Phân tích những nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế và việc liên hệ thực tiễn vấn đề này trong lĩnh vực thương mại ở nước ta hiện nay - Pdf 34

1

Lời Mở Đầu
Cũng giống như bất kỳ một hoạt động có mục đích nào, quản lý nhà nước về kinh
tế cũng được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc nhất định. Đây chính là những tư
tưởng chủ đạo rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động giúp cho các chủ thể quản lý
nhà nước thực hiện có hiệu quả các công việc của mình trên các lĩnh vực đã được phân
công.
Các nguyên tắc trong quản lý nhà nước về kinh tế mang tính khách quan và khoa
học. Ănghen cho rằng “ Nguyên tắc không phải là được ứng dụng vào giới tự nhiên và
lịch sử loài người mà được rút ra trong giới tự nhiên và lịch sử loài người. không phải
giới tự nhiên và loài người thích ứng với nguyên tắc mà trái lại nguyên tắc chỉ đúng
nếu nó phù hợp với giới tự nhiên và lịch sử” nên các nguyên tắc trong quản lý nhà
nước về kinh tế phải được xây dựng, tổng kết và rút ra từ thực tiễn quản lý nhà nước
về kinh tế.
Trên thực tế, việc tiến hành hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế cần phải dựa
trên rất nhiều nguyên tắc khác nhau. Trong đó có những nguyên tắc được xác định là
nguyên tắc cơ bản có tính bao trùm, chi phối toàn bộ hoạt động cơ bản của quản lý nhà
nước về kinh tế.
Với tầm quan trọng như vậy nên nhóm 2 chúng em quyết định chọn đề tài: “Phân
tích những nguyên tắc quản lý nhà nước về kinh tế và việc liên hệ thực tiễn vấn đề
này trong lĩnh vực thương mại ở nước ta hiện nay”.


1

Chương 1
Cơ sở lý luận về những nguyên tắc cơ bản trong QLNN về kinh tế
1.1, Nguyên tắc thống nhất chính trị và kinh tế
Thống nhất lãnh đạo, chính trị và kinh tế, đảm bảo quan hệ đúng đắn giữa kinh tế
và chính trị và tạo được động lực cùng chiều cho mọi người dân trong xã hội là một

ban hành luật pháp; Thực hiện chế độ một thủ trưởng trong quản lý kinh tế.
Biểu hiện của quản lý dân chủ: Xoá bỏ cơ chế xin – cho; Cạnh tranh bình đẳng;
Tăng cường phân cấp quản lý kinh tế.
Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta
hiện nay:
- Cơ quan quyền lực nhà nước đều do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước
nhân dân. Các cơ quan hành chính nhà nước toà án viện kiểm sát đều do cơ quan
quyền lực nhà nước bầu ra và chịu trách nhiệm trước cơ quan bầu ra mình
1.3, Kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ.
1.3.1, Quản lý nhà nước theo ngành
Khái niệm:
Quản lý theo ngành là việc quản lý về mặt kỹ thuật, về nghiệp vụ chuyên môn của
Bộ quản lý ngành ở trung ương đối với tất cả các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc
ngành trong phạm vi cả nước
Nội dung quản lý nhà nước theo ngành:
Quản lý Nhà nước theo ngành bao gồm các nội dung quản lý sau đây:
- Trong việc xây dựng và triển khai thực hiện pháp luật, chủ trương, chính sách
phát triển kinh tế toàn ngành.
- Trong việc xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
và các dự án phát triển kinh tế toàn ngành.
- Trong việc xây dựng và triển khai các chính sách, biện pháp nhằm phát triển
nguồn nhân lực, nguồn vốn, nguồn nguyên liệu và khoa học công nghệ… cho toàn
ngành.

Nhóm 2

2

GVHD : PGS.TS-Hà Văn Sự



3

GVHD : PGS.TS-Hà Văn Sự


4

1.3.3, Kết hợp quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ
Khái niệm
Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ đòi hỏi phải có sự phối
hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ trên tất cả mọi lĩnh vực
kinh tế. Cả hai chiều quản lý đều phải có trách nhiệm chung trong việc thực hiện mục
tiêu của ngành cũng như của lãnh thổ. Sự kết hợp này sẽ tránh được tư tưởng bản vị
của bộ, ngành, trung ương và tư tưởng cục bộ địa phương của chính quyền địa phương.
Theo đó, Bộ chỉ quan tâm đến lợi ích của các đơn vị kinh tế do mình thành lập và Ủy
ban nhân dân địa phương chỉ quan tâm đến lợi ích của các đơn vị kinh tế của địa
phương. Từ đó, dẫn đến tình trạng tranh chấp, không có sự liên kết giữa các đơn vị
kinh tế trên cùng một địa bàn lãnh thổ, do đó hiệu quả thấp.
Nội dung kết hợp
Sự kết hợp quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ được thực hiện như sau:
- Thực hiện quản lý đồng thời cả hai chiều: Quản lý theo ngành và quản lý theo
lãnh thổ. Có nghĩa là, các đơn vị đó phải chịu sự quản lý của ngành (Bộ) đồng thời nó
cũng phải chịu sự quản lý theo lãnh thổ của chính quyền địa phương trong một số nội
dung theo chế độ quy định.
- Có sự phân công quản lý rành mạch cho các cơ quan quản lý theo ngành và theo
lãnh thổ, không trùng lặp, không bỏ sót về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.
- Các cơ quan quản lý nhà nước theo mỗi chiều thực hiện chức năng, nhiệm vụ
quản lý theo thẩm quyền của mình trên cơ sở đồng quản hiệp quản, tham quản với cơ
quan nhà nước thuộc chiều kia, theo quy định cụ thể của Nhà nước. Đồng quản là cùng

1.5, Nguyên tắc kết hợp hài hòa các loại lợi ích:
Quản lý kinh tế trước hết là quản lý con người, là tổ chức mang tính tích cực lao
động. Con người có những lợi ích, những nguyện vọng và những nhu cầu nhất định.
Nội dung của nguyên tắc là kết hợp hài hòa 3 loại lợi ích xã hội:
+ Kết hợp hài hoà 3 lợi ích: cá nhân- tập thể- nhà nước.
+ Biện pháp thực hiện:
- thực hiện đường lối phát triển kinh tế đúng đắn dựa trên cơ sở vận dụng các quy
luật khách quan phù hợp với đặc điểm của đất nước
- Xây dựng và thực hiện các quy hoạch và kế hoạch chuẩn xác

Nhóm 2

5

GVHD : PGS.TS-Hà Văn Sự


6

-Thực hiện đầy đủ chế độ hoạch toán kế toán kinh tế và vận dụng đúng đắn các đòn bẩy
kinh tế để quản lý một cách có hiệu quả mọi tiềm năng và cơ hội
1.6, Nguyên tắc đảm bảo về kinh tế, hiệu lực, hiệu quả, công bằng (nguyên tắc
4e).
- Đảm bảo hiệu lực (Efficient): Khi nhà nước ban hành chính sách kinh tế phải
được thực thi và đạt được mục tiêu trong thực tiễn.
- Đảm bảo hiệu quả (Effect): Thể hiện kết quả đầu tư so với chi phí.
- Đảm bảo kinh tế(Economic): Huy động được đầu vào với chi phí thấp nhất.
- Đảm bảo công bằng (Equality): đảm bảo công bằng giữa các lĩnh vực kinh tế (Về
sở hữu, phân phối lợi ích…); xã hội (Về y tế, giáo dục, cơ hội tiếp cận các dịch vụ văn
minh, hiện đại…); công bằng giữa các vùng miền.

tế ở nước ta có nhiều rối loạn, gây ra những tổn thất không nhỏ cho đât nước, đồng
thời làm giảm sút nghiêm trọng uy tín va làm lu mờ quyền lực của Nhà nước. Vì vậy,
việc thực hiện nguyên tác tăng cường pháp chế XHCN là một yêu cầu khách quan của
quá trình quản lý kinh tế của Nhà nước ta.
1.9, Nguyên tắc mở rộng hợp tác kinh tế đối ngoại với yêu cầu các bên cùng có
lợi, không xâm phạm độc lập, chủ quyền và lãnh thổ của nhau.
- Nhiệm vụ đối ngoại là tiếp tục giữ vừng môi trường hoà bình và tạo điều kiện
quốc tế thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, CNH_HĐH đất nước xây dựng
và bảo vệ tổ quốc đảm bảo độc lập và chủ quyền quốc gia.
- Mở rộng quan hệ nhiều mặt song phương, đa phương với các nước và vùng lãnh
thổ, các trung tâm chính trị kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế theo nguyên tắc tôn
trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của
nhau, bình đẳng cùng có lợi, giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lương
hoà bình…
- Chủ động hội nhập kinh tế quốc tê và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội
lực nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng XHCN
bảo vệ lợi ích dân tộc an ninh quốc gia và giữ gìn bản sắc văn hoà dân tộc
- Coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước XHCN và các nước
láng giềng.

Nhóm 2

7

GVHD : PGS.TS-Hà Văn Sự


8

Chương 2


GVHD : PGS.TS-Hà Văn Sự


9

Nhà nước quản lý hoạt động thương mại bằng các pháp luật thương mại có tính bắt
buộc. Mặt khác, nhà nước hướng dẫn, định hướng cho các hoạt động thương mại bằng
các chính sách, kế hoạch hóa thương mại.
Kế hoạch hóa thương mại theo nghĩa rộng là quá trình xây dựng, lựa chọn các mục
tiêu cho tương lai và biện pháp tổ chức triển khai, giám sát thực hiện mục tiêu đó nhằm
đưa thương mại đạt tới vị trí xứng đáng của nó trong tương lai. Kê hoạch hóa thương
mại bao gồm các bộ phận hợp thành chủ yếu sau: chiến lược phát triển thương mại,
quy hoạch phát triển thương mại, kế hoạch 5 năm và hàng năm phát triển thương mại,
các chương trình, dự án trong thương mại.
Trong các công cụ kế hoạch hóa thương mại, chiến lược thương mại là công cụ thể
hiện rõ nhất nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị kinh tế trong lĩnh vực thương
mại. Chiến lược thương mại hình thành nhằm đảm bảo cho hoạt động lưu thông hàng
hóa và cung ứng dịch vụ đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất trên cơ sở khai thác
tối ưu các nguồn lực và phát triển đúng định hướng mà Đảng và nhà nước đề ra. Vì
vậy có thể xem chiến lược phát triển thương mại là sự cụ thể hóa đường lối của Đảng
và nhà nước trong hoạt động thương mại. Trong từng thời kỳ nhất định, phù hợp với
đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước sẽ có những chiến lược phát triển thương
mại với những mục tiêu và những giải pháp tổng quát khác nhau, tùy thuộc vào tình
hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Mọi chiến lược phát triển thương mại đều
phải được sự phê duyệt của các cơ quan quản lý nhà nước về thương mại. Chiến lược
thương mại quốc gia do bộ công thương xây dựng trình Chính Phủ phê duyệt; chiến
lược thương mại tỉnh thành phố do sở công thương xây dựng và trình ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phê duyệt. Qua đó cũng có thể thấy được sự gắn
bó không tách rời và thống nhất giữa chính trị và kinh tế trong lĩnh vực thương mại.

quan tới kinh tế, văn hóa - xã hội và an ninh quốc gia và con người. Các hàng hóa –
dịch vụ này liên quan tới cả ba lĩnh vực nông – lâm – ngư – nghiêp (lương thực, thực
phẩm), công nghiệp và xây dựng cơ bản (sắt thép, xi măng, xăng dầu), dịch vụ (kết cấu
hạ tầng kỹ thuật, xã hội và pháp lý).
2.2. Nguyên tắc tập trung dân chủ
+ Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới và đẩy mạnh
hội nhập kinh tế quốc tế với phương châm “ đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối
ngoại. Việt Nam sẵn sàng là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu
vì hòa bình, độc lập và phát triển.”
+ Việc vận dụng nguyên tắc “tập trung dân chủ” trong quản lý, điều hành, kiểm tra
giám sát của lĩnh vực thương mại được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục,
sáng tạo và triệt để .

Nhóm 2

10

GVHD : PGS.TS-Hà Văn Sự


11

Bắt đầu từ việc xây dựng chiến lược phát triển thương mại các giai đoạn, tiếp theo
là các kế hoạch phát triển cụ thể của từng giai đoạn.
Giai đoạn 2001 - 2010 tận dụng mọi nguồn lực tập trung vào các ngành, lĩnh vực
mà Việt Nam có lợi thế so sánh để sản xuất các hàng hóa, dịch vụ đẩy mạnh xuất
khẩu.
Giai đoạn 2001 - 2010 không tập trung xuất khẩu bằng mọi giá. Phát triển thương
mại một cách có hiệu quả và bền vững.
Đồng thời với việc xây dựng chiến lược phát triển, cơ quan quản lý ngành cũng đã

dịch vụ. Do vậy, trong các chính sách và biện pháp quản lý nhà nước phải có những
quy định cụ thể đối với thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ. Nội dung cơ bản
của quản lý theo ngành (Bộ công thương) là định hướng phát triển thương mại, thị
trường hàng hóa và dịch vụ cả về quy mô, cơ cấu phạm vi, các biện pháp thúc đẩy tự
do hóa thương mại, bảo vệ sản xuất và thị trường nội địa, tiêu chuẩn hóa sản phẩm và
dịch vụ trao đổi, phát triển nguồn lực lao động, chất xám, tài chính, công nghệ
Bên cạnh việc quản lý thương mại theo ngành, quản lý thương mại còn được kết
hợp quản lý theo vùng địa phương. Khái niệm về lãnh thổ kinh tế trong thương mại
cũng có những nét đặc thù, hàm chứa một nhóm các đơn vị kinh tế, doanh nghiệp
thương mại, dịch vụ có quan hệ với nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt
động thị trường. Lãnh thổ kinh tế trong thương mại bao gồm nhiều cấp, không hoàn
toàn đồng nhất với khái niệm lãnh thổ hành chính. Trong xu thế mở cửa của nền kinh
tế, lãnh thổ kinh tế còn bao hàm sự tham gia các địa phương trong nước với các địa
phương nước ngoài có chung biên giới.Quản lý theo lãnh thổ có nội dung quy hoạch,
xây dựng và phát triển hạ tầng thương mại của địa phương hoặc vùng, cụ thể hóa chính
sách thương mại của quốc gia, đồng thời xây dựng chính sách, quy định đặc thù của
lãnh thổ nhằm khai thác lợi thế so sánh trong thương mại. Phối hợp thương mại với các
ngành khác trong công tác quản lý nhà nước từ công tác hoạch định đến tổ chức, điều
tiết thị trường và kiểm tra, kiểm soát các hoạt động trao đổi hàng hóa, cung cấp dịch
vụ, chấp hành pháp luật,… giữa các chủ thể kinh doanh với người tiêu dùng và dân cư
trong phạm vi lãnh thổ.
Đơn cử thực tế quản lý thương mại theo địa phương thông qua các chính sách quản
lý và phát triển thị trường đã và đang được thực thi hiệu quả. Đối với thị trường miền
núi, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chính sác ưu đãi cho miền núi, vùng sâu,
vùng xa. Từ các Nghị định và quyết định của Chính phủ, Bộ Thương mại, Ban Vật giá
Chính phủ thực hiện các chương trình 327, 120, V06 định canh định cư mà đời sống
đồng bào các dân tộc được cải thiện, bước đầu hình thành quá trình sản xuất hàng hoá.
Nhờ chính sách trợ cước, trợ giá, thương mại Nhà nước đã đảm bảo cung cấp đầy đủ
các mặt hàng thuộc diện chính sách xã hội cho miền núi.Chương trình 135 về phát
Nhóm 2

quốc gia cũng như của từng lãnh thổ.
Để quản lý có tính hiệu lực và hiệu quả cao cần thú trọng đến chất lượng của các
quyết định và tính hợp lý của bộ máy tổ chức cũng như năng lực, độ tín cậy của đội
ngũ cán bộ công chức trong việc triển khai đưa các quyết định quản lý đó vào đời sống
của cộng đồng kinh doanh và người tiêu dùng, dân cư. Các quyết định quản lý phải
đảm bảo kết hợp các mục tiêu, hài hòa các lợi ích , có tính ưu tiên, ưu đãi trong những

Nhóm 2

13

GVHD : PGS.TS-Hà Văn Sự


14

trường hợp, đối tượng, lĩnh vực kinh doanh và phạm vi thị trường cụ thể, phải cân đối
giữa mục đích phương tiện và các nguồn lực sử dụng.
2.5. Các nguyên tắc khác
Bên cạnh, nguyên tắc cơ bản trong quản lý nhà nước nói chung tới các ngành kinh
tế, do đặc thù của ngành thương mại, các nguyên tắc quản lý của nhà nước dành cho
thương mại cũng hết sức đa dạng. Ngoài các nguyên tắc đã được áp dụng đã kể trên, ở
đây đề tài đề cập tới nguyên tắc kết hợp bảo về và phát triển thị trường nội địa và hội
nhập quốc tế.
Trong nền kinh tế mở và hội nhập quốc tế, thị trường trong nước và thị trường
nước ngoài ngày càng có sự thống nhất trong sự tương tấc qua lại lẫn nhau. Thị trường
trong nước là tiền đề cho mở rộng thị trường xuất nhập khẩu và thị trường ngoài nước
tác động bổ xung, hỗ trợ thúc đẩy thị trường trong nước phát triển.
Bảo vệ sản xuất trong nước và thị trường nội địa là xu hướng của mội quốc gia do
yêu càu phát triển các ngành sản xuất mới, quản lý trao đổi các sản phẩm nhạy cảm, do

ngạch xuất nhập khẩu so với GDP). Hiện nay chúng ta mới có ban xúc tiến thương mại
trực thuộc Bộ Thương mại và các bộ phận xúc tiến thuộc Sở. Tôn trọng các cam kết
khi gia nhập WTO, nhà nước đã thực hiện dỡ bỏ dần các rào cản thương mại theo lộ
trình cam kết. Đồng thời, bên cạnh đó, nhà nước cũng đã thông qua chiến lược xuất
nhập khẩu hàng hoá thời kỳ 2011- 2020, định hướng đến 2030, theo đó, chiến lược quy
định rõ quan điểm, mục tiêu phát triển, định hướng xuất khẩu, định hướng nhập khẩu
và giải pháp thực hiện chiến lược. Cụ thể, Định hướng xuất khẩu sẽ được phát triển
theo mô hình tăng trưởng bền vững và hợp lý, vừa mở rộng quy mô xuất khẩu, vừa chú
trọng nâng cao giá trị gia tăng xuất khẩu. Định hướng phát triển xuất khẩu đưa ra 4
nhóm ngành cụ thể: nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản, nhóm hàng nông lâm thủy
sản, nhóm hàng công nghiệp chế biến, và nhóm hàng khác.
Giữa bảo vệ thị trường nội địa với mở của thị trường, hội nhập quốc tế vừa có sự
thống nhất, nhưng vừa mâu thuẫn nhau. Do vậy, trong quản lý Nhà nước về thương
mại cần phải xử lý đúng tính thống nhất và mâu thuẫn đó, luôn coi kết hợp bảo vệ thị
trường, sản xuất nội địa với mở rộng và phát triển thị trường ngoài nước là nguyên tắc
của hội nhập vào “sân chơi” chung khu vực và toàn cầu.

Nhóm 2

15

GVHD : PGS.TS-Hà Văn Sự


16

Lời kết
Như đã trình bày ở trên, ta nhận thấy các nguyên tắc cơ bản trong QLNN về
kinh tế với nội dung đa dạng có tính thống nhất và liên hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi
nguyên tắc QLNN về kinh tế có nội dung riêng, phản ánh những quy luật khách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status