QUY HOẠCH
Tổng thể phát triển ngành công thương tỉnh Kon Tum giai đoạn
2011-2015, định hướng đến năm 2025
(Ban hành theo Quyết định số 54/QĐ-UBND ngày 13/01/2011 của UBND tỉnh Kon
Tum v/v phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành công thương tỉnh Kon Tum
giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2025)
PHẦN MỞ ĐẦU
I. Sự cần thiết cần phải lập mới quy hoạch tổng thể phát triển ngành Công
Thương giai đoạn 2011-2020 có định hướng đến 2025.
Kon Tum là một tỉnh có vị trí kinh tế - địa lý quan trọng, nằm ở cửa ngõ phía
Bắc vùng Tây Nguyên và trung tâm khu vực tam giác biên giới Việt Nam - Lào Campuchia. Trong giai đoạn gần đây, cùng với các địa phương khác trong vùng Tây
Nguyên, Kon Tum cũng đã đạt được những thành tựu ban đầu trong phát triển kinh tế xã hội nói chung và công nghiệp – thương mại nói riêng. Tuy nhiên do xuất phát điểm
thấp và những hạn chế về cơ sở hạ tầng, vốn đầu tư, trình độ nguồn nhân lực… nên
trong thời gian tới việc tiếp tục phát triển kinh tế với tốc độ cao có khả năng sẽ gặp
nhiều khó khăn, nhất là trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động và
vẫn còn đang trong giai đoạn phục hồi bước đầu sau một thời gian suy thoái nặng nề.
Những điều này có thể sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của kinh tế Việt
Nam nói chung và trong đó có Kon Tum nói riêng.
Cơ cấu kinh tế của Kon Tum về cơ bản là cơ cấu nông nghiệp hàng hoá. Khu vực
dịch vụ, công nghiệp và xây dựng hiện còn chiếm một tỷ trọng khá thấp trong cơ cấu
kinh tế, do vậy chưa đóng vai trò là động lực chính đưa nền kinh tế Kon Tum phát
triển theo hướng công nghiệp hoá-hiện đại hoá. Thêm vào đó, sự phát triển kinh tế của
Kon Tum hiện còn chịu nhiều ảnh hưởng từ sự biến động giá cả của thị trường hàng
hoá thế giới đối với các sản phẩm nông, lâm nghiệp vốn là thế mạnh của tỉnh như cà
phê, cao su, khoai mì… và một số cây công nghiệp khác. Do ảnh hưởng tiêu cực từ
những biến động trên thị trường hàng hoá thế giới thời gian qua nên trong ngắn và
trung hạn, giá cả của các mặt hàng nông-lâm sản có thể có chiều hướng suy giảm. Bên
cạnh đó vẫn còn tồn tại một số vấn đề về ổn định đời sống của người dân để phát triển
kinh tế. Những nhân tố cả về khách quan lẫn chủ quan này có thể sẽ tác động tới tiến
trình phát triển kinh tế trong thời gian tới trên địa bàn.
- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2001-2010 và dự
thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
- Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về việc phát triển kinh tế - xã hội
và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên.
- Các Hiệp định hợp tác song phương giữa Việt Nam – Campuchia và Việt Nam
– Lào và Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội khu vực Tam giác phát triển
Campuchia- Lào-Việt Nam.
- Quyết định số 12/2007/QĐ-BCT ngày 26/12/2007 của Bộ Công Thương về
việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển mạng lưới chợ trên phạm vi toàn quốc
đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
- Quyết định số 52/2008/QĐ-TTg ngày 25/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt Đề án Quy hoạch phát triển các Khu kinh tế cửa khẩu của Việt Nam
đến năm 2020.
- Quyết định số 864/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
quy hoạch xây dựng vùng biên giới Việt Nam - Lào đến năm 2020 (đoạn từ Điện Biên
đến Kon Tum) và Quyết định số 925/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt quy hoạch xây dựng vùng biên giới Việt Nam - Campuchia đến năm 2020 và
tầm nhìn đến năm 2030.
- Thông báo số 5982/BKH-CLPT ngày 20/8/2007 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch
và Đầu tư về kết quả rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội vùng Tây
Nguyên.
- Dự thảo báo cáo tổng hợp Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng
Tây Nguyên đến năm 2010 do Bộ Kế hoạch Đầu tư soạn thảo.
- Các quy hoạch phát triển các ngành khác của Trung ương có liên quan.
2
- Văn kiện Đại hội tỉnh Đảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ XIII;
- Dự thảo báo cáo Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Kon Tum giai đoạn
2011-2020, có xét đến năm 2025;
3
PHẦN MỘT
Tổng quan về hiện trạng và phương hướng phát triển KTXH của Kon Tum
CHƯƠNG I. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA KON TUM
GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2009
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI TỈNH KON TUM
1. Điều kiện tự nhiên
1.1. Vị trí địa lý:
Kon Tum là một tỉnh miền núi biên giới nằm ở phía cực Bắc Tây Nguyên có
toạ độ địa lý là 107°20’15”Đ – 108°32’30”Đ kinh độ Đông, 13°55’10”B –
15°27’15”B vĩ độ Bắc. Kon Tum có đường biên giới phía Tây giáp CHDCND Lào dài
142,4 km, giáp Vương quốc Campuchia dài 138,3 km, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam,
phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Gia Lai. Diện tính tự nhiên năm
2009 là 9.690,5 km2 với dân số trung bình là 432,86 ngàn người. Kon Tum có 9 đơn vị
hành chính bao gồm 1 thành phố và 8 huyện với 81 xã, 10 phường và 6 thị trấn.
Với vị trí địa lý nằm tại ngã ba biên giới Việt Nam – Lào – Campuchia, Kon
Tum có một vai trò rất quan trọng trong an ninh quốc phòng của vùng biên giới Tây
Nguyên. Mặt khác Kon Tum nằm ở cửa ngõ của Vùng Tây Nguyên và trên tuyến hành
lang kinh tế Đông – Tây nên cũng có một vai trò hết sức quan trọng trong phát triển
kinh tế của vùng Tây Nguyên nói riêng và cả nước nói chung.
1.2. Khí hậu:
Kon Tum có khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên với 2 mùa rõ rệt trong năm.
Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm trên 80% lượng mưa cả năm, bình quân
khoảng 300-400mm/tháng, với cường độ lớn tập trung vào khoảng tháng 7 và 8. Mùa
khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, độ ẩm giảm khá mạnh khoảng dưới 80%, có gió
đông bắc thổi mạnh gây nên tình trạng khô hạn, thiếu nước cho sản xuất.
1.648
giờ
2.043
2.257
2.520
2.288
2.290
2009
23,6
79,8
2.173
2.370
Nguồn: Niên giám thống kê Kon Tum 2000-2009
Ngoài ra, Kon Tum còn có một số tiểu vùng khí hậu ở các dạng địa hình khác
nhau như ở khu vực Ngọc Linh, Măng Đen... Sự đa dạng của khí hậu của Kon Tum
thích hợp cho phát triển các loại cây trồng phong phú và triển khai các dịch vụ du lịch,
nghỉ dưỡng trên địa bàn.
1.3. Địa hình:
Phần lớn lãnh thổ Kon Tum nằm bên sườn phía Tây dãy Trường Sơn nên có địa
hình thấp dần từ Đông sang Tây và từ Bắc vào Nam. Độ cao trung bình khoảng 5504
700 m so với mực nước biển trong đó vùng phía bắc trung bình khoảng 800 - 1.200 m,
vùng phía nam khoảng 500 - 530 m. Phía Bắc có đỉnh núi Ngọc Linh cao 2.596 m cao nhất khu vực miền Trung và phía Nam. Kon Tum có địa hình đa dạng, bị chia cắt
bởi hệ thống các suối, ngòi chằng chịt, đồi núi cao nguyên và vùng trũng xen kẽ nhau
do đó ảnh hưởng khá lớn đến hình thành và phát triển mạng lưới giao thông, phát triển
cơ sở hạ tầng và phân bố dân cư.
dân tộc ít người khác như: Dẻ Triêng, Gia Rai, BRâu, Rơ Mâm... Ngoài ra một số dân
tộc thiểu số miền núi phía Bắc cũng di cư tới làm ăn sinh sống tại Kon Tum như Tày,
Nùng, Hmông... Người Kinh sinh sống chủ yếu ở các khu vực thành phố, đô thị và thị
trấn và ven các tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ. Các dân tộc thiểu số ít người khác chủ
yếu sinh sống ở các vùng sâu, vùng xa, trong các thôn, làng.
Dân số trung bình tỉnh Kon Tum năm 2005 là 374,8 nghìn người, năm 2008 đạt
404,47 nghìn người và năm 2009 là 432,86 nghìn người. Đến năm 2010, dự kiến quy
mô dân số vào khoảng 442 nghìn người.
5
2.2. Tỷ lệ tăng dân số
Tỷ lệ tăng dân số trong giai đoạn 2001-2005 bình quân đạt 2,73%/năm, và dự
kiến sẽ tăng lên 3%/năm giai đoạn 2006-2010 trong đó tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm
từ 2,88% (năm 2000) xuống còn 1,98% năm 2009 và dự báo xuống chỉ còn khoảng
1,85% vào năm 2010. Như vậy, tốc độ tăng dân số cơ học của Kon Tum vẫn ở mức
cao, điều này gây sức ép đến việc bố trí đất định cư và sản xuất cho dân di cư từ các
tỉnh khác, khi mà quỹ đất của Kon Tum ngày càng thu hẹp do việc phát triển dân số.
2.3. Cơ cấu dân số thành thị và nông thôn.
Tỷ lệ dân số đô thị trong cơ cấu dân số tỉnh tăng dần từ 32,1% năm 2000 lên
33,8% năm 2009. Tốc độ đô thị hoá của Kon Tum diễn ra khá đều trong giai đoạn gần
đây. Trong thời gian tới, dự kiến tốc độ đô thị hoá của Kon Tum sẽ tăng mạnh và sẽ là
tiền đề cho sự phát triển mạnh công nghiệp – xây dựng và thương mại dịch vụ trong
tương lai.
Bảng 2. Cơ cấu dân số Kon Tum phân theo thành thị và nông thôn
Đơn
Chỉ tiêu
2000
2005
2006
Nguồn: Niên giám thống kê Kon Tum 2000-2009
2.4. Dân số trong độ tuổi lao động và trình độ nguồn nhân lực
Dân số trong độ tuổi lao động của Kon Tum năm 2008 là 204,7 ngàn người,
chiếm khoảng 50,6% dân số tỉnh, tăng gấp 1,3 lần so với năm 2000 và 10,8 lần so với
năm 2005. Tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế của Kon Tum năm 2009
đạt 234,1 ngàn người trong đó lao động khu vực 1 chiếm khoảng 69,4%, lao động khu
vực 2 khoảng 6%, lao động khu vực 3 là 24,6%. Cơ cấu lao động có xu hướng chuyển
dịch mạnh sang khu vực dịch vụ và giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp do tốc độ đô
thị hoá đang diễn ra tương đối nhanh ở Kon Tum.
Bảng 3. Diễn biến chuyển dịch cơ cấu lao động Kon Tum qua các năm
Đơn vị tính: ngàn người, %
Chỉ tiêu
2000
2005
2008
2009
Lao động làm việc trong ngành KT
155,4
200,5
222,9
100,0
72,3
5,9
21,8
162,5
14,1
57,5
100,0
69,4
6,0
24,6
Nguồn: Niên giám thống kê Kon Tum 2000-2009
Tỷ lệ lao động qua đào tạo cũng tăng dần qua các năm và đạt khoảng 26,2%
6
năm 2008 so với mức 21% năm 2005, trong đó đào tạo nghề là 16%. Tuy vậy trình độ
lao động của Kon Tum nhìn chung vẫn còn tương đối thấp, nguồn lao động tương đối
dồi dào và có thể đáp ứng được nhu cầu về lao động phổ thông cho các ngành kinh tế
tuy nhiên trong tương lai khi kinh tế Kon Tum phát triển với tốc độ cao và chuyển biến
về chất thì khả năng thiếu hụt lao động có trình độ là rất cao, do đó việc đào tạo lao
động có kỹ năng và tay nghề là vấn đề cần quan tâm trong thời gian tới.
2.5. Dự báo về sự phát triển dân số đến năm 2020
Kon Tum là một trong những tỉnh Tây Nguyên có tốc độ tăng dân số cơ học ở
mức khá cao trong những năm gần đây. Dự báo đến năm 2015, quy mô dân số của
Kon Tum sẽ vào khoảng 505-510 ngàn người, tốc độ tăng bình quân vào khoảng 2,72,9%/năm, đến năm 2020 vào khoảng 570-600 ngàn người, tăng bình quân khoảng
2,45-3,3%/năm. Với quy mô dân số như trên, dân số trong tuổi lao động đến năm 2015
235
53,1
505
250
49,5
270
53,5
570
330
57,9
308
54,0
2,7
7,5
2,45
5,7
2,6
2,7
442
174
39,4
235
53,1
10,06% diện tích đất tự nhiên, tăng 10,6% so với năm 2005; đất trồng cây lâu năm
46.538 ha, chiếm 4,81% đất tự nhiên, tăng 15,6% so với năm 2005; đất lâm nghiệp có
rừng 682.575 ha, chiếm 70,44% diện tích đất tự nhiên, tăng 3% so với năm 2005; đất
nuôi trồng thuỷ sản 298 ha và đất nông nghiệp khác 118 ha, chiếm lần lượt 0,03% và
0,01% diện tích đất tự nhiên.
- Đất phi nông nghiệp khoảng 35.075 ha, chiếm 3,62% diện tích đất tự nhiên
trong đó đất ở là 5.275 ha, chiếm 0,54% cơ cấu đất tự nhiên. Tuy nhiên trong thời
gian tới do sức ép tăng dân số nên rất một phần diện tích đất chưa sử dụng sẽ được
7
chuyển đổi sang diện tích đất ở.
Bảng 5. Hiện trạng sử dụng đất tỉnh Kon Tum qua các năm
Đơn vị: ha
2005
Các loại
ha
Tổng diện tích tự nhiên
Đất nông nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp
Trong đó:
Đất trồng cây lâu năm
Đất lâm nghiệp
Trong đó:
Đất rừng phòng hộ
Đất rừng đặc dụng
Đất nuôi trồng thuỷ sản
86,2
16,7
969.046,3 100
791.651,4 81,7
128.404,6 13,3
969.046,3
827.043,3
144.051,7
100
85,35
14,87
35.391,9
15.647,1
969.046,3
834.923,1
162.292,8
40.262,1 4,2
662.872,2 68,4
46.537,7
682.574,9
4,8
70,44
20,72
9,00
0,03
0,01
3,62
0,54
1,66
0,00
0,04
-18.531,3
-1.653,3
52,8
-10,8
7.408,6
591,9
7.233,3
4,3
47,3
199.480,9
87.221,8
498,3
218,4
39.949,3
5.597,4
20.845,7
43,95
435,5
106.536,3
2,6
0,02
11,03
0,04
10,99
0,00
89,4
-42.800,6
-349,9
-42.450,6
-0,1
151,8
94.173,9
319,2
93.852,1
2,6
13.679,5
1,3
0,0
9,7
0,0
9,7
0,0
222
518
350
985
921
Rừng chăm sóc
ha
3.125 11.249
3.340
3.288
3.125
2009
2.965
956
6.294
8
Rừng tu bổ
Khai thác gỗ
Khai thác củi
ha
m3
ster
31.889
276.503
Bên cạnh các loài thú, Kon Tum còn có nhiều loại chim quý cần được bảo vệ như
công, trĩ sao, gà lôi lông tía và gà lôi vằn. Trong điều kiện rừng bị xâm hại, việc săn bắt
trái phép ngày một gia tăng, môi sinh luôn biến động đã ảnh hưởng đến sự sinh tồn của
các loài động vật, đặc biệt là các loài động vật quý hiếm. Tỉnh Kon Tum đã quy hoạch
xây dựng các khu rừng nguyên sinh và đưa vào xếp hạng quốc gia để có kế hoạch khai
thác, nghiên cứu và bảo vệ, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng
cao ý thức bảo vệ động, thực vật nói riêng, môi trường sinh thái nói chung.
3.3. Tài nguyên nước.
Kon Tum có hệ thống sông Sê San là một nhánh của sông Mêkông chảy theo
hướng Đông Bắc-Tây Nam. Tổng tiềm năng thủy điện trên sông Sê San vào khoảng
2.500 MW. Trên hệ thống sông Sê San đã hoàn thành, đưa vào phát điện các công
trình thủy điện: Ya Ly (công suất 720 MW); Sê San 3 (công suất 260 MW); Sê San 3A
(công suất 100 MW), Plei Krông (công suất 110 MW). Một số công trình thủy điện
khác đang thi công như Sê San 4 (công suất 330 MW); chuẩn bị xây dựng công trình
Thượng Kon Tum (220 MW). Ngoài ra, Kon Tum còn có tiềm năng rất lớn về thủy
điện vừa và nhỏ trên các phụ lưu sông, suối, có khả năng xây dựng 120 công trình,
trong đó 49 công trình có công suất từ 1 MW đến 70 MW. Đây là một thuận lợi lớn để
khai thác tiềm năng về thủy điện vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh.
Kon Tum cũng có các hồ thủy điện và hồ thủy lợi với diện tích hồ Ya Ly do
Kon Tum quản lý khoảng 4.450 ha và các hồ thuỷ điện sẽ có như Plei Krong - 11.080
ha, Đăk Bla - 9.750 ha, Đăk Ne - 510 ha và các hồ thuỷ lợi như Đăk HNiêng, Đăk Uy.
Đây vừa là các hồ giữ nước trong mùa khô cho tưới tiêu phục vụ sản xuất, vừa triển
khai nghề nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt và phát triển các dịch vụ du lịch.
Nguồn nước ngầm tỉnh Kon Tum được phân bố ở độ sâu khoảng 10 - 25 m, lưu
lượng khoảng 1- 3 lít/s, chất lượng nước tốt về thành phần hoá học còn về mặt vi sinh
học thì có nơi bị nhiễm bẩn. Các nguồn nước này thích hợp với các loại máy bơm ly
tâm và nhu cầu sử dụng nước đơn lẻ, giếng khoan.
3.4. Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn Kon Tum khá phong phú và đa dạng là tiền
đề cho phát triển công nghiệp. Điều tra sơ bộ cho thấy trên địa bàn tỉnh Kon Tum có
nghiệp sản xuất, khai thác, chế biến VLXD trong vòng 30 - 40 năm tới, đã có những
thăm dò đánh giá ở trữ lượng cấp C1-C2.. Đặc biệt là nguồn đá ốp lát gabropiroxen
màu đen ở Đăk Ring (Kon Plong) và Sa Nghĩa (Sa Thầy) có giá trị cao, cần được khai
thác và chế biến xuất khẩu.
- Các loại đá quí và bán quý cũng khá phong phú, song chưa được đánh giá chi
tiết mà mới dừng lại ở mức độ điểm quặng và biểu hiện khoáng hoá. Hiện tại đã phát
hiện 3 điểm quặng khoáng hoá Rubi, 13 điểm quặng và khoáng hoá saphia, 1 điểm
calxedon.
- Nước khoáng: phát hiện và phân tích chín điểm nước khoáng nóng tập trung ở
Kon Đào, Ngọc Tụ (Đăk Tô), Đăk Rinh, Ngọc Tem, Xã Hiếu (Kon Plong). Đây là
những nguồn nước có dược tính cao có thể đưa vào khai thác.
Tuy nhiên, nhìn chung cho đến nay mức độ điều tra, thăm dò địa chất trên địa
bàn tỉnh Kon Tum còn rất sơ lược. Để có thể khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng
sản có hiệu quả kinh tế cao, cần được đầu tư cho khâu điều tra, thăm dò, đánh giá
chính xác chất lượng, trữ lượng trên diện rộng, đồng thời tập trung vào một số tài
nguyên khoáng sản có nhu cầu trước mắt của tỉnh như đá ốp lát xuất khẩu, đá quí,
vàng sa khoáng và vàng gốc, đất sét, đá xây dựng, nước khoáng...
Hiện ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh còn
đơn điệu và manh mún do vậy hiệu quả kinh tế chưa cao gây ra các vấn đề về thất
thoát tài nguyên và ô nhiễm môi trường. Các hoạt động khai thác chủ yếu là quy mô
nhỏ và tận thu, chưa được đầu tư bài bản. Hoạt động chế biến chỉ dừng ở mức độ sơ
10
chế, nhiều công đoạn còn lãng phí tài nguyên, giá trị gia tăng của sản phẩm thấp, chưa
đầu tư cho chế biến sâu, sản phẩm chủ yếu tiêu thụ nội địa, không xuất khẩu.
II. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH KON TUM
1. Diễn biến tăng trưởng kinh tế
1.1.
468,01
577,66
241,20
428,33
493,08
577,16
666,57
783,63
844,37 1.827,64 2.294,87 3.017,72 4.183,24 4.874,49
Nguồn: Niên giám thống kê Kon Tum 2000-2009
Trong giai đoạn 2001- 2005 khu vực I có mức tăng bình quân 6,14%/năm, khu
vực II tăng 16,7%/năm, khu vực III tăng 12,16%/năm. Trong giai đoạn này, khu vực I
chiếm tỷ trọng cao nhất trong tăng trưởng GDP. Giai đoạn 2006- 2009, khu vực I đạt
mức tăng bình quân 7,61%/năm, khu vực II đạt 25,63%/năm, khu vực III đạt
16,3%/năm.
1.2.
GDP bình quân đầu người so sánh với cả nước
và vùng Tây Nguyên
GDP bình quân đầu người năm 2008 đạt 11,26 triệu đồng, gấp 2,37 lần so với
năm 2005 và 4,37 lần so với năm 2000. Tuy nhiên mức thu nhập thực tế giữa các
thành phần dân cư trên địa bàn tỉnh ngày càng có khoảng cách, đặc biệt là ở các khu
vực vùng sâu, vùng xa, nơi mà đời sống còn nhiều khó khăn, hệ thống hạ tầng chưa
phát triển, sản xuất và lưu thông hàng hoá còn yếu kém… thì thu nhập của người dân
ở khu vực đó còn thấp hơn rất nhiều so với mức thu nhập bình quân chung của tỉnh.
Trong 5 tỉnh Tây Nguyên, Kon Tum chiếm khoảng 8% tổng dân số và 7,1%
GDP của toàn vùng. Trong giai đoạn vừa qua, kinh tế Kon Tum liên tục đạt tốc độ
tăng trưởng cao ở mức 2 con số, tuy nhiên bình quân GDP/người của Kon Tum vẫn rất
140,58
Đăk Lăk
1.778,42
20.260,9
11,39
693,17
11
Đăk Nông
Lâm Đồng
441,82
1.216,62
5.948,0
16.007,65
13,46
13,16
176,18
240,2
Nguồn: Số liệu thống kê năm 2008 của các tỉnh và cả nước
Trong các tỉnh Tây Nguyên, Kon Tum là tỉnh có mức thu nhập bình quân đầu
người đứng ở mức thấp nhất và chỉ bằng 85% mức bình quân chung của vùng. Điều
này đặt ra cho Kon Tum những thách thức rất lớn trong thời gian tới để phát triển kinh
tế với tốc độ cao nhằm thu hẹp mức chênh lệch thu nhập so với các tỉnh trong vùng và
Tr đó Công nghiệp
8,21
8,26
8,76
8,78
8,23
Xây dựng
7,67
10,27
10,78
11,40
11,28
Thương mại-dịch vụ
38,89
40,14
38,10
35,30
32,75
2009
44,41
21,48
8,09
13,39
34,11
Nguồn: Niên giám thống kê Kon Tum 2000-2009
2.2.
64,63
Đầu tư nước ngoài
0,13
0,39
0,47
0,50
0,37
Nguồn: Niên giám thống kê Kon Tum 2000-2009
3. Tình hình thu, chi ngân sách
3.1.
Diễn biến thu ngân sách
12
Tổng thu ngân sách trên địa bàn (không bao gồm trợ cấp TW ) trong giai đoạn
2006-2009 tăng bình quân 33,3%/năm trong đó thu từ khu vực kinh tế trung ương đạt
mức tăng bình quân 46,3%/năm và khu vực kinh tế địa phương là 31,3%/năm. Thu
ngân sách năm 2009 đạt mức 3.248,1 tỷ đồng, tăng gấp 7,2 lần so với năm 2000 và 1,8
lần so với năm 2005. Chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu ngân sách vẫn là trợ cấp từ
trung ương. Tuy nhiên tỷ trọng đã giảm đáng kể từ mức 72,7% năm 2005 xuống chỉ
còn 52,0% năm 2009. Điều này chứng tỏ kinh tế của tỉnh đã bước đầu đã có tích luỹ để
tái đầu tư, tuy nhiên vẫn đang ở trong giai đoạn đầu của sự phát triển.
Bảng 11. Diễn biến thu ngân sách trên địa bàn
Đơn vị: tỷ đồng
2000
448,0
18,7
0,2
25,7
1.313,2
2006
2.111,6
84,6
216,4
14,1
66,2
1,35
1,35
133,3
1,1
20,7
1.450,1
2007
2.029,4
91,0
297,1
19,7
93,0
0,47
2,26
285,6
3,5
28,7
1.208,1
Diễn biến chi ngân sách
Tổng chi ngân sách địa phương trong giai đoạn 2006-2009 tăng bình quân
15,8%/năm, trong đó chi cho đầu tư phát triển hàng năm đã tăng từ 24% năm 2005 lên
34,9% năm 2009 tổng chi ngân sách và chủ yếu là chi cho xây dựng cơ bản. Chi
thường xuyên đã tập trung cho lĩnh vực sự nghiệp xã hội và theo hướng giảm dần chi
quản lý hành chính.
Bảng 12. Diễn biến chi ngân sách trên địa bàn
Đơn vị: tỷ đồng
Tổng chi
Chi ĐT phát triển
Tr.đó: XDCB
Chi thường xuyên
Nộp NS TW
Chi khác
2000
621,8
204,3
202,2
417,6
-
2005
1.782,7
427,1
374,6
575,8
0
1.403,2
0
1,0
Nguồn: Niên giám thống kê Kon Tum 2000-2009
3.3.
Cân đối thu chi ngân sách hàng năm
Tổng thu ngân sách trên địa bàn (không tính trợ cấp từ trung ương) của Kon
Tum năm 2009 đã đáp ứng được khoảng 48,6% mức chi ngân sách trên địa bàn, tăng
đáng kể so với mức 27,6% năm 2005.
Bảng 13. Tỷ lệ thu ngân sách địa phương trong chi ngân sách 2001-2009
13
Tổng thu, tỷ đồng
Tỷ lệ thu/chi, %
2000
336,4
54,1
2005
492,8
27,6
2006
661,5
Hàng hoá xuất khẩu chủ yếu là nhóm hàng khoáng sản và nông sản. Chiếm tỷ
trọng cao nhất là nhóm hàng nông sản, năm 2009 đạt mức 91,4% tổng kim ngạch xuất
khẩu so với năm 2005 mới chỉ chiếm 37,2%. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu bao
gồm: Bàn ghế gỗ các loại, đồ mộc tinh chế, cà phê, sắn lát khô, cao su thô... Nhập
khẩu chủ yếu là nhập lâm sản từ Lào và một số hàng tiêu dùng, nguyên liệu công
nghiệp từ Thái Lan, Trung Quốc.
Bảng 14. Giá trị và cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu
Đơn vị tính: ngàn USD, %
Giá trị xuất khẩu
- Hàng CN-TTCN
- Hàng nông sản
- Hàng lâm sản
- Các hàng khác
Giá trị nhập khẩu
- Tư liệu sản xuất
- Hàng tiêu dùng
2000
64.537
52.617
11.343
577
22.021
22.021
-
2005
13.453
2009
71.194
8,6
91,4
6.500
100,0
-
Nguồn: Niên giám thống kê Kon Tum 2000-2009
4.3.
Thị trường xuất, nhập khẩu và tiêu thụ
Hàng hoá nông sản được xuất khẩu chủ yếu đến các quốc gia như Trung Quốc,
Nhật Bản, châu Âu… tuy nhiên hầu hết đều xuất ở dạng thô hoặc sơ chế. Hoạt động
nhập khẩu chủ yếu là nhập lâm sản từ Lào và một số hàng tiêu dùng, nguyên liệu công
nghiệp từ Thái Lan, Trung Quốc phục vụ sản xuất trên địa bàn.
5. Phát triển cơ sở hạ tầng.
5.1.
Giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường không...
Toàn tỉnh hiện có 388 km đường quốc lộ (QL 14: 161 km; QL 14C: 107 km;
QL 24: 99 km; QL 40: 21 km), 392 km đường tỉnh lộ, 581 đường huyện lộ, 236 km
đường độ thị và 1.540 km đường thôn xã trong đó có khoảng 800 km đường đã được
trải nhựa. Nhiều tuyến giao thông quan trọng trên địa bàn tỉnh đã được đầu tư làm mới,
14
Kw, nâng hệ thống phát sóng truyền hình từ 2 kênh năm 2000 lên 4 kênh năm 2005
(trong đó 3 kênh phát chương trình Trung ương, 1 kênh phát chương trình địa
phương), tổng công suất phát lại đài tỉnh tại các huyện đạt 4 Kw. Sóng phát thanh có
tổng công suất 20 Kw. Các hệ thống truyền hình đài huyện cũng được đầu tư nâng cấp,
đến nay phần lớn các huyện có 2 máy phát với tổng công suất mỗi huyện đạt từ 1-3
Kw với 2 kênh phát, một số huyện còn có hệ thống phát thanh kỹ thuật số không dây.
5.3.
Tình hình lưới điện và mức độ điện khí hoá
- Nguồn cung cấp: Hiện tại, tỉnh Kon Tum được cấp điện từ hệ thống điện miền
Trung thông qua tuyến đường dây 110 KV mạch đơn PleiKu - Kon Tum - Đăk Tô và 2
trạm 110/22 KV với tổng dung lượng là 41 MVA (1x16 MVA và 1x25 MVA). Ngoài
ra còn một số nguồn phát độc lập là các trạm thủy điện nhỏ và pin mặt trời.
Trên địa bàn tỉnh hiện một số Nhà máy thủy điện như Sê San 3; Sê San 3A, Plei
Krông (Máy 1), Đăk Rơ Sa; ĐăkPôNe 2...đã hòa vào lưới điện quốc gia.
- Lưới điện: Tỉnh có 256 km đường dây 500 KV; 77 km đường 110KV; 1.064
km đường trung thế và 1.045 km đường hạ thế. Hiện có 969 trạm biến áp với tổng
dung lượng 86.676 KVA.
15
- Phụ tải điện: Điện thương phẩm trên địa bàn tỉnh đạt 125 triệu KWh. Điện
thương phẩm bình quân đầu người của Kon Tum còn thấp, khoảng 309
kwh/người/năm.
- Tình hình cấp điện cho khu vực nông thôn: Đến nay, đã có 100% xã, phường,
thị trấn được sử dụng điện lưới; tỷ lệ hộ dùng điện là 94%; số thôn dùng điện đạt
92,2%.
5.4.
GDP của tỉnh. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001-2005 đạt 27,8%/năm, giai
đoạn 2006-2009 đạt 22,6%/năm. Vốn đầu tư của nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo
chiếm khoảng 65,8% tổng vốn đầu tư, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng đã giảm xuống chỉ
còn 16%/năm giai đoạn 2006-2009 so với mức 31,7%/năm giai đoạn 2001-2005, trong
khi đó vốn ngoài nhà nước đã tăng mạnh từ mức 15,8%/năm giai đoạn 2001-2005 lên
42,8%/năm giai đoạn 2006-2009. Điều này cho thấy khả năng thu hút vốn từ khu vực
ngoài nhà nước đã có những bước tiến tích cực.
Vốn ngân sách Nhà nước và có nguồn gốc ngân sách chiếm tỷ lệ cao, chủ yếu
tập trung đầu tư cho hạ tầng kinh tế - xã hội, phục vụ sản xuất và đời sống của nhân
dân như: giao thông, thuỷ lợi, cấp nước, cấp điện, y tế, giáo dục, văn hoá... Trong giai
đoạn 2001-2005, vốn đầu tư cho giao thông, thuỷ lợi chiếm khoảng 40-45%.
16
Bảng 15. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội
Đơn vị tính: tỷ đồng, %
Vốn ĐT phát triển
I. Vốn Nhà nước
1. Vốn NS Nhà nước
2. Vốn TD nhà nước
3. Vốn của DNNN
II. Vốn ngoài NN
III. Vốn FDI
IV. Các nguồn khác
Vốn đầu tư xã hội theo các năm
2000
2005
2008
32,2
60,7
5,2
-23,3
90,9
15,8
42,8
-
Nguồn: Niên giám thống kê Kon Tum 2000-2009
Vốn ngoài quốc doanh tuy có mức tăng mạnh trong thời gian qua nhưng vẫn
còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu vốn hàng năm với khoảng 30%. Vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài còn rất nhỏ bé, năm 2009 mới chỉ là 45 tỷ đồng. Vốn có nguồn gốc
ngân sách chủ yếu tập trung đầu tư cho các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng không có khả
năng thu hồi vốn, hoặc có thời gian thu hồi vốn dài, hoặc đầu tư cho các mục tiêu dài
hạn.
Chất lượng và hiệu quả của đầu tư còn thấp, thể hiện tốc độ tăng của giá trị sản
xuất cao hơn giá trị tăng thêm, điều này cũng giải thích rằng vốn đầu tư toàn xã hội,
chủ yếu là vốn ngân sách, đầu tư cho cơ sở hạ tầng, chưa đầu tư vào các lĩnh vực tạo ra
giá trị gia tăng lớn.
III. VỊ TRÍ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA KON TUM TRONG VÙNG
1. Vùng Tây Nguyên
Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm
Đồng là một vùng đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế đất nước và an
ninh quốc phòng khu vực biên giới.
Trong giai đoạn 2001-2005, kinh tế các tỉnh Tây Nguyên có mức tăng trưởng
khá nhanh, bình quân khoảng 10,6%/năm, cao hơn mức bình quân của cả nước, tuy
nhiên do xuất phát điểm thấp và đi lên chủ yếu từ nông nghiệp nên vẫn là vùng chậm
phát triển. Tổng GDP của toàn vùng năm 2005 vào khoảng 20.867 tỷ đồng, tăng gấp
cơ sở may mặc. Khuyến khích nghề may, thêu, đan qui mô nhỏ, nghề dệt thổ cẩm
truyền thống. Tập trung đầu tư theo hướng sơ chế, bảo quản da nguyên liệu cung cấp
cho các nhà máy ở khu vực lân cận, khuyến khích phát triển các cơ sở sản xuất giày
vải, giày thể thao xuất khẩu.
- Khu, cụm công nghiệp: Thu hút đầu tư lấp đầy các Khu, cụm công nghiệp
hiện có, phát triển thêm các khu, cụm công nghiệp mới trên cơ sở đồng bộ với quy
hoạch nguồn nhân lực, cơ sở dạy nghề và hạ tầng xã hội, chú trọng vấn đề môi trường
và xử lý chất thải trong phát triển công nghiệp.
Tây Nguyên là Vùng có vị trí quan trọng đối với kinh tế cả nước về phát triển
cây công nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ điện và luyện kim (bôxit-alumin). Trong thời gian
tới, khi các dự án lớn được triển khai như các dự án về xây dựng thuỷ điện, điện phân
nhôm, chế biến nông, lâm sản, đồ gỗ, bột giấy… thì kinh tế Tây Nguyên sẽ từng bước
được cải thiện và sẽ dần thu hẹp khoảng cách về phát triển đối với các vùng khác. Sự
phát triển kinh tế vùng Tây Nguyên sẽ có tác động tích cực thúc đẩy kinh tế Kon Tum
phát triển hơn nữa.
2.
Vùng Nam Trung Bộ
Nam Trung bộ là vùng có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị và an
ninh quốc phòng, là nhịp cầu nối giữa miền Bắc và miền Nam, giữa Tây Nguyên với
mạch máu giao thông của đất nước, là vùng cửa sông của tất cả những con sông bắt
nguồn từ Tây Nguyên đổ về biển Đông. Hệ thống sông này đã tạo ra những cánh đồng
nhỏ hẹp nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội vùng
nói chung và đời sống nhân dân nói riêng.
Vùng Nam Trung bộ có bờ biển trải dài hơn một ngàn cây số, với nhiều khối núi
cao, đồ sộ phủ phục ngay sát mép nước, chia cắt địa hình, tạo thành những tiểu vùng có
cảnh quan hấp dẫn và kỳ thú. Hệ thống chùm cảng nước sâu, còn là cửa ngõ giao lưu với
các vùng trong cả nước và quốc tế, không chỉ riêng cho khu vực miền Trung mà cho cả
18
giềng với các tỉnh thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung và Vùng duyên hải Nam
Trung bộ.
Kon Tum nằm sát với Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung hiện đang được đầu tư
các dự án lớn của quốc gia như tổ hợp lọc hoá dầu Dung Quất (Quảng Ngãi), khu kinh tế
mở Chu Lai (Quảng Nam), khu kinh tế Nhơn Hội (Bình Định) cùng với hệ thống cảng
nước sâu, giao thông đường bộ, đường sắt, đường không và đường biển khá phát triển…
Những yếu tố này cũng có những tác động lớn tới sự phát triển ở Kon Tum trong tương lai.
4.
Vùng Tam giác phát triển Việt Nam – Lào – Campuchia
Tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam là một khu vực ngã ba biên
giới của ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Phạm vi của Tam giác phát triển này
bao gồm 13 tỉnh đó là: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Bình Phước ở Việt
Nam; Attapư, Salavan, Xekong và Chămpasac ở Hạ Lào; Ratanakiri, Stung Treng,
Mondulkiri và Kratie ở Đông Bắc Campuchia.
Tam giác phát triển có vị trí chiến lược đối với cả ba nước về chính trị, kinh tế, xã
hội và môi trường sinh thái. Dự kiến trong giai đoạn 2011-2020, khi chủ trương hợp tác
của ba nước được hiện thực hoá sẽ tạo nên những yếu tố mang tính đột biến. Dự báo tăng
trưởng kinh tế bình quân của toàn Tam giác phát triển sẽ đạt >9%. Cơ cấu kinh tế của khu
19
vực Tam giác phát triển sẽ có nhiều thay đổi tích cực trong giai đoạn 2011-2020. Ngành
nông - lâm - thuỷ sản sẽ giảm tỉ trọng từ mức gần 70% hiện nay xuống còn khoảng 4950% năm 2010. Ngành công nghiệp sẽ dần vươn lên, hiện chiếm tỉ trọng khoảng 10%, sẽ
tăng lên 25-30%. Đặc biệt, ngành dịch vụ sẽ phát triển mạnh trong khu vực, nhất là dịch
vụ du lịch.
Kon Tum có đường biên giới và cửa khẩu quốc gia với vùng Nam Lào và vùng
Đông Bắc Campuchia. Đây là một điều kiện rất thuận lợi để Kon Tum có thể tận dụng
để phát huy các mối liên kết vùng trong phát triển kinh tế tại khu vực biên giới nói
- Gắn phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển nguồn nhân
lực, đoàn kết các dân tộc. Quan tâm thoả đáng về phúc lợi xã hội và hỗ trợ phát triển
đối với các vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc. Bảo tồn và phát huy nền văn hoá truyền
thống đa dạng của các dân tộc trong tỉnh.
- Phát triển KTXH gắn với sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên thiên
nhiên và bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững. Có định hướng và chủ
động với các giải pháp phòng tránh, giảm nhẹ thiên tai hạn hán, lũ lụt và dịch bệnh.
- Gắn phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo an ninh quốc phòng; bảo vệ vững
chắc chủ quyền và an ninh toàn tuyến biên giới quốc gia (Việt Nam-Cămpuchia- Lào);
giữ vững ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
2.
2.1.
Các kịch bản phát triển KTXH và luận chứng phát triển
Dự báo 3 phương án tăng trưởng kinh tế
Trên cơ sở phân tích tình hình kinh tế - xã hội các giai đoạn 1996-2000; 20012005 và giai đoạn 2006-2008, xem xét tới khả năng thực hiện đến năm 2010, các lợi
thế và hạn chế ảnh hưởng đến quá trình tăng trưởng kinh tế của tỉnh trong thời gian
tới; xu thế phát triển chung của cả nước và vùng Tây Nguyên trong điều kiện hội nhập
kinh tế quốc tế; từ tiến độ thực thi của một số công trình trọng điểm của quốc gia có
liên quan đến tỉnh và tiếp cận từ mục tiêu giảm chênh lệch về GDP/người so với vùng
Tây Nguyên từ nay đến năm 2020;
Từ định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên đến năm 2020 có
dự báo tốc độ tăng trưởng GDP của vùng bình quân 12,5-13%/năm giai đoạn 20112015 và 12-12,5%/năm giai đoạn 2016-2020. GDP/người của vùng đến năm 2015 sẽ
đạt khoảng 30,3-30,5 triệu đồng/người và đến năm 2020 đạt 55,3-56,2 triệu
đồng/người (giá hiện hành);
Từ dự báo về quy mô dân số đến 2020, với mục tiêu thu hẹp dần khoảng cách
chênh lệch về GDP/người so với vùng Tây Nguyên theo các khả năng khác nhau, dự
báo các phương án tăng trưởng như sau:
4.197,3
6.159 13.786 29.729
3.GDP/người (tr.đ hh)
10,38
13,9
27,3
52,2
% so với Tây Nguyên
88,7
86,2
89,8
94
4. Nhu cầu đầu tư
thời kỳ (tỷ đồng)
30.508 63.772
II. Phương án 2 (GDP/người đạt mức trung bình vùng Tây Nguyên vào năm 2020)
1. Tổng GDP (SS 94)
1.930,3
2.503
5.034
9.908 14,5
15,0
14,5
2. GDP hiện hành
4.197,3
6.159 14.402 32.306
3.GDP/người (tr.đ hh)
10,38
13,9
28,5
94,9
4. Nhu cầu đầu tư
thời kỳ (tỷ đồng)
32.568 70.434
Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH tỉnh Kon Tum giai đoạn 2011-2020 và 2025
Dự kiến GDP bình quân đầu người đến năm 2010 của tỉnh Kon Tum đạt 13,9
triệu đồng (giá hiện hành), bằng khoảng 86,2% mức bình quân của vùng Tây Nguyên.
Giai đoạn sau 2010, các tỉnh trong vùng Tây Nguyên đều dự kiến tăng trưởng
với tốc độ cao từ 12-15%/năm trong giai đoạn 2011-2015 và từ 11,5-14,5%/năm giai
đoạn 2016-2020. Dự báo tốc độ tăng trưởng GDP của vùng Tây Nguyên bình quân
12,5-13%/năm giai đoạn 2011-2015 và 12-12,5%/năm giai đoạn 2016-2020. Để Kon
Tum có thể rút ngắn khoảng cách chênh lệch GDP/người so với vùng Tây Nguyên, tốc
độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh phải cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng chung của
vùng.
2.2.
Lựa chọn phương án tăng trưởng kinh tế
Xem xét bối cảnh chung của cả nước, vùng Tây Nguyên, cân nhắc giữa 2
phương án quy mô dân số và 3 phương án tăng trưởng kinh tế đã trình bày, với mục
tiêu đạt tốc độ tăng trưởng cao và thu hẹp khoảng cách về GDP bình quân đầu người
giữa tỉnh với vùng Tây Nguyên, với khả năng và nguồn lực có thể phát huy trong giai
đoạn tới sẽ chọn phương án 3 để luận chứng cơ cấu ngành.
2.3. Luận chứng chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng của các ngành tỉnh Kon
Tum.
22
- Từ ba phương án về tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh, sẽ có ba phương án
19,1
- Khối dịch vụ
33,6
Tốc độ tăng bình
quân (%)
2006- 2011- 20162010 2015
2020
14,5
14,0
13,6
2010
2015
2020
2.503,0
6.159,0
100
4.819
13.786
100
9.118
29.729
100
38,1
21,4
38,0
40,5
7,4
25,2
15,8
8,2
20,0
16,5
7,1
17,5
15,9
42,5
23,1
34,5
33,0
31,5
35,5
25,1
38,5
36,4
vào phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương nói chung và kinh tế vùng nói riêng.
Trong những năm gần đây, kể từ khi Chính phủ có chủ trương chú trọng phát
triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên, và đặc biệt là chương trình hợp tác phát triển ba
biên giới thì giữa các địa phương trong vùng và các địa phương nước bạn đã có những
cuộc gặp gỡ chính thức để xây dựng mối quan hệ hợp tác với nhau, đề xuất chương
23
trình hợp tác phát triển và thống nhất chủ trương trong chỉ đạo điều hành, nhằm thực
hiện các nội dung của chương trình hợp tác phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, phát
huy tiềm năng, lợi thế của mỗi địa phương, góp phần thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và
phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá-hiện đại hoá, chủ động hội nhập quốc tế và
khu vực, đóng góp tích cực vì lợi ích của doanh nghiệp và nhân dân của các địa
phương, của vùng và của các quốc gia trong khu vực.
1.
Công nghiệp:
- Thời gian qua, Kon Tum đã chủ động phối hợp, tạo điều kiện thuận lợi trong
việc sử dụng nguyên liệu nông, lâm sản của các địa phương lân cận, và kể cả của Lào,
Cămpuchia để phục vụ cho công nghiệp chế biến trên địa bàn. Các công trình thuỷ
điện trên địa bàn Kon Tum do các doanh nghiệp ngoài tỉnh đầu tư phát triển đã và
đang phát điện hoà vào lưới điện quốc gia.
- Thời gian tới, Kon Tum sẽ tiếp tục phối hợp, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp trong và ngoài tỉnh trong việc phát triển các thế mạnh từ rừng, từ nông nghiệp
và thuỷ điện. Kon Tum cần có cơ chế khuyến khích, thúc đẩy các doanh nghiệp công
nghiệp của các địa phương đầu tư, mở rộng sản xuất sang địa bàn của nhau, trước hết
trong lĩnh vực công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp điện nước…
- Về công tác quản lý nhà nước: Sở Công Thương Kon Tum cần thường xuyên
tham dự các chương trình hợp tác, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm về công tác quản lý
Nguyên – Lào – Campuchia và ngược lại.
24
- Hình thành và phát triển các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch, các chi nhánh,
văn phòng đại diện của các công ty du lịch tại Kon Tum.
- Phối hợp với các địa phương xung quanh xây dựng các chương trình bảo tồn
và phát huy văn hoá truyền thống của Vùng Tây Nguyên.
4.
Đầu tư:
Trong khuôn khổ hợp tác giữa các tỉnh trong vùng cần có các cuộc làm việc và
trao đổi về các biện pháp thu hút vốn đầu tư từ trong vùng và nước ngoài, xây dựng
các cơ chế chính sách thu hút đầu tư; phối hợp giải quyết thủ tục lập chi nhánh, văn
phòng đại diện cho các dự án của các doanh nghiệp tại địa phương, tham gia các hội
thảo kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
5.
Giao thông:
Trong lĩnh vực vận tải, thời gian qua ở Kon Tum đã hình thành mạng lưới vận
chuyển hành khách liên tỉnh, đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân, lưu thông hàng hoá
phục vụ cho phát triển kinh tế, du lịch và thương mại giữa các địa phương; các tuyến,
bến vận tải được phối hợp tổ chức tốt. Trong thời gian tới cần tiếp tục phát triển các
phương thức vận tải liên vận quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại và giao thương giữa
các địa phương trong vùng và các nước bạn.
25