Đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
------------

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ

ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
RA NƯỚC NGOÀI
Ngành: Kinh tế
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 62.31.01.06

VŨ THỊ MINH NGỌC


ii

Hà Nội – 2016


LUẬN ÁN ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Vũ Chí Lộc
2. TS. Nguyễn Thị Việt Hoa

Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Anh
Trường Đại học Kinh tế - ĐH Quốc gia HN
Phản biện 2: PGS.TS. Kim Văn Chính

5. Vũ Thị Minh Ngọc (2014d), Định hướng chính sách khuyến khích các
doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào ASEAN đến năm 2020, Chủ nhiệm để
tài NCKH cấp cơ sở, Trường ĐHKTQD, 2013 – 2014.
6. Đàm Quang Vinh, Nguyễn Quang Huy (chủ biên), Vũ Thị Minh Ngọc,
(thành viên), (2014), Giáo trình tài chính quốc tế, Nhà xuất bản Giáo dục
Việt Nam
7. Hoàng Đức Thân (chủ nhiệm), Vũ Thị Minh Ngọc (thành viên), (2014),
Xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2013, Đề tài nghiên cứu khoa
học cấp cơ sở trọng điểm, Đại học Kinh tế quốc dân.
8. Vũ Thị Minh Ngọc (2015a), Một số gợi ý về giải pháp hoàn thiện công tác
quản lý nhà nước nhằm thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài đến năm 2020, Tạp chí Kinh tế Đối ngoại No 73/2015.
9. Vũ Thị Minh Ngọc (2015b), Quan hệ đầu tư ASEAN – Việt Nam – Hoa Kỳ:

20 năm hợp tác và phát triển, Kỷ yếu hội hảo khoa học (cấp quốc gia):
"ASEAN -Việt Nam - Hoa Kỳ: 20 năm hợp tác và phát triển" , tại ĐH Ngoại
thương HN tháng 11/2015.
10. Vũ Thị Minh Ngọc (2015c), Tăng cường công tác giám sát hoạt động đầu
tư ra nước ngoài của Việt Nam thông qua hệ thống thông tin quốc gia, Hội
thảo quốc tế dành cho các nhà khoa học trẻ trong lĩnh vực kinh tế và kinh
doanh lần thứ nhất (ICYREB 2015) (Hội thảo quốc tế): “Kinh tế, quản lý,
quản trị kinh doanh trong bối cảnh toàn cầu hóa”, tại ĐH KTQD tháng
12/2015.


5
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài bắt đầu được thực
hiện ngay từ năm 1989, song văn bản đầu tiên trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối với hoạt

nào nghiên cứu về quản lý nhà nước của Việt Nam đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài
của các doanh nghiệp Việt Nam (DNVN).


6
Các lý thuyết về OFDI của Venon, mô hình OLI và IDP của Dunning, cũng như lý
thuyết về thể chế và các nghiên cứu thực nghiệm về vai trò của nhà nước đối với hoạt động
OFDI ở một số thị trường mới nổi (của các tác giả như Peng, 2002; Wright, Filatotchev,
Hoskisson, & Peng, 2005 Boddewyn và Brewer, 1994; IMF, 2005; Helleiner 1997, p.9;
UNCTAD 2005; Svetla Marinova, John Child and Marin Marinov, 2012 và một số tác giả
khác) sẽ được tiếp thu có chọn lọc trong Luận án.
Về đổi mới quản lý, tác giả dựa trên các quan điểm và phân tích của một số tác giả
như Abernathy & Utterback, 1978; Abernathy & Clark, 1985; Damanpour, Szabat & Evan,
1989; Drucker, 1985; Nonaka & Takeuchi, 1995; Schumpeter, 1934, Birkinshaw, Hamel &
Mol, 2008; Hamel, 2006; Mol & Birkinshaw, 2007; 2009.
2.2. Các nghiên cứu trong nước
Có một số đề tài nghiên cứu về OFDI và quản lý nhà nước về đầu tư của các tác giả
như Nguyễn Hữu Huy Nhựt, 2011; Nguyễn Hải Đăng, 2013; Đinh Trọng Thịnh, 2006; Võ
Thanh Thu, Ngô Thị Ngọc Huyền, 2009; Phạm Tiến, 2011 ... (liên quan đến hoạt động
OFDI); Nguyễn Thị Mão, 2001; Ngô Hoài Anh, 2006; Ngô Văn Hiền, 2008; Trần Văn
Nam, 2000; Đỗ Đức Bình, 2007 .. (về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư vào Việt
Nam). Ngoài ra, có một số công trình mang tính chất tổng kết kinh nghiệm quản lý đối với
OFDI trên thế giới, của các tác giả như Lê Xuân Sang, 2011; Vũ Văn Chung, 2012. Tuy
nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến quản lý nhà nước đối với OFDI tại
Việt Nam một cách tổng thể, phân tích trên các góc độ từ chính sách chung về vĩ mô, đến
các chính sách cụ thể áp dụng trong lĩnh vực quản lý OFDI.
Hiện chưa có công trình nào nghiên cứu về đổi mới quản lý nhà nước trong lĩnh vực
OFDI, song tác giả sẽ dựa trên cơ sở các nghiên cứu của các tác giả như Phạm Ngọc
Quang, 2006; Nguyễn Duyên Cường, 2012….. để phát triển nghiên cứu của mình
Như vậy, điểm qua tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, có thể thấy, mặc dù có

- Thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các
doanh nghiệp từ năm 1989 đến năm 2014, đồng thời nghiên cứu hệ thống quản lý nhà nước
về lĩnh vực OFDI từ năm 1999 cho đến nay. Năm 1999 là mốc thời gian bắt đầu ban hành
Nghị định 22/1999, là văn bản được coi là đặt nền móng cho hoạt động quản lý nhà nước
trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
- Về nội dung nghiên cứu: Tác giả tiếp cận trên góc độ nội dung quản lý nhà nước để
phân tích hoạt động quản lý nhà nước và đổi mới quản lý nhà nước trong lĩnh vực OFDI, từ
đó, đưa ra các giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với OFDI trong bối cảnh kinh tế mới.
5. Phương pháp nghiên cứu, khung lý thuyết, nguồn thông tin và phương pháp
xử lý thông tin
5.1. Phương pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu truyền thống như duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, các phương pháp tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh… để phân tích,
làm sáng tỏ các nội dung liên quan đến cơ sở lý luận và thực trạng đổi mới quản lý nhà
nước đối với hoạt động OFDI.
Ngoài ra, tác giả cũng đã sử dụng các phương pháp định tính trong nghiên cứu, trong đó, tác


8
giả sử dụng các dữ liệu thứ cấp, cũng như dữ liệu sơ cấp theo kết quả phỏng vấn sâu chuyên gia để
phân tích cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và quản lý nhà nước đối với đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài; kinh nghiệm đổi mới quản lý OFDI của một số nước trên thế giới
(đề tài lựa chọn các nước châu Á, bởi sự gần gũi về đặc điểm văn hóa và sự tương đồng
trong quá trình phát triển kinh tế); tình hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam từ
năm 1989 đến 2014; quá trình quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI từ năm 1999 đến
nay. Các số liệu sơ cấp thu thập được từ khảo sát các DN OFDI, các cơ quan quản lý được
tác giả sử dụng để chứng minh các nhận định, đánh giá về đổi mới quản lý nhà nước đối
với OFDI của Việt Nam.
5.2. Khung lý thuyết nghiên cứu:
Đề tài dựa trên cơ sở các lý thuyết về thương mại và đầu tư quốc tế của các học giả

9
đầu tư; về cơ cấu DN Nhà nước và DN tư nhân; về lĩnh vực đầu tư.
Đối với nhà quản lý tại các cơ quan quản lý chuyên ngành: 50 nhà quản lý tại các Bộ,
ngành liên quan đến quản lý OFDI.
Đối với chuyên gia: Phỏng vấn điều tra 20 chuyên gia kinh tế: là các nhà nghiên cứu,
các GS, TS. tại các Vụ, Viện hoặc các cơ quan nghiên cứu về lĩnh vực đầu tư.
5.4. Phương pháp phân tích thông tin/dữ liệu đã thu thập được.
- Phân tích số liệu, bảng biểu dựa trên phương pháp phân tích: Thống kê mô tả, So
sánh tỷ lệ, nhằm đánh giá sự thay đổi của các số liệu trong quá khứ, từ đó đưa ra các nhận
định và giải pháp phù hợp.
- Sử dụng phần mềm EViews để phân tích các yếu tố thống kê cơ bản, nhằm khẳng
định lại các nhận định mà tác giả đưa ra trong Luận án.
6. Những đóng góp mới của Luận án
Trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài, Luận án có một số đóng góp mới, cụ thể như sau:
Thứ nhất, Luận án đã tổng quan cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó nêu rõ các mục tiêu, phương pháp quản lý, nội
dung và mô hình quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI; các vấn đề về đổi mới quản lý
nhà nước như xác định mục tiêu, nội dung, cách thức đổi mới quản lý nhà nước, các yếu tố
tác động đến đổi mới quản lý nhà nước.
Thứ hai, Luận án tổng kết một số bài học thành công và chưa thành công từ kinh
nghiệm đổi mới quản lý nhà nước đối với OFDI của một số nước châu Á (như Nhật Bản,
Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan...). Đây là cơ sở quan trọng để đối chiếu và so
sánh để đánh giá hoạt động đổi mới quản lý nhà nước tại Việt Nam.
Thứ ba, Luận án đã đi sâu phân tích tình hình đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt
Nam từ năm 1989 – 2014; quá trình đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI tại
Việt Nam. Tác giả cũng đã sử dụng các số liệu điều tra thu thập được để đánh giá đổi mới
quản lý nhà nước, nhìn dưới nhiều góc độ: cơ quan quản lý, các DN và các chuyên gia kinh
tế, từ đó cho thấy sự cần thiết phải tăng cường đổi mới quản lý nhà nước đối với OFDI.
Trên cơ sở các kết quả phân tích dữ liệu điều tra, tác giả đánh giá những thành công và hạn

năm 1966, trong đó đề cập đến yếu tố quyết định việc các doanh nghiệp phải thực hiện đầu tư
ra ngoài để chiếm lĩnh thị trường quốc tế là do chu kỳ phát triển của sản phẩm.
1.1.1.2. Lý thuyết về đầu tư của Dunning
 Mô hình OLI: giải thích điều kiện tham gia đầu tư nước ngoài của một công ty là
từ 3 lợi thế: (1) Lợi thế về sở hữu (Ownership advantages - viết tắt là lợi thế; (2) Lợi thế về
khu vực (Locational advantages - viết tắt là lợi thế L) và (3) Lợi thế về nội bộ hoá chi phí
(Internalisation advantages - viết tắt là lợi thế I). Lợi thế O và I tạo ra những nhân tố “đẩy”
và lợi thế L tạo ra nhân tố “kéo” đối với FDI.
 Mô hình IDP - Investment Development Path - Các giai đoạn phát triển của đầu
tư. Đây là các giai đoạn mà mỗi nước thường phải trải qua. Mô hình này bao gồm 5 giai
đoạn. Việt Nam hiện nay đang ở giai đoạn thứ 2, trong đó, Nhà nước chú trọng nhiều đến
thu hút FDI vào trong nước hơn là đầu tư ra nước ngoài.
1.1.2. Các lý thuyết liên quan đến quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI
Quản lý nhà nước được xem như một cơ chế (hay còn gọi là thể chế) tổng hợp, do
vậy việc giải thích các mô hình quản lý nhà nước sẽ căn cứ vào lý thuyết thể chế.


11
 Lý thuyết Thể chế: thể hiện một cách sâu sắc khuynh hướng chính trị mà đảng
cầm quyền đã lựa chọn (Nguyễn Trần Bạt, 2011). Lý thuyết thể chế coi chính quyền như
một yếu tố quan trọng trong việc lập pháp. Chính quyền sẽ là người bảo lãnh cho các
khuôn khổ quy định, đảm bảo tính liên tục về chính trị, dựa trên cơ sở đó xây dựng nền
kinh tế (Lewis, 1955).
Các mô hình thể chế mà mỗi nhà nước (hay chính xác hơn là đảng cầm quyền) lựa chọn sẽ
có tác động lớn đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Xã hội, kinh tế, chính trị và các
yếu tố cấu thành một cơ cấu thể chế trong một môi trường cụ thể có thể tạo ra lợi thế cho
các doanh nghiệp khi tham gia vào các hoạt động cụ thể ở đó. Các doanh nghiệp có xu
hướng thực hiện hiệu quả hơn nếu họ nhận được sự hỗ trợ về thể chế. (Allan Mudanya,
2013). Từ đó cho thấy, các chính sách của chính phủ có thể định hình OFDI thông qua các
luật và quy định, cũng như thông qua các biện pháp hỗ trợ như cung cấp tài chính dễ dàng

của quốc gia trên trường quốc tế; (iii) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, đổi
mới công nghệ sản xuất, tăng năng lực sản xuất chung của nền kinh tế; giảm khoảng cách
với các nước khác trên thế giới; (iv) Tạo ra hành lang pháp lý minh bạch, thuận lợi về
OFDI, đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của các DN; kiểm tra, giám sát nhằm phòng
chống các hiện tượng gian lận trong hoạt động đầu tư, giảm thiểu các rủi ro từ hoạt động
đầu tư ra nước ngoài có tác động xấu đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở trong nước.
1.2.1.2. Phương pháp quản lý nhà nước đối với OFDI
Với các mục tiêu xác định như trên, phương pháp quản lý Nhà nước đối với hoạt
động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp có thể sử dụng các phương pháp
quản lý trực tiếp và gián tiếp, Phương pháp cưỡng chế, Phương pháp kích thích kinh tế,
Phương pháp thuyết phục, tuyên truyền.

1.2.1.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với OFDI
Ở mỗi quốc gia, tùy trong từng giai đoạn khác nhau, các hình thức quản lý đối với
OFDI sẽ khác nhau, dẫn tới các nội dung về quản lý nhà nước sẽ khác nhau. Từ các mục
tiêu chung của mỗi một quốc gia, các hoạt động quản lý nhà nước có thể được triển khai
theo một cơ chế phức tạp hay đơn giản.
Các nội dung của quản lý nhà nước về OFDI có thể tập trung trong 5 khía cạnh chính
như sau: (a) Thực hiện các quan hệ hợp tác nhà nước song phương và đa phương về OFDI;
(b) Định hướng phát triển OFDI (thể hiện tư duy, quan điểm quản lý OFDI, thông qua việc
xây dựng các chiến lược, các kế hoạch quản lý OFDI); (c) Xây dựng thể chế quản lý OFDI
(được thực hiện thông qua việc xây dựng và ban hành các chính sách quản lý về kinh tế liên
quan đến lĩnh vực OFDI); (d) Thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến OFDI (bao gồm
các thủ tục cấp phép đầu tư và thực hiện các hoạt động hỗ trợ OFDI); (e) Kiểm tra, giám sát
việc thực hiện và chấp hành của các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp OFDI
1.2.1.4. Các mô hình quản lý nhà nước đối với OFDI
Các mô hình quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI có thể theo hướng: cấm, hạn
chế, khuyến khích và tự do hóa. Các mô hình quản lý này sẽ phụ thuộc vào các giai đoạn
phát triển của nền kinh tế trong nước và các bối cảnh về chính trị và kinh tế thế giới. Trên cơ
sở các đặc điểm và mục tiêu phát triển của nền kinh tế trong nước trong từng thời kỳ, các

quản lý về OFDI theo hướng minh bạch và khoa học, dễ dự đoán và tuân thủ các cam kết
quốc tế; (iii) Sáng tạo các cơ chế, phương pháp, phương tiện mới để quản lý nhà nước về
OFDI theo hướng hiện đại nhưng vẫn đảm bảo theo đúng mục tiêu của đổi mới.
1.2.3. Các yếu tố tác động đến đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI
Các yếu tố tác động đến đổi mới quản lý nhà nước được chia thành hai nhóm: khách
quan và chủ quan. Ở đây, sự phân chia khách quan và chủ quan đứng trên góc độ của Nhà
nước. Các yếu tố chủ quan là các yếu tố thuộc về Nhà nước, còn các yếu tố khách quan bao
gồm các yếu tố bên ngoài DN và các yếu tố thuộc về DN.
1.2.3.1. Các yếu tố khách quan


14
a, Các yếu tố bên ngoài DN: bao gồm (1) Sự phát triển của nền kinh tế trong nước;
(2) Môi trường kinh tế - chính trị - xã hội nước chủ đầu tư; (3) Biến động của nền kinh tế
thế giới; (4) Bối cảnh về chính trị trên thế giới; (5)Xu hướng đầu tư trên thế giới
b, Các yếu tố thuộc về DN: bao gồm (1) Sự gia tăng nhu cầu đầu tư ra nước ngoài của
DN trong nước; (2) Năng lực, trình độ và kinh nghiệm đầu tư của các doanh nghiệp trong nước;
(3) Mức độ tuân thủ pháp luật của DN OFDI; (4) Khả năng liên kết trong cộng đồng các
DN OFDI ở nước ngoài
1.2.3.2. Các yếu tố chủ quan
Các yếu tố chủ quan thuộc về nhà nước bao gồm: (1) Quan điểm của Nhà nước về
OFDI; (2) Năng lực quản lý và điều hành của nhà nước (trong đó bao gồm cả năng lực ban
hành chính sách, năng lực thực thi và giám sát và khả năng phối hợp trong quản lý của các
cơ quan nhà nước); (3) Hợp tác kinh tế quốc tế giữa các quốc gia
1.3. Bài học kinh nghiệm của một số nước châu Á trong đổi mới quản lý nhà
nước đối với OFDI
1.3.1. Bài học thành công cần áp dụng
1.3.1.1. Bài học 1 – Đổi mới phải từ quan điểm, tư duy quản lý và nhận thức của
người quản lý
Quan điểm, tư duy quản lý là điều quan trọng đầu tiên để thực hiện đổi mới quản lý. Kinh

1.3.2. Những bài học kinh nghiệm chưa thành công cần tránh trong đổi mới quản
lý OFDI
1.3.2.1. Bài học 1 - Đốt cháy giai đoạn trong đổi mới quản lý nhà nước
Đốt cháy giai đoạn trong đổi mới thể hiện ở việc vội vàng mở cửa nhằm tự do hóa
OFDI khi chưa có điều kiện chín muồi. Bài học từ Thái Lan cho thấy sự vội vàng mở cửa
tự do cho dòng vốn OFDI khi chưa đủ điều kiện cần thiết về nguồn lực, có thể dẫn tới các
tác động xấu đến nền kinh tế trong nước, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có
nhiều biến động bất ổn.
1.3.2.2. Bài học 2 - Đổi mới theo hướng khuyến khích OFDI không đồng nghĩa với
dễ dãi trong quản lý
(i) Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc cho thấy, do sự dễ dãi từ quản lý đối với hoạt
động OFDI, nhiều DN Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài bằng các công nghệ lạc hậu, thậm
chí sản xuất hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng nhằm thu lợi trước mắt
(ii) Sự dễ dãi trong quản lý còn thể hiện ở việc thực hiện các cơ chế chính sách hỗ trợ
doanh nghiệp OFDI một cách quá hào phóng, không dựa trên cơ sở hiệu quả dự án và giới hạn
nguồn ngân sách.
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT
ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
VIỆT NAM
2.1. Khái quát thực trạng OFDI của DNVN giai đoạn 1989 - 2014
2.1.1. Phân tích thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo thị trường


16
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến hết tháng 12
năm 2014, các DN Việt Nam đã đầu tư 930 dự án sang 67 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng số
vốn là khoảng 19,7 tỷ USD. Trong đó các nước ASEAN chiếm đến 57,6% về số dự án đầu
tư, 30,5% về tổng số vốn đăng ký, và 52,4% về tổng số vốn của nhà đầu tư Việt Nam.
2.1.2. Phân tích thực trạng OFDI theo giai đoạn đầu tư
Các dự án OFDI của Việt Nam có thể được chia theo ba giai đoạn:

17
Trong năm 2014, có 12,5% số dự án đầu tư của các nhà đầu tư Việt Nam là nhà đầu
tư cá nhân, các DN tư nhân chiếm 76% số dự án, các DN có vốn đầu tư của nhà nước chỉ
chiếm 11,5%. Về tổng giá trị vốn đầu tư, khối DN tư nhân nắm giữ ưu thế với hơn 80% giá
trị vốn đầu tư. Các DN Nhà nước chỉ chiếm khoảng 18,8% tổng giá trị đầu tư của VN ra
nước ngoài. Các nhà đầu tư cá nhân chỉ chiếm khoảng 0,2% tổng giá trị vốn đầu tư của
Việt Nam ra nước ngoài.

2.2. Thực trạng đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI ở Việt Nam
2.2.1. Quan hệ Nhà nước song phương và đa phương về lĩnh vực đầu tư
Chính phủ Việt Nam ngày càng tích cực và chủ động hơn trong việc tham gia các diễn đàn
quốc tế về thương mại. Các động thái và bước đi của Chính phủ cũng đã góp phần mở rộng quan
hệ đầu tư giữa các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài. Qua đó, hoạt động OFDI
của DN Việt Nam cũng có cơ hội mở rộng và phát triển.
2.2.2. Định hướng phát triển đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
Trên cơ sở tăng cường hợp tác quốc tế về đầu tư thông qua ký kết các Hiệp định đầu tư quốc
tế và song phương, các quan điểm, định hướng của Chính phủ Việt Nam cũng đã thay đổi theo
hướng khuyến khích và tạo điều kiện phát triển hoạt động OFDI của DNVN. Sự thay đổi này được
thể hiện thông qua các quan điểm tư duy, đường lối, chiến lược của Nhà nước về đối ngoại nói
chung, và về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nói riêng. Các quan điểm này được thể hiện trong các
Nghị Quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ,
và các văn bản Luật và dưới Luật Đầu tư của Việt Nam.
2.2.1.1. Sự thay đổi về quan điểm của Nhà nước Việt Nam về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Cùng với quá trình đổi mới tư duy về hội nhập, các tư tưởng và quan điểm về vai trò
của của OFDI cũng được đả thông một cách mạnh mẽ
2.2.1.2. Sự thay đổi trong hệ thống các văn bản của Nhà nước điều chỉnh trong lĩnh
vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Một sự đổi mới lớn trong tư duy làm luật đã diễn ra, khi lần đầu tiên, các nguồn
vốn đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài được quy định thống
nhất trong Luật đầu tư chung của Việt Nam (năm 2005). Điều này cho thấy Việt Nam

các dự án OFDI. Các hàng hóa XNK theo dự án đầu tư không cần có giấy phép của Bộ
Công thương và được miễn thuế XNK khi làm thủ tục thông quan. Nhà nước có quy định
riêng đối với ngoại tệ xuất khẩu của các ngân hàng được phép đầu tư ra nước ngoài.
e, Mở rộng quy định đối với lao động làm việc trong các dự án OFDI
Nhà nước khuyến khích lao động có chất lượng cao đi làm việc theo các dự án OFDI
và trở về nước khi hết hạn. Chính phủ cũng đã ký kết nhiều Hiệp định quốc tế tạo điều kiện
thuận lợi cho người lao động khi làm việc ở nước ngoài.
f, Quy định về hoạt động công nghệ
Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp tự nâng cao năng lực công nghệ và chuyển
giao một số công nghệ ra nước ngoài, thực hiện ưu đãi cho DN về thuế XNK thiết bị phục
vụ nghiên cứu, cho phép DN trích lập quỹ nghiên cứu và phát triển từ lợi nhuận sau thuế.
2.2.4. Đổi mới trong thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến OFDI


19
2.2.4.1. Tổ chức thực hiện cấp phép/đăng ký đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
a, Cơ quan quản lý hoạt động OFDI:
Trong tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI, hầu như không có sự
thay đổi về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý. Cơ quan quản lý chính đối với
hoạt động OFDI vẫn là Bộ KH&ĐT, song các dự án vẫn chịu sự quản lý của các Bộ, ngành
khác có liên quan như: NHNN, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Ngoại Giao, các bộ quản
lý chuyên ngành, UBND tỉnh, thành phố nơi DN có trụ sở. Trên thực tế, cách quản lý chồng
chéo của các Bộ, ngành đã gây khó khăn cho việc triển khai dự án OFDI của các DN.
b, Đổi mới trong thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư:
b1. Đơn giản hóa trong quy định về thẩm quyền cấp GCNĐT
Hiện nay, tất cả các dự án OFDI đều phải được cấp phép đầu tư, và Bộ KH&ĐT là cơ
quan đầu mối chịu trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận đầu tư (theo Luật Đầu tư 2014 là
GCN đăng ký đầu tư) cho các DN. Luật Đầu tư 2014 có quy định mới về thẩm quyền,
trong đó có phân loại các DA cần có sự chấp thuận về chủ trương từ Quốc hội, để đảm bảo
các dự án đặc biệt quan trọng với quốc gia sẽ được sự đánh giá và giám sát của cả xã hội.

hoạt động OFDI của doanh nghiệp
Ba là, góp phần tạo ra các doanh nghiệp quốc tế, có khả năng cạnh tranh trên thị
trường toàn cầu.
Bốn là, chủ động hỗ trợ các doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động OFDI, nâng cao hiệu
quả kinh tế - xã hội
2.3.2. Hạn chế còn tồn tại
2.3.2.1. Hạn chế
Một là, đổi mới về tư duy chưa triệt để và có mâu thuẫn giữa quan điểm đổi mới với
thực thi đổi mới quản lý
Hai là, lạc hậu về phương pháp quản lý
Ba là, xuất hiện các rào cản trong cơ chế, chính sách về OFDI
Bốn là, xuất hiện các rào cản trong thực thi quản lý OFDI
Năm là, rào cản trong cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động OFDI
Sáu là, thiếu vắng các phương tiện quản lý hiện đại
2.3.2.2. Nguyên nhân:
a, Nguyên nhân chủ quan từ phía nhà nước:
Nguyên nhân thứ nhất là do chưa thống nhất nhận thức về OFDI ngay tại các cơ
quan quản lý nhà nước.
Nguyên nhân thứ hai là việc chậm ban hành các chính sách, pháp luật.
Nguyên nhân thứ ba là hạn chế về năng lực quản lý
Nguyên nhân thứ tư là vấn đề phân chia trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý
b, Nguyên nhân khách quan (ngoài Nhà nước)
b1. Nguyên nhân khách quan bên ngoài doanh nghiệp
Sự bất ổn trong nền kinh tế trong nước và nước ngoài dẫn đến đổi mới và thực thi đổi
mới trong quản lý nhà nước trong nhiều thời điểm là mâu thuẫn với nhau
b2. Nguyên nhân về phía doanh nghiệp


21
Nguyên nhân thứ nhất là, thiếu sự hợp tác chặt chẽ của DN với cơ quan chức năng

b, Khó khăn:


22
- Xu hướng gia tăng hoạt động OFDI sẽ dẫn tới quản lý hoạt động này khó khăn hơn.
Nhà nước sẽ phải tính toán cụ thể mức độ khuyến khích OFDI để cân đối giữa lợi ích của
doanh nghiệp và lợi ích của nhà nước và cả nền kinh tế.
- Quy mô nền kinh tế Việt Nam vẫn còn nhỏ, nhu cầu về vốn đầu tư trong nước còn
khá lớn, nên Nhà nước vẫn chưa thể mở rộng hoàn toàn đối với hoạt động chuyển vốn ra
nước ngoài.
- Quỹ dự trữ ngoại hối quốc gia còn nhỏ hẹp, gây áp lực cho việc khuyến khích hoạt
động OFDI.
- Hệ thống pháp luật ở các nước tiếp nhận đầu tư có nhiều thay đổi và chưa ổn định,
đồng thời năng lực quản lý của các bộ, ngành Việt Nam chưa tốt, tạo ra các thách thức khi
xây dựng và hoàn thiện các chính sách khuyến khích OFDI.
- Việc hoàn thiện hệ thống chính sách tài chính – tiền tệ và cải tổ hệ thống ngân hàng
hiện nay vẫn đang được tiến hành, gây ảnh hưởng đến hoạt động tài trợ cho các dự án
OFDI.
- Xu hướng thắt chặt trong quản lý do hiệu quả của các dự án đầu tư trong giai đoạn
từ 2006 đến nay chưa cao, đặc biệt là các dự án sử dụng vốn nhà nước.
3.1.2. Định hướng của Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước
ngoài đến năm 2020
Trong Luật Đầu tư năm 2014, Chính phủ Việt Nam khẳng định “khuyến khích nhà
đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư ra nước ngoài”.
3.2. Giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
của DNVN
3.2.1. Đổi mới tư duy và quan điểm quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI của
DNVN
Thứ nhất, OFDI phải gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế quốc dân
Thứ hai, hoạt động OFDI phải đi theo hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc

Hỗ trợ các DN nâng cao năng lực cạnh tranh, trở thành các MNC trong khu vực và trên
thế giới. Tạo ra các cơ chế đánh giá hiệu quả hoạt động của DN để có cơ sở hỗ trợ và quy định
chế tài phù hợp.
3.2.3.4. Hoàn thiện chính sách về lao động
Các chính sách về lao động có thể được thực hiện thông qua các biện pháp như đào tạo,
nâng cao trình độ tay nghề, trình độ quản lý; chính sách tiền lương, chính sách quản lý lao
động, quy định cấp giấy phép cho lao động làm việc tại nước ngoài.
3.2.3.5. Xây dựng Chiến lược đầu tư ra nước ngoài
Nhà nước xây dựng Chiến lược OFDI phải dựa trên các cơ sở chiến lược phát triển,
năng lực chung của nền kinh tế trong bối cảnh dự báo xu hướng phát triển của hoạt động
OFDI. Dựa trên cơ sở đó, các Bộ, ngành xây dựng chiến lược riêng.
3.2.4. Tăng cường tính thực thi pháp luật về OFDI
3.2.4.1. Tăng cường hợp tác đầu tư liên Chính phủ giữa Việt Nam và các nước


24
Tăng cường ký kết các Hiệp định về hợp tác đầu tư song phương và đa phương với
các nước khác, sử dụng kết hợp hiệu quả công cụ ODA trên một số thị trường để tạo điều
kiện thúc đẩy OFDI của Việt Nam.
3.2.4.2. Hoàn thiện các thủ tục, quy trình cấp phép và quản lý hậu kiểm đối với
hoạt động OFDI
a, Đổi mới quy trình cấp phép:
a1, Trong điều kiện hiện tại: Quy trình thủ tục đối với hoạt động OFDI có thể cải
tiến theo hướng thực hiện chế độ một cửa điện tử trong thủ tục cấp GCNĐT
a2, Khi nền kinh tế phát triển mở theo hướng tự do hóa các tài khoản vốn: Tùy từng
giai đoạn phát triển cụ thể, việc cấp phép đầu tư có chuyển sang ủy quyền cấp phép cho
NHNN (nơi kiểm soát ngoại hối)
a3, Khi nền kinh tế phát triển đến giai đoạn tự do hoàn toàn các tài khoản vốn: Xóa
bỏ chế độ cấp phép, chỉ thực hiện việc giám sát hoạt động OFDI của các DNVN thông qua
các định chế tài chính để đảm bảo tính quy luật khách quan của thị trường, nhưng vẫn có thể

Trong đó, chủ động về năng lực tài chính, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao
trình độ công nghệ
3.3.5. Tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp với Nhà nước và xã hội
KẾT LUẬN
Luận án tiến sỹ với đề tài: “Đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư
trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài” với mong muốn đóng góp một số
ý kiến nhằm đổi mới và hoàn thiện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực OFDI, một
lĩnh vực mặc dù đã được thực hiện từ năm 1989 (với hoạt động OFDI) và năm 1999 (với
hoạt động quản lý OFDI), song cho đến nay, nó vẫn là vấn đề mới và có tính thời sự.
Từ các nghiên cứu và đánh giá của Luận án, có thể rút ra được một số kết luận sau:
1. Luận án đã trình bày được hệ thống các vấn đề lý luận về quản lý nhà nước và đổi
mới quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI – được coi là một vấn đề mới và có tính
thời sự hiện nay. OFDI cũng là một lĩnh vực đặc thù do hoạt động đầu tư diễn ra tại nước
ngoài, nên hoạt động quản lý nhà nước cũng cần có sự đổi mới cho phù hợp. Quản lý nhà
nước đối với đầu tư không phải là vấn đề nghiên cứu mới, nhưng dưới góc độ của OFDI, qua
tìm hiểu của tác giả, chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến việc cần phải quản lý
nhà nước như thế nào đối với hoạt động OFDI của DN VN để đạt được các mục tiêu của nhà
nước trong bối cảnh một nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển mình sang nền kinh tế thị
trường và ngày càng hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới vốn có nhiều biến động. Luận
án đã cung cấp các lý thuyết về OFDI, và các cơ sở lý thuyết cho quản lý nhà nước và đổi
mới quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI. Từ đó, Luận án phân tích các mục tiêu của
quản lý, phương pháp, các nội dung quản lý nhà nước về OFDI. Luận án đã phân tích các
yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới quản lý nhà nước đối với OFDI và đây là cơ sở để tác giả đưa
ra các đánh giá về quá trình đổi mới quản lý nhà nước về OFDI tại Việt Nam và đề xuất các
giải pháp đổi mới quản lý trong các bối cảnh kinh tế quốc tế mới trong các chương tiếp theo.
2. Tác giả luận án đã nghiên cứu, đánh giá và tổng kết các bài học kinh nghiệm từ
việc đổi mới quản lý hoạt động OFDI của một số nước châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, các
nước NIEs như Hàn Quốc, Singapore, và các nước trong khu vực ASEAN. Các bài học kinh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status