Luận văn thạc sĩ nâng cao chất lượng giảng dạy môn dân ca cho hệ cao đẳng tại trường đại học đồng nai - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM
_______________________

TRẦN THỊ KIM NGA

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN DÂN CA
CHO HỆ CAO ĐẲNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGHỆ THUẬT ÂM NHẠC

HÀ NỘI, NĂM 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

HỌC VIỆN ÂM NHẠC QUỐC GIA VIỆT NAM
_______________________

TRẦN THỊ KIM NGA

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN DÂN CA
CHO HỆ CAO ĐẲNG TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG NAI

Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc phổ thông
Mã số:

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, các đồng nghiệp
và sinh viên trường Đại học Đồng Nai đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá
trình thực hiện đề tài.
Thành công này của tôi, cũng nhờ có sự động viên, khuyến khích tạo
mọi điều kiện của những người thân yêu và bạn bè đã luôn bên tôi để tôi hoàn
thành tốt công việc.
Luận văn chắc chắn sẽ không tránh khỏi các thiếu sót. Rất mong được
sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn đồng nghiệp.
Tác giả luận văn

Trần Thị Kim Nga


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANDG

: Âm nhạc dân gian



: Cao đẳng

CĐSP

: Cao đẳng sư phạm

CNTT

: Công nghệ thông tin


: Quan họ Bắc Ninh

SV

: Sinh viên

TCSP

: Trung cấp sư phạm

UBND

: Uỷ ban nhân dân


Mục lục
Phần mở đầu

1

Chương 1: Vài nét về dân ca Việt Nam và việc giảng dạy môn dân ca ở 6
trường Đại học Đồng Nai
1.1. Vài nét về dân ca Việt Nam

6

1.2. Việc giảng dạy môn dân ca ở trường Đại học Đồng Nai

22


Kết luận

75

Tài liệu tham khảo

77

Phụ lục

79


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, vì vậy Việt Nam có một kho tàng
dân ca rất phong phú và đa dạng. Mỗi vùng miền đều có những thể loại dân ca
với những làn điệu mang âm hưởng khác nhau. Những thể loại, những làn
điệu này luôn gắn liền với cuộc sống của người dân lao động xưa. Vì thế, qua
những bài dân ca, người nghe có thể cảm nhận được những tâm tư tình cảm,
những hoạt động lao động của người dân ở mỗi vùng miền.
Dân ca Việt Nam là một kho tàng lớn, để nắm bắt được cái hồn và thể
hiện được nó đòi hỏi cần có một quá trình, và Hát là con đường tiếp cận dễ
nhất. Có thể nói, chỉ cần nắm bắt được cái hồn và tính chất vùng miền, đặc
trưng của bài dân ca thì ai cũng có thể hát được. Nhưng với cuộc sống hiện
nay dân ca đang dần bị lãng quên, thay vào đó là những “làn gió mới” của âm
nhạc nước ngoài như thể loại Rock, Jazz, hay những ca khúc nhạc ngoại lời
Việt. Đây là những thể loại nhạc mà trong thời đại mở cửa này phù hợp với

Đại học Đồng Nai. Tuy nhiên, chương trình cũng như phương pháp giảng dạy
còn nhiều điều bất cập và hạn chế nên chưa đáp ứng được mục tiêu đào mà
môn học hướng tới.
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài “Nâng cao chất lượng giảng dạy
môn dân ca cho hệ Cao đẳng tại trường Đại học Đồng Nai” làm đối tượng
nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ chuyên ngành Phương pháp và lý luận dạy
học phổ thông cho mình.
2. Lịch sử đề tài:
Các công trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục dân ca và âm nhạc dân
gian nói chung cho trường học hay tầm quan trọng, sức sống của âm nhạc dân
gian trong lịch sử … đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu:
Trong cuốn “Sức sống của nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam” của PGS
Tô Vũ xuất bản năm 1996, tác giả có đề cấp đến vấn đề “Xây dựng khoa


3

thanh nhạc cổ truyền” trong hệ thống đào tạo chuyên nghiệp và đặc biệt nhấn
mạnh đến tầm quan trọng của nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy
cũng như đội ngũ giáo viên.
Nhà nghiên cứu âm nhạc Bùi Trọng Hiền có bài viết “Giáo dục cổ
nhạc Việt Nam – những bài học thực tiễn từ giảng đường” (hội khảo khoa
học – viện Âm nhạc – năm 2003) đã nêu lên sự “thờ ơ” đối với âm nhạc cổ
truyền của công chúng và đặc biệt là giới trẻ. Bài viết nêu rõ vai trò của giáo
dục – đào tạo trong việc truyền bá vốn âm nhạc truyền thống cho các em, nhất
là tầng lớp thanh niên, những chủ nhân tương lai của đất nước.
Tháng 3 năm 2010, tại Hà Nội Bộ Giáo dục và đào tạo tổ chức hội thảo
Tăng cường năng lực cho giảng viên các trường, khoa sư phạm đào tạo giáo
viên thể dục, âm nhạc, mỹ thuật cho tất cả các trường cao đẳng sư phạm và
đại học sư phạm. Hội thảo đã đưa ra rất nhiều ý kiến, quan điểm về nhu cầu

pháp giảng dạy, đối tượng học,… kết hợp với những kiến thức đã được học,
tôi hy vọng sẽ đưa ra được những giải pháp cụ thể góp phần vào việc nâng
cao chất lượng giảng dạy môn dân ca cho hệ cao đẳng trường Đại Học Đồng
Nai trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng:
+ Thực trạng giảng dạy môn dân ca trong trường Đại học Đồng Nai,
những mặt được và chưa được cùng những nguyên nhân.
+ Vai trò của dân ca trong cuộc sống đương đại và việc truyền dạy môn
dân ca trong hệ thống các trường cao đẳng ở nước ta hiện nay.
+ Yếu tố vùng miền trong việc giảng dạy môn dân ca cho hệ Cao đẳng
sư phạm âm nhạc tại trường Đại học Đồng Nai.
- Phạm vi: Việc truyền dạy dân ca ở trường Đại học Đồng Nai.


5

5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp khảo sát, thâm nhập thực tế.
- Phương pháp phân tích tổng hợp.
Ngoài ra, ở một mức độ nhất định có sử dụng phương pháp thống kê, so
sánh đối chiếu và kế thừa những tư liệu của các tác giả đi trước.
6. Đóng góp của đề tài:
- Đề tài là công trình nghiên cứu về những vấn đề giảng dạy môn dân
ca hệ Cao đẳng trường Đại học Đồng Nai.
- Đề tài đưa ra những kiến nghị, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả vào chất lượng đào tạo, góp phần giữ gìn những giá trị văn hóa cổ truyền.
7. Bố cục luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
gồm có hai chương.

tình làng nghĩa xóm bởi những điệu lý câu hò; còn dân ca của các dân tộc ít
người ở Tây Nguyên, Tây Bắc,… do ảnh hưởng của thiên nhiên nên âm nhạc
mộc mạc, chân chất và đầy huyền bí,…
Hát dân ca là tìm đến cội nguồn dân tộc để hiểu rõ hơn về đời sống
phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa của ông cha ta.


7

Ngày nay các giá trị cao đẹp của kho tàng dân ca, là nguồn sáng tạo để
các nhạc sĩ nghiên cứu sử dụng vào các ca khúc góp phần xây dựng nền âm
nhạc hiện thực xã hội chủ nghĩa dân tộc và hiện đại.
- Hát ru:
Là thể loại dùng để ru trẻ ngủ. Lần đầu tiên cảm nhận được hơi ấm là
được nghe tiếng ru của người mẹ. Hát ru là tiếng lòng người mẹ, là hạt nhân
cơ bản của gia đình. Người mẹ nuôi dưỡng con khôn lớn không phải chỉ bằng
dòng sữa ngọt ngào mà còn bằng những sáng tạo của mình đó là tiếng hát ru.
Bài hát ru đặt nền móng cho cuộc sống sinh vật và tâm hồn. Lời ru là bản sắc
văn hóa dân tộc.
“Âm điệu của hát ru khá phong phú. Hát ru của mỗi dân tộc lại có
những âm điệu ru mang âm hưởng khác nhau. Những bài hát ru ở Miền Bắc
thường có nội dung ngụ ngôn. Hình ảnh những con vật thân thuộc gần với
cuộc sống của người nông dân như hình ảnh con cò, con vạc, con tôm, con
kiến, con mèo,… được đưa vào bài hát để dỗ trẻ con ngủ. Lời của các bài hát
ru này thường ở các loại thơ bốn chữ, lục bát, lục bát biến thể, song thất lục
bát, bảy chữ, tám chữ,… Những bài hát ru miền Trung là những bài hát kết
hợp giữa hát nói và hát ngâm, sử dụng nhiều loại thơ dân gian và thơ tự do.
Những bài hát ru này là tiếng nói tâm tình của các bà mẹ, các chị, các bà nên
nội dung mang tính chất tâm tình, trữ tình, đôi khi mang nội dung giáo dục
nhân cách, lịch sử, ca ngợi quê hương đất nước, thời sự. Đó là những bài hát

chứa đựng nhiều tâm trạng và thường bộc lộ cảm xúc của người mẹ đang ru
con ngủ. Nhịp điệu chậm rãi, sắc thái thiết tha dịu dàng, đều đặn chất chứa
nỗi buồn.
Ở miền Nam, thể loại hát ru được gọi là Hát đưa em hoặc Hát ầu ơ.
Chúng mang sắc thái âm nhạc độc đáo. Nhịp điệu lúc khoan thai, buông lơi
rơi đều theo nhịp võng, tao nôi và khi dỗ đứa trẻ khóc thì dồn dập, khẩn


9

trương. Âm điệu Hát đưa em nghe buồn man mác, dịu êm, có khi thảm thiết ai
oán, mùi mẫn, có lúc vui tươi yêu đời...
Với dân tộc thiểu số hát ru gắn liền với những chiếc địu trên lưng các
bà mẹ đi làm nương rẫy. Bởi vậy những bài hát ru của các tộc người thiểu số
gắn với công việc lao động thường ngày. Nếu như ở dân tộc Thái, hát ru là
những làn điệu Ulúknón thì với dân tộc mường lại đa dạng hơn. Hát ru của
người Mường được chia làm hai loại riêng biệt: loại dành riêng để ru ban
ngày và loại chỉ để ru ban đêm. Phụ nữ Khmú lại dùng Pí tót để ru con ngủ.
Âm hưởng của nó rất độc đáo đó là xen lẫn tiếng sáo là những âm thanh giọng
người và trong cung bậc luyến láy trầm bổng của âm nhạc là tiếng dỗ dành
êm ái của người mẹ. Có vùng trẻ em Khơ mú lại được ru bằng những nét nhạc
thì thào lẫn trong âm sắc rè rè của tiết tấu đao (ví dụ bài Li hem sih - Ru em
ngủ). Với dân tộc Khmer, “Hát ru con (Bomke Kôn) vốn phổ biến lâu đời
trong dân gian được lưu truyền từ các bà mẹ, ông bà hoặc chị. Loại hát ru này
có rất nhiều dị bản với những biến hóa phát triển ít nhiều khác biệt. Nhịp điệu
của chúng thường chậm rãi, phù hợp với nhịp võng đong đưa kẽo kẹt hoặc
theo nhịp đẩy đưa của hai cánh tay người hát ru đang ôm ghì con vào lồng
ngực. Giai điệu hát ru chạy theo đường nét dợn sóng, bắt đầu từ thấp uốn
cong lên rồi đổ dần xuống về âm chủ của thang âm điệu thức.” [ 27, tr.68].
Những bài hát ru trong sinh hoạt đã được nhiều thế hệ các bà mẹ trau

vào tiềm thức của các bé ngay từ thủa còn nằm trên nôi để rồi sau này sẽ
cùng với những yếu tố khác nảy nở thành nhân cách và tình yêu quê hương
đất nước trong mỗi con người Việt Nam,…” [9, tr.82-83].
- Đồng dao:
Là thể loại ca nhạc dùng cho thiếu niên nhi đồng như một hình thức
vừa học vừa chơi. Một số trò chơi dùng kèm với nhạc khí. Đây là một hình
thức vừa chơi vừa học rất bổ ích. Đồng dao có tác dụng rất lớn trong việc giáo
dục nhân cách trẻ. Trước hết là nội dung lời ca của các bài đồng dao rất đa


11

dạng. Lời ca mang tính giáo dục trẻ ở nhiều khía cạnh khác nhau: Giữ vệ sinh,
gần gũi với thiên nhiên, dạy các em cách quan sát các sự vật hiện tượng tự
nhiên xảy ra xung quanh hoặc hình ảnh của một số loài vật.
Con Công hay múa
Nó múa làm sao
Nó rụt cổ vào
Nó xèo cánh ra
Nhiều bài đồng dao có tác dụng rèn luyện sự nhanh nhẹn và phản xạ
chính xác cho các em.
Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa chết trương
Ba vương ngũ đế
Bắt dế đi tìm
Ù à ù ập
Đóng sập cửa lại
[18,tr.168]
Đồng dao đã mở rộng cánh cửa tâm hồn của trẻ nhỏ giúp các em dễ

dụng quan trọng trong việc tập luyện và chuẩn bị những năng lực cần thiết
cho các em để sau này có thể vững vàng bước vào đời. Qua những bài hát trò
chơi này các em làm quen và rèn luyện những phản xạ nhanh chính xác, khả
năng giữ thăng bằng, sự phối hợp tập thể, sự nhanh nhẹn, khéo léo, sức khỏe.
Các em có thể tự làm đồ chơi cho mình như thế sẽ phát triển được tính sáng
tạo, không những thế còn rèn luyện được sự khéo léo, tỉ mỉ và lòng kiên trì.
Tập sử dụng những trò chơi này vừa là những bài học đầu tiên về sử dụng
nhạc khí đồng thời là những bài học chuẩn bị cho các em gia nhập các sinh
hoạt văn hóa cộng đồng. “Quả thật các bài hát kèm theo trò chơi này không
những là bài học đầu tiên về ca nhạc mà còn là những bài học vỡ lòng về thế


13

giới tự nhiên và cuộc sống xã hội vẫn còn lạ lẫm với tuổi thơ. Đó cũng là
những bài tập giúp các em rèn luyện một số khă năng và tập quán cần thiết
cho cuộc sống trong tương lai. Vì vậy, các bài đồng dao không chỉ thuần túy
là những trò vui giải trí cho các em mà còn là những hình thức chơi mà học
tổng hợp rất bổ ích và cần thiết cho lứa tuổi thiếu niên nhi đồng chẳng những
ở các thời đại xa xưa mà ở cả thời đại ngày nay” [9, tr. 88-89].
- Hát giao duyên: Là thể loại hát đối đáp giữa nam và nữ. Đây là thể
loại khá phong phú phổ biến khắp các dân tộc. Người Việt thì có Ví, Đúm, Cò
lả, hát ghẹo Phú Thọ, Quan họ Bắc Ninh, người Tày thì có hát Phong slư, hát
Cọi ở Hà Giang, hát giao duyên Sli, Lượn của người Tày, Nùng các tỉnh Cao
Bằng, Bắc Kạn, người Dao có hát Páo dung, người Mường có hát Đúm, người
Thái có hát Khắp Tua…
Ở người Hmông có những bài hát tình yêu (Gầu Phlềnh) và những hình
thức trao đổi tình cảm trong những ngày hội đầu xuân Gầu tào, Sải sán bằng
lối hát tương tự như người Chăm, Việt, Mường… Và đặc biệt là bằng tiếng
đàn môi, kèn lá mô phỏng tiếng người nhờ đó “đối tượng” nghe hiểu được

Ca trù (hát ả Đào): Đây là lối hát thờ của người Việt dùng ở đình đền,
vì vậy nó nằm trong thể loại hát cửa đình. Các cuộc hát cổ xưa có nhiều nhạc
khí về sau chúng dần được tinh giảm chỉ còn một trống chầu do quan viên
cầm chầu dùng để thưởng phạt và hai nhạc khí đệm đặc trưng chỉ có trong hát
ả đào: Đàn đáy và phách bàn với bộ dù ba lá dùng trong lối hát chơi.
Hát xoan (khúc đình môn): Chỉ có ở Vĩnh Phú, là thể loại diễn xướng
tổng hợp sôi nổi gồm cả hát – múa và trò diễn. Nó có một hệ bài bản phong
phú được trình diễn theo lề lối quy định với ba chặng chính có đặc trưng khác
nhau. Tiết mục đặc sắc nhất của hát xoan là một trò diễn vui và sôi nổi: Đánh
cá. Tuy nhiên đó là một nghi thức có liên quan đến tín ngưỡng dùng để kết
thúc lễ hội.


15

Với tộc người thiểu số điển hình cho lễ nghi phong tục đó là hát Then.
Nó có nhiều làn điệu phục vụ các nghi lễ cúng tế, phổ biến trong một số tộc
người miền núi phía Bắc đặc biệt là người Tày, Nùng. Có thể xem hát Then
như một cuộc diễn xướng trường ca mang tính chất tâm linh tín ngưỡng tường
thuật lại cuộc hành trình của pháp sư đưa đoàn âm binh lên biên giới để cầu
xin Ngọc Hoàng giải quyết một số vấn đề gì đó theo yêu cầu của giai điệu
hoặc chính vì người làm Then. Mặc dầu vậy, từ xưa đồng bào cũng đã sử
dụng hát Then vào những mục đích khác ngoài mục đích cầu cúng. Nhạc khí
phổ biến trong các cuộc hát Then là tính tẩu và chùm nhạc xóc.
Hát đám cưới là thể loại phổ biến ở khá nhiều tộc miền núi phía Bắc
như Tày, Nùng, Thái, Cao Lan – Sán chỉ, Dao, Lô lô,… như hát Cò lẩu ở
người Nùng phàn Slình, Nai của người Nùng cháo, Xướng quan làng của
người Tày. Đồng bào Nùng có nhiều bái hát do thân nhân của người quá cố và
thầy Tào thực hiện trong quá trình lễ tang: Hát khóc, cầu siêu, tế,… Người
Mường thì có hát Mo, hát Rằng,… Đặc biệt phải kể đến dân ca trong các nghi

phong thái là ngân nga, êm dịu” [19,tr.735]. Bên cạnh đó là ngâm thơ và Vè
là những thể loại dân ca mô tả rất chân thật cuộc sống lao động và sinh hoạt
của người dân Việt Nam.
Dân ca sinh hoạt của các tộc người thiểu số cũng có các thể loại khác
nhau. Những sinh hoạt thường ngày, những công việc nương rẫy lúc địu con
đều được thể hiện qua những bài hát ru, hát giao duyên của dân tộc thiểu số
mặc dù không được phổ biến nhưng lại có những nét đặc sắc riêng. Ví dụ như
hát giao duyên người Tày có Phong Slư, hát Cọi ở vùng sông Chảy, người
Thái có Khắp Loong toong, hát trên cánh đồng,…
- Dân ca phong tục khác:


17

“Hát Sắc bùa là một thể loại được dùng với mục đích tống quỷ trừ tà,
chúc phúc lộc cho các gia đình nhân dịp năm mới. Tục này phổ biến ở người
Mường và người Việt từ bắc chí nam. [9,tr.129]
Hát Bả Trảo: “Là một thể loại diễn xướng phổ biến ở các cư dân Việt
vùng ven biển miền trung và một số nơi ở nam bộ. Nó gắn với tục thờ các
Ông tên gọi biểu lộ sự kính trọng mà những người đi biển dành cho loài cá
voi” [9, tr.130]
Hát múa đội đèn: Là một trong những trò thuộc hệ thống trò Đông Anh.
Hát múa đội đèn là hình thức nghệ thuật phản ánh lịch tiết của nông dân trong
một thời vụ trồng lúa.
Hát múa bóng rỗi: Thể loại dân ca nghi lễ phổ biến ở Nam Trung Bộ và
Nam Bộ.
1.1.2. Vai trò và giá trị của dân ca trong cuộc sống xưa và nay
Theo Âm nhạc cổ truyền Việt Nam của PGS-TS.Nguyễn Thị Loan thì:
“Âm nhạc dân gian là một bộ phận ra đời sớm nhất và có sức bền vững nhất.
Nó đã xuất hiện ngay từ thời nguyên thủy và tiếp tục tồn tại cho đến tận ngày

con người.
Chắc hẳn trong chúng ta ai cũng hơn một lần nghe khúc hát quan họ
của vùng quê Kinh Bắc hay cũng đã từng được nghe những câu Hò, Ví, Giặm
Nghệ Tĩnh, cùng những điệu Lý, câu hò khoan nhặt trên sông nước Nam bộ
hay ở nhiều vùng miền khác của đất nước. Những điệu hát Then, những câu
Sli, Lượn thật quyến rũ, độc đáo của người Tày - Nùng; những câu hát giao
duyên của người Thái - Mèo - Dao…; những câu hát ru em cùng nhiều làn
điệu dân ca khác của các tộc người ở Tây Nguyên… Tất cả những giai điệu,
lời ca ấy đã không chỉ làm nên nét đặc trưng của văn hóa vùng miền, mà còn
đem lại cho người nghe biết bao sự rung động khiến bất kỳ ai cứ mỗi khi nghe
thấy làn điệu dân ca quê hương lại không thể kìm được cảm xúc, để rồi sống


19

tốt hơn sao cho xứng đáng với quê hương - nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng ta
thành người. Giá trị và vẻ đẹp bình dị, mộc mại của dân ca đã được một nhà
phê bình Nghệ Thuật người Nga ghi nhận và mô tả: “Cũng như một đóa hoa
huệ, trong vẻ tráng lệ hoàn mãn của nó đã làm mờ cả màu gấm vẻ ngọc, âm
nhạc dân gian với cái giản dị tươi tắn của nó, còn trăm ngàn lần phong phú
hơn, đẹp đẽ hơn tất cả các kĩ xảo kinh viện”. [13, tr.67]
Thật vậy, sự trường tồn của nền âm nhạc dân gian nói chung, dân ca
nói riêng không chỉ bởi nó gần gũi thân thiết với người con người mà còn bởi
những giá trị mà nó mang lại.
Dân ca là nơi lưu trữ những dấu ấn văn hóa tinh thần hàng ngàn năm
của dân tộc. Đó là tiếng nói bình dị của người lao động các tộc người cùng
sống trên dải đất Việt Nam, là cốt cách tâm hồn, là lối sống nhân hậu của con
người Việt Nam được chắt lọc qua năm tháng để trở thành tinh hoa văn hóa
của dân tộc Việt Nam. Qua dân ca chúng ta sẽ cảm nhận được những phẩm
chất tốt đẹp, cao quý của dân tộc được biểu hiện qua sự đa dạng của đề tài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status