tâm h ồn và ph ẩm ch ất ng ười ph ụ n ữ Vi ệt Nam x ưa. Đồng th ời
phê phán cái xã h ội th ối nát, gi ận ng ười đời b ạc b ẽo vô tâm (“Sau gi ận vì duyên để m ỏi mõm mòm”
– T ự tình I c ủa H ồ Xuân H ương), gi ận cu ộc s ống đã đưa nh ững ng ười ph ụ n ữ vào ch ỗ l ẻ loi cô d ơn,
hiu hút:
“Oán h ận trông ra kh ắp m ọi chòm”
(T ự tình I – H ồ Xuân H ương)
H ọ oán h ận tr ước n ỗi đau âm ỉ, dai d ẳng đốt cháy tâm can và tê tái nh ất.
Trong th ơ H ồ Xuân H ương ta luôn b ắt g ặp nh ững hình ảnh ng ười ph ụ n ữ bi ết v ượt lên s ố ph ận,
không để n ỗi đau làm mình g ục ngã:
“Xiên ngang m ặt đất rêu t ừng đám
Đâm to ạc chân mây đá m ấy hòn”
(Tự tình II)
Qu ả th ật, h ọ không bao gi ờ chịu khu ất ph ục, luôn c ựa qu ậy. Xuân H ương l ại càng kh ẳng định”
“R ắn nát m ặc d ầu tay k ẻ n ặn
Mà en v ẫn gi ữ t ấm lòng son”
( Bánh trôi nước)


Đúng là một phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ với tấm lòng thủy chung, son s ắc, quy ết gìn gi ữ
không để hoàn cảnh xã hội lam hoen ố, là niềm tự hào, lòng kiêu hãnh và hãnh di ện v ề chính mình.
Và trong tâm hồn người phụ nữ luôn khao khát được hòa h ợp trong một tình yêu tr ọn v ẹn, mãnh
liệt:
“Chém cha cái kiếp lấy cồng chung”
Nó thể hiện một niềm khao khát chính đáng của người phụ nữ ở mọi th ời đại.
Đến với “Thương vợ” của Tú Xương nhìn với góc độ đạo lý, bà Tú đang tuân theo b ổn ph ận làm v ợ
nhưng nhìn ở góc độ tình cảm, ta thấy bà làm tất cả vì ch ồng con mà không than th ở, ở bà hi ện lên
vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam. Đó là sự đảm đang, chịu thương, chịu khó và đức
hi sinh âm thầm vì chồng con.


Bài làm
“Thân em như củ ấu gai
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì đen
Ai ơi ném thử mà xem
Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”
Đã từ lâu, hình ảnh người phụ nữ Việt Nam xưa đã xuất hiện nhi ều qua nh ững câu ca dao v ới
những vẻ đẹp, hình tượng khác nhau. Nhưng ở họ đều có chung đức tính truy ền th ống đẹp đẽ mà
dân tộc Việt Nam đã tích luỹ được qua hàng ngàn năm lao động và đấu tranh. Hình ảnh đó c ũng
được thể hiện rất tài tình qua hai bài thơ Tự Tình II cua H ồ Xuân H ương Và Th ương V ợ c ủa Tr ần
Tễ Xương.


Hình ảnh đầu tiên của người phụ nữ Việt Nam được thể hiện qua hai bài th ơ đó là hình t ương
người phụ nữ Việt Nam chịu nhiều đau khổ, vất vả trong cu ộc s ống. Đó là hình ảnh bà Tú v ất v ả,
gian truân kiếm sống, tất bật ngược xuôi “Quanh năm buôn bán ở mom sông”. Câu th ơ đã nói lên
một hoàn cảnh làm ăn vất vả, lam lũ của bà. Ở đây, bà Tú làm vi ệc v ất v ả su ốt c ả n ăm, không k ể
mưa nắng trên mom sông- cái doi đất nhô ra đầy nguy hi ểm. Th ấm thía n ỗi v ất v ả, gian truân c ủa
vợ, Tú Xương đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói v ề bà Tú. Có đi ều hình ảnh con cà
trong ca dao đầy tội nghiệp mà hình ảnh con cò trong th ơ Tú X ương con t ội nghi ệp h ơn. Con cò
trong thơ không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của không gian mà còn là r ợn ng ợp c ủa th ời gian.
Hình ảnh thân cò như một sự sáng tạo:
“Lặn lội thân cò khi quãng vắng”
đưa từ lặn lội lên đầu câu, thay con cò bằng thân cò cũng làm t ăng thêm n ỗi v ất v ả, gian truân c ủa
bà Tú, càng khơi dậy cả nỗi đau thân phận sâu sắc, thấm thía hơn:
“Eo sèo mặt nước buổi đò đông”
Câu thơ gợi nên một sự chen chúc, bươn chải trên sông n ước c ủa nh ững ng ười buôn bán nh ỏ, s ự
cạnh tranh đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thi ếu lời qua ti ếng l ại. Bu ổi đò đông đâu ph ải
là ít lo âu, nguy hiểm hơn khi quãng vắng mà đó còn là sự chen l ấn, xô đẩy ch ứa đầy b ất tr ắc, nguy
hiểm. Những câu thơ đã làm nổi rõ lên những vất vả, cực nhọc mà bà Tú và người phụ nữ Việt Nam

phúc lứa đôi, không người yêu thương, thông cảm.
“Chén rượi hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”
Hai câu thơ vẽ nên một khung cảnh rất thật và cũng chứa chan bao nỗi ni ềm tác gi ả. M ột ng ười ph ụ
nữ mà phải ngồi uống rượu một mình, cô đơn với đêm khuya, v ới vầng tr ăng l ạnh. Câu th ơ là ngo ại
cảnh mà cũng là tâm cảnh, tạo nên s ự đồng nhất giữa trăng v ới ng ười. Khi mu ốn quên s ầu là lúc
người ta ở trong tâm trạng cay đắng nhất, khi xung quanh không có ai để có th ể chia s ẽ n ỗi ni ềm và
ta chỉ còn biết quên đi nỗi niềm trong men rượu, m ột mình. Nh ưng li ệu chén r ươu có th ể làm quen
đi bảo nỗi cô đơn, tủi nhục trong lòng hay Hồ Xuân Hương u ống r ượu mà nh ư u ống đi bao gi ọt s ầu
mà người uống chẳng đổ đi được khi mà có thể lặng lẽ, âm thầm nu ốt vào cổ h ọng, để đau kh ổ
cũng chẳng mất đi đâu mà trở lại chính trong tâm trí mình. Ở đây c ảnh tình Xuân H ương được th ể
hiện chứa đựng bi kịch. Tuổi xuân đã trôi qua mà nhân duyên không được tr ọn v ẹn.Tr ăng v ốn là
biểu tượng của hạnh phúc, là hình ảnh đại diện cho ước m ơ và hi v ọng. Nh ưng h ạnh phúc c ủa H ồ
Xuân Hương lại xót xa đến mức “khuyết chưa tròn”- một hạnh phúc không h ề trọn v ẹn, một cuộc đời
còn dang dở, éo le với những trắc trở trong tình duyên. H ạnh phúc c ủa bà ch ỉ nh ư v ầng tr ăng
khuyết mà bà không thể biết trước ngày mai trăng sẽ khuyết ti ếp hay tròn. Ánh tr ăng sáng mà l ạnh
lẽo vô cùng khi ẩn hiện trong đó một nỗi cô đơn, trống vắng. Và bóng x ế đi kèm v ới trăng l ại g ợi nên
một nỗi niềm trong lòng tác giả: nỗi lo sợ trước tuổi xuân đang m ất đi. Tr ăng đã x ế mà v ẫn khuy ết
chưa tròn, giống như tuổi xuân của Xuân Hương đang mất đi mà tình duyên chu ă được tr ọn v ẹn.
Hình ảnh mặt trăng là hình ảnh ẩn dụ vô cùng độc đáo và đặc sắc, miêu tả chính xác và vô cùng


sinh động ngoại cảnh mà cũng bộ lộ được tâm cảnh, những suy nghĩ, tâm t ư đang hi ện h ữu trong
bà.
Nhưng dù có vất vả, đau xót, chán chường đến mức nào, thì ng ười phụ n ữ Vi ệt Nam x ưa v ẫn là
những con người có những phẩm chất đẹp đẽ, không chỉ ở vẻ bề ngoài mà còn là ở tình yêu
thương , lòng nhân hậu, một lòng, một dạ vì chồng, vì con:
“Nuôi đủ năm con với một chồng”
Câu thơ là gánh nặng gia đình đặt lên vai bà Tú, vất vả quanh n ăm ch ẳng n ề hà nh ư v ậy là để nuôi
cả nhà. Đông con, nuôi lũ con đông ấy đã đành, bà còn phải nuôi ch ồng. N ăm con v ới m ột ch ồng là

nhường nào. Nhưng dù sao, bà cũng chỉ là một người ph ụ n ữ phong ki ến, m ột thân ph ận n ữ nhi cô
độc, dù phá phách, dù nổi loạn đến đâu thì cũng chỉ trong giới hạn ngôn t ừ. Bà không th ể làm gì
hơn được nữa.............. Mặc dù vậy, ta phải công nhận đay là m ột cách suy ngh ĩ vô cùng m ới m ẻ,
một tư tưởng đi trứoc thời đại, một tính cách hoàn toàn khác biệt so v ới ng ười ph ụ n ữ lúc b ấy gi ờ.
Đó là một bản lĩnh, một cá tính Xuân Hương đáng trân trọng:
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con”
Ngán là chán ngán, là ngán ngẩm. Hồ Xuân H ương ngán l ắm r ồi n ỗi đời éo le, b ạc b ẽo. Xuân đi r ồi
xuân lại, tạo hoá chơi một vòng luẩn quẩn. Từ xuân mang hai ngh ĩa, v ừa là mùa xuân, v ừa là tu ổi
xuân. Mùa xuân đi rồi, mùa xuân tr ở lại với thiên nhiên, v ới muôn nghìn hoa c ỏ, lá cây, nh ưng v ới
con người tuổi xuân qua là không bao giờ trở lại. Hai từ “lại” trong cụm từ “xuân đi xuân lại lại” mang
hai ý nghĩa khác nhau. Từ lại thứ nhất nghĩa là thêm lần nữa, từ lại thứ hai nghĩa là trở lại. Sự tr ở lại
của mùa xuân lại đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân. Nghệ thuật tăng ti ến làm cho ngh ịch c ảnh
càng éo le hơn: Mảnh tình-san sẻ-tí con con. Mảnh tình đã bé l ại còn san s ẻ ra thành ít ỏi, ch ỉ còn tí
con con nên càng xót xa, tội nghi ệp. Câu th ơ được vi ết ra có th ể là tâm tr ạng c ủa ng ười mang thân
đi làm lẽ. Đau xót biết mấy, khi mảnh tình là một thứ được chia n ăm x ẻ b ảy, nh ận d ược duy nh ất
một mảnh tí con con. Hạnh phúc của bà chẳng những không tr ọn v ẹn mà còn nh ỏ bé, ít ỏi đến m ức
độ tội nghiệp. Tình duyên như thế có để làm gì, chỉ càng thêm tủi nhục, đắng cay. Cách dùng t ừ
giản đơn mà vẫn vô cùng độc đáo đã cực tả nỗi niềm của tác giả. H ồ Xuân H ương ngang tàng,
thách thức đầy nổi loạn trên là thế, nhưng cuối cùng tất cả vẫn ch ỉ chìm vào vô v ọng trong s ự b ất
lực tột cùng và chán chường, mệt mỏi. Những cố gắng vùng vẫy c ủa bà ch ỉ là vô ích, b ởi ph ận c ủa
bà vốn đã là một bi kịch và mãi mãi chỉ là bi kịch mà thôi. Có lẽ trong gi ờ phút ấy, bà đã muốn buông
xuôi, muốn bỏ mặc cho tất cả số phận đưa đẩy, bà đã mất hết hi vọng............ “Gi ọt n ước m ắt
em..........âm thầm buông rơi, đêm sầu đơn côi...........trong tim em ôm tr ọn m ột n ỗi sàu b ơ
vơ................đành khóc vậy thôi............... Liệu Hồ Xuân H ương có th ể v ượt qua t ất c ả để tr ở l ại là
một người phụ nữ yêu đời mạnh mẽ, không sợ gì cả như ngày nào? Đó vẫn là câu h ỏi còn d ở dang
của người phụ nữ đem thân đi làm lẽ, phận người mà hạnh phúc không bao giờ trọn vẹn mà chỉ nh ỏ
nhoi như mảnh gương vỡ......... Câu thơ diễn đat sâu sắc đỉnh điểm, bi k ịch của Hồ Xuân H ương và
cũng là của người phụ nữ thời bấy giờ.
Đó là những hiện thân cho những khổ đau của con người trong xã h ội x ưa, đồng th ời là k ết tinh c ủa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status