MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong cơ cấu kinh tế của nước ta thì nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn và là
một ngành luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hàng đầu bằng sự đầu tư
về mọi mặt, đưa nền nông nghiệp nước nhà phát triển cả về số lượng cũng như
chất lượng. Vì thế, việc xây dựng và phát triển nông nghiệp và nông thôn là một
trong những mục tiêu nhằm nâng cao và ổn định đời sống của người nông đân ,
góp phần làm thay đôi bộ mặt nông thôn Việt Nam. Chính vì vậy ngày 5 tháng 8
năm 2008 Ban chấp hành Trung ương khóa X đã ra Nghị quyết số 26 - NQ/TW
về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đây là vấn đề “Tam Nông” được Đảng và
Chính Phủ dành nhiều sự quan tâm, bởi nông nghiệp, nông dân, nông thôn là
một trong những nhiệm vụ của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
Là kênh tín dụng lớn nhất trong các hệ thống các ngân hàng trên toàn
quốc, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã ý thức rõ
vai trò và trách nhiệm của mình trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp, nông
dân, nông thôn. Thực hiện Nghị quyết của Đảng, Ngân hàng đã xây dựng
chương trình đầu tư vốn phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn chiếm
70%/ Tổng dư nợ vào năm 2020.
Được sự chỉ đạo của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Việt Nam, trong nhiều năm qua Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn chi nhánh tỉnh Phú Thọ luôn đóng vai trò quan trọng trong việc cấp vốn tín
dụng cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, giúp các hộ nông
nghiệp nông thôn trên địa bàn được tiếp cận vốn và dịch vụ của ngân hàng,
chính điều này đã góp phần đưa kinh tế nông nghiệp tiếp tục chuyển đổi cơ cấu
kinh tế, tạo ra nhiều việc làm, thêm nhiều ngành nghề mới, tăng thu nhập, nâng
cao mức sống cho người dân.
Sau một thời gian thực tập tại ngân hàng, em nhận thấy đây là một
chương trình mang lại nhiều nhiều lợi ích xã hội, góp phần phát triển kinh tế địa
phương. Với mong muốn hiểu rõ hoạt động đầu tư của ngân hàng vào nông
nghiệp, và được sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của các cán bộ nhân viên phòng tín
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam chi nhánh tỉnh Phú Thọ
Chương 2: Thực trạng tín dụng phát triển nông nghiệp nông thôn và nợ
xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh
tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng phát triển nông
nghiệp nông thôn và hạn chế nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Việt Nam chi nhánh tỉnh Phú Thọ
2
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH TỈNH PHÚ THỌ
1.1. Tổng quan về lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh tỉnh Phú Thọ
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh tỉnh Phú Thọ:
Thực hiện cơ chế đổi mới của Đảng Cộng Sản Việt Nam năm 1988 về
chuyển hệ thống ngân hàng Việt Nam từ ngân hàng 1 cấp sang hệ thống ngân
hàng 2 cấp, ngày 01/10/1988, ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Vĩnh Phú được
thành lập, với địa bàn hoạt động và mạng lưới ban đầu là tiếp nhận toàn bộ 10
chi nhánh ngân hàng nhà nước các huyện bàn giao sang, địa bàn thành phố, thị
xã được giao cho ngân hàng Đầu tư và ngân hàng Công thương. Tình hình hoạt
động ban đầu vô cùng khó khăn do vốn tự có thấp, hệ thống cơ sở vật chất vô
cùng thiếu thốn, dư nợ thì hầu hết là nợ xấu (đến 95%), các doanh nghiệp là
khách hàng của ngân hàng là các doanh nghiệp nhà nước và các hợp tác xã có
Chức năng trung gian tài chính
Với chức năng này, ngân hàng là cầu nối giữa người có vốn dư thừa và
người có nhu cầu về vốn trong nền kinh tế. Thực hiện chức năng này ngân hàng
tiến hành các nghiệp vụ sau:
- Nghiệp vụ huy động vốn: Huy động các khoản tiền nhà rỗi của các chủ
thể kinh tế trong xã hội, các DN, hộ gia đình, cá nhân, cơ quan nhà nước,
NHTW, NHTM và các tổ chức tín dụng khác…để hình thành nguốn vốn cho
vay.
- Nghiệp vụ tín dụng: Ngân hàng dùng nguồn vốn huy động được để cho
vay với các chủ thể kinh tế thiếu vốn – có nhu cầu bổ sung vốn cho hoạt động
sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vào lĩnh vực khác
Đây là những hoạt động mang tính chất kinh doanh của Ngân hàng, chênh
lệch giữa lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay để bù đắp chi phí hoạt động
tín dụng và phần lợi nhuận của ngân hàng.
Chức năng trung gian thanh toán
Trên cơ sở hoạt động đi vay để cho vay, việc nhận tiền gửi và theo dõi các
khoản chi trên tài khoản tiền gửi của ngân hàng là tiền đề để ngân hàng thực
hiện chức năng này. Khi làm trung gian thanh toán, ngân hàng tiến hành các
nghiệp vụ sau:
- Mở tài khoản tiền gửi mà tài khoản tiền gửi giao dịch là điển hình
- Nhận tiền gửi: tiếp nhận vốn tiền gửi vào tài khoản
- Thanh toán theo yêu cầu: thực hiện thông qua các công cụ như séc, ủy
nhiệm chi, ủy nhiệm thu, L/C, thanh toán thẻ( thẻ tín dụng, thẻ ATM..)
Chức năng tạo tiền cho nền kinh tế
4
Đây là một trong những chức năng quan trọng và cơ bản của Ngân hàng.
Chức năng này được thực hiện khi ngân hàng tiến hành nghiệp vụ cho vay, từ
một khoản tiền gửi ban đầu, thông qua cho vay bằng chuyển khoản trong hệ
Vân Cơ, Gia Cẩm và 35 phòng giao dịch, địa bàn huy động vốn, tổ công tác lưu
động và các điểm trực thu lãi theo định kỳ hoạt động rộng khắp trên địa bàn toàn
5
tỉnh. Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ
đặt tại thành phố Việt Trì, là trung tâm kinh tế văn hóa, chính trị của tỉnh, tại đó
còn có các ngân hàng như: ngân hàng công thương, ngân hàng đầu tư, ngân
hàng Cổ phần phát triển nhà đồng bằng Sông Cửu Long, ngân hàng kỹ thương,
ngân hàng Phát triển, các tổ chức tín dụng khác như quỹ tín dụng nhân dân và
các doanh nghiệp được phép huy động vốn khác. Việt Trì mặc dù không phải là
thị trường thực sự lớn về diện tích, dân số và thu nhập của dân cư, nhưng lại có
nhiều ngân hàng hoạt động, do đó sự cạnh tranh diễn ra ngày càng sôi động và
găy gắt. Tuy nhiên đây cũng là điều kiện để Chi nhánh khẳng định thương hiệu
và nâng cao vị thế, cũng như hoàn thiện hơn trong các công tác hoạt động của
ngân hàng, đáp ứng ngày càng phong phú, đa dạng cũng như đem lại sự hài lòng
nhất cho khách hàng khi đến với ngân hàng.
1.2.2. Cơ cấu tổ chức:
Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển nông thôn Việt Nam chi nhánh
tỉnh Phú Thọ được tổ chức theo mô hình ngân hàng cấp 1 hạng II (ngân hàng
cấp 1 tức là ngân hàng của tỉnh; hạng I,II,III... là phân theo xếp loại tài chính,
mức lương, quyền lợi…theo thứ tự giảm dần) thuộc hệ thống Ngân hàng Nông
Nghiệp và Phát Triển nông thôn Việt Nam, được phép thành lập các chi nhánh
loại 3.
Cơ cấu tổ chức của ngân hàng ngoài ban lãnh đạo, còn có 8 phòng ban với
các chức năng và nhiệm vụ khác nhau:
6
•
Phòng tín dụng: Tiến hành nghiên cứu xây dựng chiến lược
khách hàng bằng tín dụng, phân loại khách hàng và đề xuất các chính sách ưu
đãi đối với từng loại khách hàng nhằm mở rộng hướng đầu tư tín dụng. Đồng
thời phân tích kinh tế theo ngành, nghề kỹ thuật và danh mục khách hàng,
thường xuyên phân loại dư nợ, phân tích nợ quá hạn, tìm nguyên nhân và đề
hướng khắc phục cũng như lựa chọn biện pháp cho vay an toàn và đạt hiệu quả
cao. Đây cũng là nơi tiến nhận và thực hiện các chương trình dự án của Chính
phủ và Nhà nước đối với chính sách mở rộng tín dụng cho ngành nông nghiệp
của tỉnh.
•
Phòng điện toán: Tổng hợp, thống kê và lưu trữ số liệu, thông
tin giao dịch cũng như các thông tin liên quan đến hoạt động của chi nhánh. Xử
lý các nghiệp vụ liên quan đến hạch toán kế toán, kế toán thống kê, và các hoạt
động khác. Chấp hành chế độ báo cáo, thống kê và cung cấp số liệu, quản lý bảo
dưỡng và sửa chữa máy móc, thiết bị tin học.
•
Phòng dịch vụ và Marketing: Nghiên cứu và xây dựng các
chiến lược khách hàng, cũng như tìm hiểu và nâng cao chất lượng dịch vụ cung
ứng đê đáp ứng phù hợp với nhu cầu của thị trường. Thực hiện công tác thông
7
tin, tuyên truyền, quảng cáo tiếp thị theo chỉ đạo của ban lãnh đạo chi nhánh
NHNo&PTNT VN chi nhánh tỉnh Phú Thọ.
•
Phòng kiểm tra và kiểm soát nội bộ: Tiến hành kiểm tra công
tác điều hành của chi nhánh NHNo&PTNT Việt Nam và các đơn vị trực thuộc,
cũng như việc giám sát các quy trình nghiệp vụ kinh doanh theo đúng quy định
của pháp luật, nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động tiền tệ, tín dụng và dịch
Bảng 1.1. Tình hình nhân sự của chi nhánh
Đơn vị: người
Cán bộ
Trình độ
Thạc sỹ
Đại học và Cao
đẳng
Trung cấp
Sơ cấp chưa qua
đào tạo
Tổng cán bộ
Số lượng
Tỷ trọng (%)
3
0,49
417
67,47
158
25,57
tới 2 hoạt động này.
9
Như ta đã biết, năm 2008 là một năm đáng nhớ đối với ngành ngân hàng
khi mà khủng hoảng tài chính Mỹ ảnh hưởng đáng kể tới nền kinh tế Việt Nam,
lạm phát biến động thất thường và tăng cao, làm cho nền kinh tế vĩ mô gặp
nhiều khủng hoảng. Để bình ổn nền kinh tế thị trường, NHNN đã thực hiện
chính sách thắt chặt tiền tệ, thay đổi lãi suất một cách chóng mặt, với sự đánh
dấu tần suất điều chỉnh chính sách nhiều chưa từng có trong lịch sử, đó là 8 lần
điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu; 5 lần điều
chỉnh dự trữ bắt buộc và lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc; 3 lần nới biên độ tỷ
giá, 2 lần tăng mạnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng, áp dụng lãi suất trần trong
cho vay, cuộc chạy đua về lãi suất huy động vốn có lúc đạt tới mức 18%/năm.
Cuối năm 2008, chính sách tiền tệ được nới lỏng một cách thận trọng, dấu hiệu
phục hồi nền kinh tế đã xuất hiện vào năm 2009, tháng 2/2009, Chính phủ bắt
đầu triển khai gói kích cầu, trong đó chính sách hỗ trợ lãi suất, chính sách tiền tệ
ổn định với mức vốn huy động, cho vay hợp lý, tạo điều kiện cho khách hàng
tiếp cận nguồn vốn rẻ từ ngân hàng. Những tháng đầu năm 2010 hoạt động ngân
hàng tưởng chừng như dần ổn định, nỗ lực duy trì lãi suất 11% của hiệp hội
ngân hàng đã không thành khi cuối năm dấu hiệu lạm phát gia tăng, các ngân
hàng lại tăng lãi suất huy động. Hoạt động kinh doanh ngân hàng gặp nhiều khó
khăn, nhưng NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh Tỉnh Phú Thọ đã vượt qua
những khó khăn ấy và đạt được những kết quả đáng mừng về huy động vốn và
tín dụng, cụ thể:
10
Bảng 1.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Chi
Số
lượng
Tốc độ
tăng (%)
2.686
-
3.273
21,85
3.680
12,44
3.495
-
4.322
23,66
5.125
18,58
thương hiệu được khẳng định nên tốc độ tăng tiền gửi dân cư vẫn cao, góp phần
nâng cao nguồn vốn, năng lực tài chính...
11
- Về hoạt động tín dụng: Tốc độ tăng năm 2009 so với năm 2008 là 23,66
%, tốc độ tăng năm 2010 tăng so với năm 2009 là 18,55%, như vậy tốc độ tăng
trưởng năm 2010 thấp hơn năm 2009, nhưng đây lại là tín hiệu tốt đối với nền
kinh tế, khi mà quy định tốc độ tăng trưởng của NHNN đối cới các tổ chức tín
dụng dưới 30% (năm 2009) và dưới 20%( vào năm 2010), cùng với chính sách
hỗ trợ lãi suất thực hiện chính sách kích cầu của nhà nước, tốc độ tăng trưởng tín
dụng của NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh Tỉnh Phú Thọ được đánh giá là tốt
so với tình hình kinh tế lúc bấy giờ.
- Về hoạt động kinh doanh ngoại hối: Tốc độ tăng trưởng thu nhập ngoại
hối năm 2009 giảm so với năm 2008 là 34,12 %, tốc độ tăng trưởng năm 2010
tăng 368,75%. Nguyên nhân là do: Năm 2009 là năm thứ hai liên tiếp thị trường
ngoại hối bộc lộ những khó khăn rõ nét và những vấn đề nội tại chưa thể giải
quyết. Căng thẳng trên thị trường ngoại hối xảy ra khi nhiều doanh nghiệp găm
giữ ngoại tệ, không chịu bán lại cho ngân hàng dẫn đến mất cân đối cung - cầu.
Tình trạng này kéo dài cho đến cuối năm, làm cho việc mua ngoại tệ gặp khó
khăn, đã có lúc ngân hàng phải niêm yết giá mua ngoại tệ ngang với giá bán. Tới
năm 2010, có thể coi là năm thị trường ngoại hối hoạt động sôi nổi, với quyết
định hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc ngoại hối, kinh doanh ngoại tệ có nhiều thuận lợi
dẫn tới sự tăng trưởng cao so với năm 2010.
Như vậy, hoạt động ngân hàng trong những năm qua đã từng bước hoàn
thiện và đạt được những thành quả đáng mừng, ngân hàng đã tạo được uy tín
cho riêng mình, lấy được lòng tin từ phía khách hàng. Đó là nền tảng vững chắc
cho sự phát triển xa hơn nữa của toàn hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam nói
chung và của chi nhánh NHNo&PTNT tỉnh Phú Thọ nói riêng.
tỉnh. Ủy ban Nhân dân tỉnh đã có chính sách tạo điều kiện cho nền kinh tế phát
triển, có tác động chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng
nhóm ngành công nghiệp dịch vụ, sản xuất công nghiệp ổn định. Tổng sản phẩm
(GDP) theo giá cố định đạt 7500 tỷ đồng, tăng 12,6% so năm trước, vượt 1,97%
kế hoạch. Trong đó khu vực Nông lâm nghiệp tăng 7,6%; Công nghiệp và xây
dựng tăng 14%, các ngành khác đạt mức tăng trưởng cao.
2.1.2. Những thuận lợi và khó khăn về tình hình kinh tế xã hội có tác động,
ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình triển khai, thực hiện chương trình
13
Thuận lợi:
Giai đoạn 2008 - 2010 nền kinh tế thế giới, kinh tế trong nước nói chung
và kinh tế tỉnh Phú Thọ nói riêng có nhiều diễn biến khó lường. Đầu năm 2008
có dấu hiệu suy thoái, nhất là từ qúi 4 năm 2008 và năm 2009 thì suy giảm kinh
tế toàn cầu cũng như trong nước đã tác động không nhỏ đến kinh tế tỉnh Phú
Thọ. Chính phủ đã kịp thời đưa ra nhiều giải pháp nhằm khôi phục lại nền kinh
tế; gói kích cầu đầu tư sản xuất của Chính phủ đã phát huy tác dụng, nhiều dự án
quan trọng được tập trung đầu tư để sản xuất nhằm giải quyết mục tiêu an sinh
xã hội trong lúc khó khăn. Sản xuất nông nghiệp ổn định, công nghiệp giữ vững
ổn định và từng bước phát triẻn, chỉ số giá tiêu dùng tăng hợp lý; đời sống nhân
dân từng bước được cải thiện. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
tiếp tục giữ vững.
Hoạt động kinh doanh Ngân hàng trong thời gian qua gặp nhiều khó khăn
do ảnh hưởng suy thoái kinh tế nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước;
Chính phủ đã ban hành nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn thúc đẩy kinh tế phát
triển, hoạt động ngân hàng đã dần đi vào ổn định.
Chính sách Pháp luật nhà nước đã được chỉnh sửa, bổ sung, thay đổi phù
hợp tạo hành lang pháp lý cho các nhà đầu tư và các thành phần kinh tế phát
- Phú Thọ vẫn là tỉnh khó khăn so với bình quân chung cả nước, thu nhập
thấp chưa có nhiều tích luỹ, nên nguồn vốn huy động tại địa phương đạt thấp so
với nhu cầu vay vốn trên địa bàn. Tuy nhiên, NHNo là một trong số những ngân
hàng có mạng lưới rộng khắp các địa bàn trong tỉnh, đã nhiều năm gắn bó với thị
trường nông nghiệp nông thôn; nên nguồn vốn huy động và dư nợ cho vay phát
triển kinh tế nông nghiệp nông thôn chiểm tỷ lệ 2/3 số dư bình quân hàng năm
của hệ thống.
- Được sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền địa
phương, sự phối hợp chặt chẽ với các Hội, Đoàn thể trong hoạt động ngân hàng;
NHNo đã sớm xác định:
+ Thị trường chính là nông nghiệp nông thôn; khách hàng chủ yếu là hộ
sản xuất, kinh doanh tư nhân, cá thể, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Để mở rộng và
nâng cao hiệu quả và chất lượng dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là thị trường nông
thôn, khách hàng là nông dân thì phải củng cố mở rộng thị phần, phát triển được
thị trường, phân đoạn thị trường...để có cái nhìn từng lĩnh vực kinh tế rõ hơn, có
sự phân biệt mức độ phát triển, quy mô, thuận lợi, khó khăn; từ đó có những
biện pháp cụ thể như: phân công cán bộ, xác định mức đầu tư theo định mức
kinh tế kỹ thuật, sử dụng các hình thức tín dụng, khả năng tài chính, tập quán
từng địa phương.v.v…xác định mức vốn đầu tư theo từng ngành nghề, vùng
miền và chi tiết đến từng hộ, doanh nghiệp, từng cơ sở, cân đối với thị trường
đầu vào, đầu ra.
+ Tập trung cho vay các chương trình kinh tế trọng điểm để nhanh chóng
tạo ra vùng sản xuất hàng hóa có khối lượng lớn như: sản xuất chè, cây lấy gỗ,
chăn nuôi lợn xuất khẩu, bò thịt, cây ăn quả đặc sản và phát triển làng nghề...
15
+ Tích cực mở rộng tuyên truyền, quảng cáo, thông tin đến mọi người
dân, các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị - xã hội, chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước, thể lệ chế độ, các sản phẩm ngân hàng; thực hiện xã hội hóa
18,5
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh 3 năm 2008-2010)
Biểu đồ 2.1. Diễn biến dư nợ qua 3 năm 2008 - 2010
Từ bảng 2.1 ta thấy: tình hình dư nợ của ngân hàng có xu hướng tăng lên
trong 3 năm. Cụ thể:
Năm 2008, tổng dư nợ cho vay đạt 3.495 tỷ đồng, đến năm 2009, vẫn tiếp
tục thực hiện đề án nâng cao chất lượng tín dụng mang lại hiệu quả cao, kết quả
là tổng dư nợ cho vay đạt 4.322 tỷ đồng, tăng 827 tỷ đồng so với đầu năm, bằng
24%. Có được kết quả này là do chi nhánh đã thực hiện tốt công tác tín dụng, chỉ
16
đạo và rà soát điều chỉnh lãi suất cho vay, phù hợp với lãi suất huy động vốn,
đảm bảo lãi suất cho vay thực dương.
Bước sang năm 2010, chi nhánh đã bám sát định hướng mục tiêu và kế
hoạch kinh doanh để đầu tư hiệu quả và có chất lượng, nâng cao mức tổng dư nợ
cho vay nền kinh tế lên 5.125 tỷ đồng, tăng 803 tỷ đồng so với đầu năm, bằng
18,5%.
Qua những phân tích trên, ta thấy chi nhánh chủ yếu tập trung vào cho vay
nền kinh tế, nó luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng dư nợ cho vay của chi
nhánh. Về cơ bản, qua những năm qua, chi nhánh đã thực hiện tốt cơ chế cho
vay, nâng cao chất lượng tín dụng, đảm bảo lợi ích cho khách hàng và Ngân
hàng. Diễn biến dư nợ được thấy rõ hơn qua biểu đồ 1 trên.
Để thấy được cơ cấu dư nợ của chi nhánh, chúng ta sẽ cùng nhau đi phân
tích sâu hơn về dư nợ theo thời hạn và dư nợ theo loại tiền tệ.
2.2.1.1. Dư nợ theo thời hạn
Bảng 2.2. Cơ cấu dư nợ theo thời hạn
Đơn vị: tỷ đồng
Trung hạn
1.703
1.555
48,7
44,5
2.205
1.845
51
42,7
2.624
2.195
51,2
42,8
Dài hạn
237
6,8
272
6,3
Nguyên nhân là do chi nhánh đã thực hiện các chính sách phòng ngừa rủi
ro trong cho vay. Nguồn vốn trung và dài hạn luôn mang lại nhiều rủi ro cho
ngân hàng hơn nguồn vốn ngắn hạn. Vì vậy, ngân hàng đặt ra chủ trương cho
vay tập trung vào ngắn hạn, nguồn vốn cho vay trung và dài hạn đạt dưới 52%
trong tổng dư nợ cho vay. Có được những dấu hiệu đáng mừng trên là nhờ chi
nhánh đã nỗ lực không ngừng trong việc hoàn thiện các chủ trương, chính sách
cho vay, trong việc quản lý và thực hiện tốt các đề án nâng cao chất lượng tín
dụng.
2.2.1.2. Dư nợ theo loại tiền tệ
Bảng 2.3. Cơ cấu dư nợ theo loại tiền tệ
Đơn vị: tỷ đồng
Năm
2008
2009
18
2010
Chỉ tiêu
Nội tệ
Số
tiền
Tỷ trọng
(%)
280
5
đổi VNĐ)
Tổng
3.495
100
4.322
100
5.125
100
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh 3 năm 2008-2010)
Việc sử dụng loại tiền tệ cho vay sao cho hợp lý cũng là điều cần thiết đối
với hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong thời kỳ nền kinh tế thế giới đang
có nhiều khủng hoảng, lạm phát tăng cao, giá cả có nhiều biến động, sự dao
động thất thường của giá vàng và USD. Vì vậy, dư nợ nội tệ luôn chiếm tỷ trọng
cao trong tổng dư nợ. Từ bảng 2.3 cho thấy: Năm 2008, dư nợ nội tệ là 3.226 tỷ
đồng, chiếm đến 92% tổng dư nợ, dư nợ ngoại tệ (quy đổi ra VND) đạt 8% trong
tổng dư nợ, tức 269 tỷ đồng. Năm 2009, dư nợ nội tệ tăng theo xu hướng tăng
của tổng dư nợ, đạt 4.050 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 93,6% tổng dư nợ, dư nợ ngoại
tệ (quy đổi ra VND) chỉ đạt 272 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 6,3% tổng dư nợ. Đến
năm 2010, dư nợ nội tệ cũng tăng cao, đạt 4.845 tỷ đồng, chiếm đến 95% tổng
dư nợ, trong khi đó, dư nợ nội tệ cũng tăng lên đạt 280 tỷ đồng nhưng chỉ chiếm
5% tổng dư nợ.
Ta nhận thấy doanh số dư nợ nội tệ cũng tăng lên cùng xu hướng với
doanh số dư nợ và luôn chiếm tỷ trọng lớn, tăng dần theo các năm, tuy nhiên dư
nợ ngoại tệ (quy đổi ra VND) cũng tăng nhưng lại chiếm tỷ trọng giảm dần trong
tổng dư nợ. Điều này là do ngân hàng đã thực hiện tốt nhiệm vụ đầu mối, đảm
bảo cung ứng kịp thời nguồn vốn nội tệ và ngoại tệ cho nền kinh tế, tổ chức kiểm
đếm chính xác, đảm bảo an toàn kho quỹ với 8 loại ngoại tệ đang giao dịch tại
đơn vị, chấn chỉnh các chi nhánh thực hiện nghiêm túc thực hiện tỷ giá và trạng
2.910
4.322
562
3.756
5.125
846
Tăng tương đối (%)
24
29
Tỷ trọng dư nợ cho vay phát triển NN67,2
67,3
73,3
NT/Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế (%)
(Nguồn: Báo cáo tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển NN - NT)
Biểu đồ 2.2. Diễn biến dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn
Nhìn bảng 2.4 trên ta thấy dư nợ cho vay phát triển NN - NT của ngân
hàng tăng dần qua các năm và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay nền
kinh tế. Năm 2008 dư nợ cho vay phát triển NN - NT chỉ đạt 2.348 tỷ đồng, đạt
mức tỷ trọng 67,2%, thì đến năm 2009 đã đạt dư nợ 2.910 tỷ đồng, chiếm tỷ
trọng 67,3%, tăng 562 tỷ đồng so với năm 2008, bằng 24%. Vào năm 2010, con
số này lên tới 3.756 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 73,3%, tăng 846 tỷ đồng so với năm
2009, bằng 29%. Để đạt được điều này là do sự cố gắng nổi bật của ngân hàng
đó là ngân hàng đã mạnh dạn nới lỏng một số biện pháp tín dụng cho phù hợp
với thực tế, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển NN - NT, vừa tăng trưởng
tín dụng, mà vẫn đảm bảo chất lượng tín dụng, hạn chế rủi ro.
Các định mức trong cho vay quy định chỉ cho vay tối đa 70% giá trị tài
sản thế chấp cầm cố. Song với khách hàng truyền thống, đáng tin cậy thì các hộ
Trung dài hạn
1.029
1.319
Tỷ
trọng
(%)
43,8
56,2
Tổng
2.348
100
Chỉ tiêu
Số
tiền
2010
Số
tiền
Tỷ trọng
(%)
ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn có tỷ trọng giảm dần trong tổng dư nợ cho
vay phát triển NN - NT, vì vậy đã mang lại kết quả sau:
Năm 2008, dư nợ ngắn hạn là 1.029 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 43,8% tổng
dư nợ cho vay phát triển NN - NT, dư nợ trung và dài hạn đạt 2.348 tỷ đồng,
21
chiếm đến 56,2% tổng dư nợ. Năm 2009, dư nợ ngắn hạn đã tăng lên, đạt 1.297
tỷ đồng, chiếm 44,6% tổng dư nợ cho vay phát triển NN - NT, dư nợ trung và
dài hạn đạt 1.623 tỷ đồng, có tỷ trọng giảm so với năm 2008 và bằng 55,4% tổng
dư nợ cho vay phát triển NN - NT. Tình hình này vẫn tiếp tục cho đến năm 2010,
dư nợ ngắn hạn đạt 1.916 tỷ đồng, chiếm đến 51% tổng dư nợ cho vay phát triển
NN - NT, trong khi đó dư nợ trung và dài hạn giảm xuống còn chiếm 49% tổng
dư nợ cho vay phát triển NN - NT, đạt 1.840 tỷ đồng.
Kết quả đạt được như trên là do chi nhánh đã thực hiện tốt việc rà soát và
điều chỉnh cơ cấu đầu tư, cho vay phát triển NN - NT; tập trung vốn chủ yếu vào
ngắn hạn để phục vụ lĩnh vực sản xuất ở khu vực nông nghiệp nông thôn; nguồn
vốn trung và dài hạn là cần thiết để đáp ứng tốt hướng đổi mới quản lý nông
nghiệp, nông thôn, thực hiện tốt các chính sách đến hộ sản xuất và khuyến khích
hộ sản xuất tự chủ trong trang bị máy móc, công cụ nhỏ trong khâu sản xuất… vì
vậy vẫn phải tập trung tăng nguồn vốn trung và dài hạn. Tuy nhiên, do tính chất
rủi ro của nguồn vốn trung dài hạn, đặc biệt khi tình hình thiên tai, dịch bệnh
đang lan tràn trong suốt thời gian qua khiến cho nguồn vốn này đang phải giảm
tỷ trọng xuống mức cho phép, nhằm đảm bảo thu hồi được nợ, giảm thiểu nợ
xấu, nợ khó đòi.
2.2.2.2. Dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn theo thành phần kinh tế
Bảng 2.6. Cơ cấu cho vay nông nghiệp nông thôn theo thành phần kinh tế
Đơn vị: tỷ đồng
Năm
97,7
2,3
2.840
70
97,6
2,4
3.660
96
97,4
2,6
Tổng
2.348
100
2.910
100
3.756
100
NHNo&PTNT Việt Nam chi nhánh tỉnh Phú Thọ sử dụng nguồn vốn từ
các dự án ủy thác đầu tư của Trung Ương để tập trung vào các dự án nông
nghiệp trọng điểm của tỉnh, đặc biệt là các dự án trồng chè, trồng bưởi…, đây là
nguồn vốn lớn đối với phát triển NN - NT.
Bảng 2.7. Tổng nguồn vốn các dự án ủy thác đầu tư Trung Ương
Đơn vị: tỷ đồng
Năm
2008
2009
2010
Tổng nguồn vốn
210
225
256,4
Số tăng tuyệt đối
15
31,3
Số tăng tương đối (%)
7,1
14
(Nguồn: Báo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2008,2009,2010)
Cụ thể: theo nguồn báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh, năm 2008,
nguồn vốn này đạt 210 tỷ đồng, tăng 68 tỷ đồng so với đầu năm, bằng 48%.
Trong đó: dự án chè AFD tăng 60 tỷ đồng, dự án bưởi ADB tăng 8 tỷ đồng. Đến
năm 2009, con số này đã lên đến 225 tỷ đồng, tăng 14,5 tỷ đồng so với năm
2008, bằng 30%, tuy nhiên dự án ADB đã giảm 1,5 tỷ đồng và thực hiện rút vốn
dự án chè AFD đợt 3 tăng 33, 3 tỷ đồng. Năm 2010, tổng nguồn vốn các dự án
đạt 256,4 tỷ đồng, tăng 31,3 tỷ so với đầu năm do rút vốn dự án mới Tài chính
39,1
43,5
24
Chương trình phát triển chăn nuôi
259,5
283,3
295,6
lợn xuất khẩu, bò thịt, bò sữa
Chương trình hỗ trợ nông dân mua
0,1
0,5
1,5
máy phục vụ Sản xuất nông nghiệp
Tổng cộng
582,2
686
759,5
(Nguồn: báo cáo tín dụng Ngân hàng phục vụ phát triển NN - NT)
Từ bảng trên ta thấy, chi nhánh luôn đáp ứng được nhu cầu tăng nguồn
vốn tín dụng trong cho vay phát triển kinh tế nông nghiệp trọng điểm của tỉnh.
Cụ thể: tổng số cho vay năm 2008 là 582,2 tỷ đồng, chủ yếu cho vay để trồng
chè, phát triển chăn nuôi lợn; đến năm 2009, đã đạt mức 686 tỷ đồng tăng 103,8
tỷ đồng, chủ yếu vẫn là phát triển 2 loại nói trên. Sang năm 2010, tổng số cho
vay đã tăng đáng kể, lên tới 759,5 tỷ đồng. Điều này là do chi nhánh đã thực
hiện tốt cơ chế chính sách phát triển NN - NT trong toàn tỉnh, tập trung vào các
đối tượng vay vốn đầy tiềm năng và có hiệu quả.
Ngoài ra, việc cho vay phục vụ phát triển kinh tế xã hội, NN - NT khác
cũng được chi nhánh chú trọng đến. Mức cho vay cũng là con số đáng kể. Cụ