Thực trạng thi hành các quy định pháp luật về cơ quan quyền lực trong các doanh nghiệp ở Việt Nam - Pdf 34

MỤC LỤC
TRANG
LỜI NÓI ĐẦU

3

NỘI DUNG

3

I.
Tổng quan quy định pháp luật Việt Nam về cơ quan
quyền lực trong doanh nghiệp

3

I.1.

Khái niệm cơ quan quyền lực trong doanh nghiệp

3

I.2. Hệ thống pháp luật Việt Nam quy định về cơ quan quyền
lực trong doanh nghiệp

3

II.
Quy định pháp luật Việt Nam về cơ quan quyền lực
trong doanh nghiệp


11

III. Thực trạng thi hành quy định pháp luật về cơ quan
quyền lực trong doanh nghiệp ở Việt Nam

12

III.1. Thực trạng thi hành quy định pháp luật về Chủ sở hữu
trong doanh nghiệp tư nhân và Công ty TNHH 1 thành viên

12

III.2. Thực trạng thi hành quy định pháp luật về Đại hội thành
viên trong Công ty TNHH 2 thành viên

14

III.3. Thực trạng thi hành quy định pháp luật về Đại hội đồng
cổ đông trong Công ty cổ phần

15

IV. Đánh giá về quy định pháp luật Việt Nam về cơ quan
quyền lực trong doanh nghiệp và giải pháp tăng cường hiệu
quả thi hành

17

KẾT LUẬN


quan quản lý, cơ quan điều hành, cơ quan kiểm soát. Nó có những thẩm quyền
cao nhất đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
1.2. Hệ thống pháp luật Việt Nam về cơ quan quyền lực trong doanh
nghiệp
Quản trị doanh nghiệp là một hệ thống các thiết chế, chính sách, luật lệ,
quy tắc nhằm định hướng, vận hành và kiểm soát doanh nghiệp. Quản trị doanh
nghiệp xử lý mối quan hệ giữa nhiều bên, không chỉ trong nội bộ doanh nghiệp
như các cổ đông, thành viên công ty, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc điều
hành, mà còn những bên có lợi ích liên quan bên ngoài doanh nghiệp: cơ quan
quản lý Nhà nước, các đối tác kinh doanh và cả cộng đồng, xã hội. Mối quan hệ
này được xác định một phần bởi luật pháp, lịch sử, văn hóa của quốc gia nơi
công ty đặt trụ sở. Sự sụp đổ của một số công ty lớn trên thế giới như Enron,
WorldCom… hay những vụ bê bối ở những doanh nghiệp nhà nước của Việt

2


Nam do hoạt động không hiệu quả, làm ăn thua lỗ đều có nguyên nhân sâu xa từ
việc thực hiện quản trị doanh nghiệp không tốt.
Đối với những quốc gia có nền kinh tế thị trường, việc tăng cường quản trị
doanh nghiệp có thể phục vụ cho rất nhiều các mục đích chính sách công quan
trọng. Quản trị doanh nghiệp tốt giảm thiểu khả năng tổn thương trước các
khủng hoảng tài chính, củng cố quyền sở hữu, giảm chi phí giao dịch và chi phí
vốn. Một khuôn khổ pháp lý về quản trị doanh nghiệp yếu kém sẽ làm giảm mức
độ tin tưởng của các nhà đầu tưvà không khuyến khích đầu tư từ bên ngoài.
Ở nước ta ,hệ thống các quy định về quản trị doanh nghiệp được đề cập tại
nhiều văn bản quy phạm pháp luật; bao gồm các Luật và các văn bản hướng dẫn
thi hành. Trong đó, Luật Doanh nghiệp 2014 có vai trò trung tâm, chi phối hầu
hết vấn đề quản trị doanh nghiệp cho các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt
Nam.

- Quy định chế độ tài chính, phân phối lợi nhuận, trích lập và sử dụng các
quỹ; phê duyệt báo cáo tài chính hàng năm;
- Quyết định thành lập công ty con, góp vốn vào công ty khác;
- Tổ chức giám sát và đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty.
Tuy nhiên, do DNNN được tổ chức dưới nhiều hình thức pháp lý, mối liên
kết và cấp quyết định thành lập khác nhau nên việc thực hiện chức năng của chủ
sở hữu nhà nước của cơ quan nhà nước trong thực tế hiện nay có sự khác biệt
theo loại hình DNNN. Điều 89 Luật doanh nghiệp 2014 quy định về cơ cấu tổ
chức quản lý như sau : "Cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định tổ chức quản lý
doanh nghiệp nhà nước dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn theo một
trong hai mô hình quy định tại khoản 1 Điều 78 của Luật này"
2.2. Quy định pháp luật về cơ quan quyền lực trong công ty TNHH 1
thành viên
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ
chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ
sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Chủ sở hữu công ty là tổ chức có các quyền sau đây:
a) Quyết định nội dung Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
b) Quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm của
công ty;
c) Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty, bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi
nhiệm người quản lý công ty;
d) Quyết định dự án đầu tư phát triển;
đ) Quyết định các giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ;
e) Thông qua hợp đồng vay, cho vay và các hợp đồng khác do Điều lệ công
ty quy định có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong
báo cáo tài chính gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn
quy định tại Điều lệ công ty;
g) Quyết định bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài

gia đình mình với các chi tiêu trên cương vị là Chủ tịch công ty và Giám đốc
hoặc Tổng giám đốc.
4. Tuân thủ quy định của pháp luật về hợp đồng và pháp luật có liên quan
trong việc mua, bán, vay, cho vay, thuê, cho thuê và các giao dịch khác giữa
công ty và chủ sở hữu công ty.
5. Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng
một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác; trường hợp
rút một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ đã góp ra khỏi công ty dưới hình thức
khác thì chủ sở hữu và cá nhân, tổ chức có liên quan phải liên đới chịu trách
nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty.
6. Chủ sở hữu công ty không được rút lợi nhuận khi công ty không thanh
toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn.
2.3.Quy định pháp luật về cơ quan quyền lực trong Công ty cổ phần
Công ty Cổ phần (CTCP) là một hình thức công ty hoàn thiện cả về mặt
vốn và tổ chức. CTCP có kết cấu chặt chẽ nhằm bảo vệ cao nhất quyền lợi các
cổ đông, tạo các điều kiện tốt nhất cho việc quản lý công ty dân chủ, có hiệu
quả. Các thiết chế trong công ty cổ phần bao gồm: đại hội đồng cổ đông, hội
đồng quản trị, ban kiểm soát, giám đốc và các chức danh quản lý khác.
Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ): ĐHĐCĐ gồm tất cả cổ đông có quyền
biểu quyết, là cơ quan quyết định cao nhất của CTCP. CTCP có nhiều loại cổ
đông khác nhau, trong đó có cổ đông có quyền bầu cử và cổ đông không có

5


quyền bầu cử. Quyền bầu cử của cổ đông phụ thuộc vào số lượng cổ phần và
loại cổ phần họ sở hữu. CTCP có thể tự mình quy định trong điều lệ một tỷ lệ cổ
phần nhất định có một lá phiếu biểu quyết như 50 cổ phần được một lá phiếu
hoặc 100 cổ phần có một phiếu…Bên cạnh đó các cổ phần ưu đãi như ưu đãi cổ
tức, ưu đãi hoàn lại và các cổ phần ưu đãi khác mà cổ đông tự nguyện từ bỏ

này (hơn 35% tổng giá trị tài sản của công ty) có khả năng ảnh hưởng đến cơ
cấu tài chính và nền tảng chung của công ty, do đó quyết định này cần được
giành cho cơ quan quyền lực cao nhất của công ty là ĐHĐCĐ.

6


- Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
Có thể nói trong toàn bộ văn kiện pháp lý (hồ sơ) thành lập công ty, thì bản
điều lệ với tư cách là “bộ luật riêng” của công ty đóng vai trò quan trọng nhất
trong toàn bộ quá trình tồn tại và hoạt động của công ty.
- Thông qua báo cáo tài chính hằng năm;
Báo cáo tài chính hàng năm của công ty là văn bản phản ánh đầy đủ tình
trạng tài sản, tài chính cũng như kết quả kinh doanh của công ty và qua đó trở
thành cơ sở cho các quyết định của cổ đông, cũng như làm cơ sở để tính toán
thuế thu nhập của công ty.. Bên cạnh việc xem xét và thông qua báo cáo tài
chính, ĐHĐCĐ còn xem xét báo cáo đánh giá công tác quản lý và điều hành
công ty. Các báo cáo này là cơ sở để ĐHĐCĐ đánh giá hiệu quả quản lý điều
hành của HĐQT, GĐ/TGĐ công ty, quyết định miễn nhiệm, bãi nhiệm thành
viên HĐQT, GĐ/TGĐ, quyết định khen thưởng hay quy trách nhiệm vật chất
đối với các chức danh này.
- Quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại;
ĐHĐCĐ có quyền quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền
chào bán của từng loại, do đó khi công ty mua lại các cổ phần đã bán, dặc biệt là
khi mua lại với số lượng lớn (trên 10%) có khả năng ảnh hưởng đến cơ cấu vốn
điều lệ của công ty, do đó phải được chính ĐHĐCĐ quyết định việc mua lại.
Ngoài các quyền và nhiệm vụ kể trên, ĐHĐCĐ còn có các quyền và nhiệm
vụ khác theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014 và điêu lệ công ty.
2.4.Quy định pháp luật về cơ quan quyền lực trong Công ty TNHH từ 2
Thành viên

k) Sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
l) Quyết định tổ chức lại công ty;
m) Quyết định giải thể hoặc yêu cầu phá sản công ty;
n) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
3. Trường hợp cá nhân là thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn bị tạm
giam, bị kết án tù hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề theo quy định của Bộ
luật hình sự, thành viên đó ủy quyền cho người khác tham gia Hội đồng thành
viên công ty.
Đứng đầu cơ quan quyết định cao nhất công ty TNHH hai thành viên, Chủ
tịch Hội đồng thành viên có những quyền và nghĩa vụ hết sức đặc trưng.
Cụ thể, Chủ tịch Hội đồng các quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Chuẩn bị chương trình, kế hoạch hoạt động của Hội đồng thành viên;
b) Chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu họp Hội đồng thành viên hoặc
để lấy ý kiến các thành viên;
c) Triệu tập và chủ trì cuộc họp Hội đồng thành viên hoặc tổ chức việc lấy
ý kiến các thành viên;
d) Giám sát hoặc tổ chức giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội
đồng thành viên;
đ) Thay mặt Hội đồng thành viên ký các nghị quyết của Hội đồng thành
viên;
e) Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
3. Nhiệm kỳ của Chủ tịch Hội đồng thành viên không quá 05 năm. Chủ tịch
Hội đồng thành viên có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế.
4. Trường hợp vắng mặt hoặc không đủ năng lực để thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của mình, thì Chủ tịch Hội đồng thành viên ủy quyền bằng văn bản cho
một thành viên thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Chủ tịch Hội đồng thành
viên theo nguyên tắc quy định tại Điều lệ công ty. Trường hợp không có thành

8


có hiệu lực đối với bên thứ ba khi người đó được biết về hạn chế đó.
Trong điều hành hoạt động kinh doanh của công ty, thành viên hợp danh
phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát công ty.
Khi một số hoặc tất cả thành viên hợp danh cùng thực hiện một số công
việc kinh doanh thì quyết định được thông qua theo nguyên tắc đa số.
Hoạt động do thành viên hợp danh thực hiện ngoài phạm vi hoạt động kinh
doanh của công ty đều không thuộc trách nhiệm của công ty, trừ trường hợp
hoạt động đó đã được các thành viên còn lại chấp thuận.

9


Công ty có thể mở một hoặc một số tài khoản tại ngân hàng. Hội đồng
thành viên chỉ định thành viên được ủy quyền gửi và rút tiền từ các tài khoản đó.
Chủ tịch Hội đồng thành viên các nhiệm vụ như:
a) Quản lý và điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty với tư
cách là thành viên hợp danh;
b) Triệu tập và tổ chức họp Hội đồng thành viên; ký các nghị quyết của Hội
đồng thành viên;
c) Phân công, phối hợp công việc kinh doanh, giữa các thành viên hợp
danh;
d) Tổ chức sắp xếp, lưu giữ đầy đủ và trung thực sổ kế toán, hóa đơn,
chứng từ và các tài liệu khác của công ty theo quy định của pháp luật;
đ) Đại diện cho công ty trong quan hệ với cơ quan nhà nước; đại diện cho
công ty với tư cách là bị đơn hoặc nguyên đơn trong các vụ kiện, tranh chấp
thương mại hoặc các tranh chấp khác;
e) Các nghĩa vụ khác do Điều lệ công ty quy định.
2.6. Quy định pháp luật về cơ quan quyền lực trong Doanh nghiệp tư
nhân
Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ duy nhất, vì vậy cá nhân có quyền

Khi thực hiện những quyền, nghĩa vụ của Doanh nghiệp thì cũng tức là
chủ doanh nghiệp tư nhân cũng đang thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với
tư cách là một chủ của doanh nghiệp mà không có sự tách bạch nào giữa chúng.
III.Thực trạng thi hành các quy định pháp luật về cơ quan quyền lực
trong doanh nghiệp ở Việt Nam
3.1. Thực tiễn thi hành quy định pháp luật về chủ sở hữu trong doanh
nghiệp tư nhân và công ty TNHH một thành viên
a. Doanh nghiệp tư nhân
* Thực trạng thi hành quyền cho thuê doanh nghiệp tư nhân
Cho thuê doanh nghiệp tức là chuyển giao quyền chiếm hữu và sử dụng
toàn bộ doanh nghiệp cho người khác trong một thời gian nhất định để thu một
khoản tiền nhất định gọi là tiền thuê. Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật chỉ qui
định việc cho thuê doanh nghiệp với Doanh nghiệp tư nhân và Công ty nhà nước
mà thôi.
Vì thế, cần xác định chính xác phạm vi và ý nghĩa của thuật ngữ “toàn bộ
doanh nghiệp”. Có ý kiến cho rằng toàn bộ doanh nghiệp tức là mọi yếu tố gắn
liền với doanh nghiệp, bao gồm tài sản nợ, tài sản có, các mối quan hệ giao dịch
và cả uy tín, năng lực của chủ doanh nghiệp. Điều này không thể thực hiện được
trong thực tế. Do đó, nên hiểu cho thuê doanh nghiệp là cho thuê toàn bộ tài sản
trong doanh nghiệp, bao gồm tài sản hữu hình và vô hình như nhà xưởng, máy
móc, nguồn nhân lực, vốn, kể cả tư cách và những vấn đề liên quan đến thương
hiệu của doanh nghiệp đó. Tuy nhiên, việc thuê này vẫn chỉ dừng lại ở phần
“xác” của doanh nghiệp, chứ không thuê và sử dụng được “hồn” của doanh
nghiệp – tức khả năng, uy tín, trí tuệ của chủ doanh nghiệp.
Ví dụ khi ông A cho ông B thuê Doanh nghiệp tư nhân A, thì lúc này ông B
sẽ là người điều hành hoạt động của doanh nghiệp, chiếm hữu khai thác các tài
sản trong doanh nghiệp để hưởng lợi nhuận, chứ không thể thuê luôn cả ông A
chủ doanh nghiệp quản lý điều hành và toàn tâm toàn ý tuân thủ ý chí của ông B
để ông B hưởng lợi, còn chủ doanh nghiệp chỉ có một nguồn thu duy nhất từ
doanh nghiệp là tiền cho thuê doanh nghiệp.

nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty”. Quy định này
nhằm ngăn chặn sự điều chuyển tài sản bằng quyết định hành chính trong các
công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc sở hữu nhà nước. Đồng thời
làm thay đổi thói quen quản trị công ty theo mệnh lệnh hành chính trong các
công ty trách nhiệm hữu hạn 100% vốn nhà nước.
Thứ hai, đối với mô hình công ty TNHHMTV do các nhân làm chủ sở hữu
thì: Chủ sở hữu công ty có thể đồng thời là Chủ tịch Công ty có quyền cao nhất
điều hành mọi hoạt động của Công t, bao gồm các quyền sau:
- Có thể thuê Giám đốc hoặc đồng thời là Giám đốc, người đại diện theo
pháp luật của Công ty. Quyền của chủ sở hữu:
- Quyết định nội dung Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
- Quyết định đầu tư, kinh doanh và quản trị nội bộ doanh nghiệp, trừ trường
hợp Điều lệ công ty có quy định khác;

12


- Chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ
chức, cá nhân khác;
- Quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế
và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty;
- Quyết định tổ chức lại, giải thể và yêu cầu phá sản công ty;
- Thu hồi toàn bộ giá trị tài sản của công ty sau khi công ty hoàn thành giải
thể hoặc phá sản;
- Các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
Thứ ba, đối với mô hình công ty TNHHMTV do một tổ chức làm chủ sở
hữu thì: Chủ sở hữu công ty bổ nhiệm một hoặc một số người đại diện theo uỷ
quyền với nhiệm kỳ không quá năm năm để thực hiện các quyền và nghĩa vụ
của mình theo quy định của Luật doanh nghiệp và pháp luật có liên quan. Chủ
sở hữu công ty có quyền thay thế người đại diện theo uỷ quyền bất cứ khi nào.

trường, tiếp thị và chuyển giao công nghệ, thông qua các hợp đồng có giá trị lớn
thực tế , dự án lớn nên quy định sẵn trong điều lệ công ty, ít khi triệu tập ĐHTV
để thông qua Hợp đồng, thực tế do công ty TNHH đăng ký vốn điều lệ thấp
nhưng nhận những hợp đồng có giá trị lớn hơn vốn điều lệ của công ty rất nhiều
lần với số lượng không nhỏ. Ngược lại cũng do vốn điều lệ thấp nên gần như
Hợp đồng nào về mua bán tài sản hay hoạt động thường ngày của công ty đa số
lớn hơn 50% vốn điều lệ nên không thể ĐHTV họp suốt ngày để thông qua được
Quy định về ĐHTV, chủ tịch ĐHTV với Giám đốc hay bị trùng và nhầm
lẫn lên nhau nhất là trong hoạt động điều hành hàng ngày, trong khi với công ty
vừa và nhỏ thì không có nhiều hoạt động đến mức như vậy.
Thủ tục phiên họp hiện nay quy định khá là rườm rà và phức tạp, song trên
thực tế thì họp thường gọi điện cho các thành viên đến địa điểm họp, có mẫu
biên bản họp thông qua điều khoản nào thì ghi vào biên bản mẫu rồi ký. Rất
nhiều trường hợp họp thông qua tin nhắn, email biên bản được thư ký-xe ôm
đưa đến nhà (hoặc gửi bưu điện) các thành viên ký vào là xong.
Không có quy định về ĐHTV bắt buộc phải tiêu chuẩn hóa các chức danh
tư TGD, hay kế toán trưởng..vv.. dẫn đến trên thực tế thì ai cũng có thể làm
chức danh TGĐ được, nhiều khi TGĐ là “nhờ đứng tên” nên DN lập ra cho
xong, để “buôn bán” hóa đơn, nhưng cuối cùng khi truy cứu trách nhiệm thì
không xử lý được ai. Hoặc một số ngành kinh doanh (không thuộc kinh doanh
có điều kiện) cũng không tiêu chuẩn hóa các chức danh trong công ty, dẫn tới
“hoạt động chuyên môn, chuyên ngành” rất nhiều thiết sót và sai.
3.3.Thực trạng thi hành quy định pháp luật về Đại hội đồng cổ đông
trong Công ty cổ phần
Nhìn chung đa số các CTCP đều tuân thủ khá đầy đủ những quy định
của pháp luật về ĐHĐCĐ.
Theo đó, các ĐHĐCĐ tuân thủ khá tốt những quy định về quyền và nghĩa
vụ của mình, hạn chế tối đa sự lạm quyền sang các cơ quan khác; bên cạnh đó
việc tổ chức các cuộc họp ĐHĐCĐ được các CTCP tiến hành khá tốt.
Trên thực tế, ĐHĐCĐ của đại bộ phận (khoảng 96%) các CTCP thường

Những vi phạm chủ yếu tập trung vào những vấn đề sau: Về họp ĐHĐCĐ,
vẫn còn những sai phạm về trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Hay về
nghị quyết của ĐHĐCĐ, không phải tất cả những nghị quyết của ĐHĐCĐ đều
tuân thủ quy định của pháp luật, do đó pháp luật doanh nghiệp 2014 đã có quy
định cụ thể về yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của ĐHĐCĐ và trên thực tế cũng có
nhiều nghị quyết đã bị hủy bỏ…Cụ thể:
Trong thực tiễn, TAND đã hủy nhiều quyết định của ĐHĐCĐ do CTCP
không thực hiện đầy đủ, triệt để các qui định về triệu tập và thể thức họp
ĐHĐCĐ. Chẳng hạn, trong vụ án về yêu cầu hủy quyết định của ĐHĐCĐ tại
CTCP Vận tải hành khách Thanh Xuân, TAND TP. Hà Nội đã hủy quyết định
của ĐHĐCĐ vì cho rằng, trình tự họp và biểu quyết tại đại hội là sai Luật DN
2005 và Điều lệ công ty, trong đó có vi phạm về không phát thẻ biểu quyết và
thu thẻ theo qui định. Tòa Phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội cũng đã sửa Bản
án sơ thẩm số 18/2007/KDTM-ST của TAND TP. Hải Phòng, hủy quyết định
của ĐHĐCĐ CTCP Sách Hải Phòng do không gửi tài liệu cuộc họp cho cổ đông
dự họp. Bản án số 04/2009/KDTM-ST của TAND tỉnh Quảng Bình cũng hủy
Quyết định của ĐHĐCĐ CTCP Du lịch nước khoáng Cosevco do nhóm cổ đông
sở hữu 44,85% cổ phần lại đề cử năm ứng cử viên bầu HĐQT và cho giơ tay
biểu quyết thông qua quyết định. Bản án số 208/2008/KDTM-PT của Tòa Phúc
thẩm TAND tối cao tại Hà Nội hủy quyết định của ĐHĐCĐ CTCP Giống cây

15


trồng Hà Tây vì đã không bầu ban kiểm phiếu đúng theo Luật DN 2005, không
tiến hành biểu quyết từng vấn đề và thu từng thẻ biểu quyết theo Luật DN 2005,
sau khi bế mạc cuộc họp bảy ngày mới thông báo đính chính kết quả kiểm phiếu
cho cổ đông. Đây là những ví dụ thực tế về việc huỷ bỏ quyết định của ĐHĐCĐ.
IV. Đánh giá quy định pháp luật về cơ quan quyền lực của doanh
nghiệp ở nước ta và một số giải pháp tăng cường thi hành

quản trị (5 năm), mà chỉ có nhiệm kỳ của thành viên hội đồng quản trị; bỏ việc
bắt buộc phải bầu thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát theo phương

16


thức dồn phiếu (Điều 144, “Điều kiện để nghị quyết được thông qua”)… Với
những quy định của Luật doanh nghiệp 2014 mong rằng quyền lợi hợp pháp của
những cổ đông nhỏ sẽ được bảo vệ một cách tối đa trong thời gian tới khi áp
dụng trên thực tế.
Để cơ quan quyền lực trong doanh nghiệp thi hành hiệu quả hơn, chúng tôi
đưa ra giải pháp như sau.
Đối với doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH một thành viên, khung và
pháp luật cần quy định rõ hơn điều kiện chuẩn hóa năng lực, công cụ và bộ máy
thực hiện chức năng giám sát của chủ sở hữu DN. Cụ thể:
- Cách thức thực hiện giám sát, đánh giá của chủ sở hữu DN chủ yếu căn
cứ vào các báo cáo của DN mang tính thống kê hơn là báo cáo tình hình thực
hiện mục tiêu của chủ sở hữu, trong khi cơ chế xác định tính xác thực của các
báo cáo này còn bị bỏ ngỏ.
- Việc giám sát, đánh giá của chủ sở hữu DN chủ yếu căn cứ vào kết quả
thực hiện so với kế hoạch do các DN tự xây dựng và đăng ký nên chưa phản ánh
rõ được yêu cầu và đòi hỏi của chủ sở hữu DN đối với các DN, nhất là đối với
các tập đoàn kinh tế và tổng công ty quy mô lơn và quan trọng. Hơn nữa, các chỉ
tiêu giám sát, đánh giá chủ yếu thiên về các chỉ tiêu tài chính mà chưa quan tâm
đúng mức đến đánh giá một số vấn đề quan trọng khác, như: Tình hình chấp
hành quyết định của chủ sở hữu DN, triển khai các dự án được phê duyệt,…
- Cơ chế giám sát hiện nay mới tập trung vào việc giám sát, đánh giá các
doanh nghiệp mà chưa chú trọng đến giám sát quá trình thực thi chức năng chủ
sở hữu DN.
Đối với doanh nghiệp Nhà nước, do chưa có đủ căn cứ, tiêu chí để giám


18


/>/558/T%E1%BB%95ng-quan-ph%C3%A1p-lu%E1%BA%ADt-v
%E1%BB%81-qu%E1%BA%A3n-tr%E1%BB%8B-doanh
/> />px?ItemID=436

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status