1
Lời Mở Đầu
Mỗi một quốc gia trên thế giới đều có môi trường chính trị, kinh tế và xã hội khác
nhau nên đối với mỗi nền kinh tế, nhà nước lại có các cách quản lý kinh tế đặc thù.
Muốn tìm hiểu mỗi quốc gia có cách quản lý kinh tế ra sao thì chúng ta nên tìm
hiểu qua các chức năng của quản lý nhà nước về tạo lập môi trường kinh tế.
Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế chính là những đặc trưng riêng có của
quyền lực nhà nuớc trong vịêc tác động có lựa chọn vào nền kinh tế theo các mục tiêu
trong từng giai đoạn.
Sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã có những bước tiến vuợt bậc trong kinh tế.
Sự phát triển vuợt bậc này chính là do sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước
trong việc điều hành nền kinh tế một cách linh hoạt, hiệu quả. Việt Nam phát triển
kinh tế thị truờng định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế mà vai trò kinh tế nhà
nuớc là chủ đạo nên các chứng năng quản lý nhà nuớc về kinh tế cần phải có thêm cả
yếu tố mềm dẻo, kết hợp đuợc cả sự phát triển của kinh tế nhà nuớc và kinh tế tư
nhân.
Trong thời kỳ hiện nay, càng tìm hiểu rõ những chức năng của quản lý nhà nước về
kinh tế, chúng ta sẽ tìm ra đuợc nhiều phuơng pháp để giúp đất nước phát triển bền
vững, theo đúng con đường mà Đảng và Nhà nuớc đã chọn. Chính vì lý do đó, nhóm
em xin phép được đi sâu vào đề tài: “Chức năng tạo lập môi trường cho các hoạt
động kinh tế của QLNN về kinh tế? Liên hệ thực tiễn vấn đề này trong một lĩnh vực cụ
thể (Thương mại, Tài chính – Tiền tệ, đầu tư, Kinh tế đối ngoại…) ở nước ta hiện
nay?
Và để hiểu rõ vấn đề này chúng em đã đi sâu nghiên cứu các nội dung sau:
Phần 1: Lý luận chung chức năng tạo lập môi trường.
Phần 2: Liên hệ chức năng tạo lập kinh tế trong lĩnh vực thương mại ở nước ta hiện
nay
Phần 3: Một số giải pháp nâng cao chức năng tạo lập kinh tế của nhà nước ta.
GVHD: PGS.TS. Hà Văn Sự
•
Nền kinh tế chỉ huy
Nền kinh tế chỉ huy là nền kinh tế được kế hoạch hóa tập trung, việc lựa chọn giữa ba vấn
đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào đều do Nhà
nước quyết định. Nhà nước giao chỉ tiêu pháp lệnh cho các ngành, các địa phương và cơ
sở sản xuất kinh doanh. Nhà nước tiến hành quốc doanh hóa và tập thể hóa, xóa bỏ tư
nhân. Nhà nước cấp phát vốn và vật tư cho các ngành, các địa phương và cơ sở để thực
hiện nhiệm vụ.
•
Nền kinh tế thị trường tự do
GVHD: PGS.TS. Hà Văn Sự
Học phần: Quản lý nhà nước về kinh tế
3
Thị trường tự do là một thị trường mà không có sự can thiệp kinh tế và quy định của
nhà nước, ngoại trừ việc thực thi các hợp đồng tư nhân và quyền sở hữu tài sản. Thị
trường tự do ngược lại với thị trường có kiểm soát, trong đó nhà nước trực tiếp quy định
hàng hoá, dịch vụ và lao động có thể được sử dụng, định giá giá cả, hoặc phân phối như
thế nào, hơn là dựa vào cơ chế sở hữu tư nhân.
Một nền kinh tế thị trường tự do là một nền kinh tế nơi mà tất cả các thị trường bên trong
nó không được kiểm soát bởi các bên khác hơn so với những người tham gia trên thị
trường. Ở dạng thuần khiết nhất của nó chính phủ đóng một vai trò trung lập trong việc
quản lý và điều ban hành pháp luật về hoạt động kinh tế không giới hạn và cũng không
GVHD: PGS.TS. Hà Văn Sự
Học phần: Quản lý nhà nước về kinh tế
4
đó có sự điều chỉnh các hoạt động cho thích ứng, nhằm tránh những đảo lộn lớn trong
quá trình vận hành nhằm đạt những mục đích đã định trong kinh doanh
1.2.2
Môi trường pháp lý
Môi trường pháp lý là tổng thể các hoàn cảnh luật định được nhà nước tạo ra để điều
tiết sự phát triển kinh tế, bắt buộc các chủ thể kinh tế thuộc các thành phần hoạt động
trong nền kinh tế thị trường phải tuân theo.
Sự tác động của pháp luật đến các hoạt động sản xuất – kinh doanh được thực
hiệnthông qua một cơ chế phức tạp. Hoạt động kinh tế được tiến hành thông qua hoạt
động cóý thức của con người và phải tuân theo những quy luật kinh tế khách quan. Pháp
luật không đặt ra các quy luật mà chỉ tác động đến hànhvi của người kinh doanh, đặt ra
các tiêu chuẩn cho con người tuân thủ, chấp hành. Đồng thời pháp luật còn thể hiện yêu
cầu của nhà nước đối với cácđơn vị kinh tế dưới dạng quyền và nghĩa vụ của chủ thể.
Trước hết, pháp luật xác lập vàđiều chỉnh các quan hệ sở hữu là quan hệ kinh tế cơ bản
của xã hội
Thứ hai, pháp luậtđóng vai trò là công cụ quản lý vàđiều tiết kinh tế.Điều này thể hiện
thông qua việc thể chế hóa chiến lược, chính sách kế hoạch phát triển đất nước trong từng
giai đoạn để triển khai thực hiện. Pháp luật thừa nhận sự tồn tại và bình đẳng của các
thành phần kinh tế, các hình thức sở hữu, tạođiều kiện cho chúng phát triển và bảo vệ
chúng, quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể sản xuất kinh doanh
nhằmđiều chỉnh các quan hệ kinh tế theo hướng mà Nhà nước mong muốn.
Môi trường chính trị
Môi trường chính trị Là tổ hợp các hoàn cảnh chính trị, nó được tạo bởi thái độ chính
trị Nhà nước và của các tổ chức chính trị, tương quan giữa các tầng lớp trong xã hội, là sự
ổn định chính trị để phát triển.
Hệ thống chính trị của một quốc gia có ảnh hưởng quyết định đến xu hướng đối nội và
đối ngoài của quốc gia. Lịch sử phát triển thế giới đã chứng kiến nhiều cuộc xung đột về
chính trị giữa các quốc gia khác nhau như thời kỳ đối đầu của các quốc gia theo hệ thống
xã hội chủ nghĩa và các quốc gia theo hệ thống tư bản chủ nghĩa. Thông thường đi liền
với xung đột về chính trị là xung đột về ngoại giao và kinh tế. Hệ thống thể chế chính trị
có thể tạo điều kiện hay gây nên rủi ro không lường trước được đối với các doanh nghiệp
khi tham gia vào thương mại quốc tế hay xuất khẩu hàng hoá vào các quốc gia. Một
doanh nghiệp kinh doanh quốc tế luôn bị ảnh hưởng bởi chính sách, thể chế của nước chủ
nhà cũng như nước nhập khẩu hay đầu tư.
GVHD: PGS.TS. Hà Văn Sự
Học phần: Quản lý nhà nước về kinh tế
6
Môi trường chính trị lý tưởng cho doanh nghiệp là một chính phủ ổn định và thân
thiện.Những thay đổi về quan điểm và mục đích của chính phủ có thể cơ hội kinh doanh
của doanh nghiệp thành hiểm hoạ. Những thay đổi có thể bắt nguồn từ sự thay đổi của
đảng phái chính trị cầm quyền, hay do điều kiện kinh tế yếu kém nên chính phủ phải rút
lại các cam kết thương mại trước đó.Tuy nhiên, mối quan tâm lớn nhất của các doanh
nghiệp vẫn là tính liên tục của các qui định, nguyên tắc ứng xử cho dù bất kỳ đảng phái
nào đang nắm quyền.Một sự thay đổi đột ngột không lường trước được trong chính sách
của chính phủ cũng có thể làm cản trở hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, bất
kể nguyên nhân của thay đổi là gì.
Môi trường văn hóa – xã hội ảnh hưởng đến tâm lý, thái độ, đến hành vi và đến sự ham
muốn của con người. Nhà nước phải tạo ra môi trường văn hóa – xã hội đa dạng, đậm đà
bản sắc dân tộc, quý trọng, gìn giữ, phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp và tiếp thu nền
văn hóa hiện đại một cách phù hợp, tôn trọng và tiếp thu tinh hoa của nền văn hóa thế
giới, xây dựng nền văn hóa mới thích ứng với sự phát triển kinh tế và sản xuất kinh
doanh.
- Cần phải đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với bình đẳng xã hội
trong phát triển kinh tế. Nhà nước điều chỉnh lại chính sách phân phối thu nhập trên cơ sở
mối quan hệ giữa thị trường và Nhà nước, có thể sử dụng nhiều công cụ để thực hiện vai
trò điều tiết trong phân phối thu nhập như thuế, ngân sách, tín dụng nhà nước và hệ thống
an sinh xã hội.
- Kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và bình đẳng xã hội còn thể hiện chức năng của
Nhà nước trong cung cấp các dịch vụ công. Nhà nước cần tăng chi tiêu cho cả giáo dục, y
tế và các dịch vụ xã hội khác, đồng thời đảm bảo cho mọi người được bình đẳng trong
việc tiếp cận các dịch vụ đó. Nhà nước nên tạo điều kiện để khai thác tiềm năng của khu
vực kinh tế tư nhân trong việc hỗ trợ Nhà nước cung ứng kết cấu hạ tầng và dịch vụ xã
hội.
- Tăng trưởng trong nền kinh tế thị trường cần phải đi đôi với việc phát triển bền vững.
Nhà nước sử dụng có hiệu quả công cụ pháp luật, thuế, điều lệ hoặc chính sách quyền sở
hữu công khai nguồn tài nguyên...để kiểm soát mức độ nguy hiểm đối với môi trường
sinh thái.
1.2.5
Môi trường sinh thái
Môi trường sinh thái, hiểu một cách thông thường, là một không gian bao gồm các yếu
tố, trước hết là các yếu tố tự nhiên gắn kết với nhau và tạo điều kiện cho sự sống của
cong người và sinh vật. Chúng là những điều kiện đầu tiên cần phải có để con người và
sinh vật sống. Dựa vào chúng, con người mới tiến hành lao động sản xuất để tồn tại và
phát triển, chẳng hạn như không khí để thở, nước để uống, đất để xây dựng, trồng trọt và
+ Thứ hai, môi trường liên quan đến tính ổn định và bền vững của sự phát triển kinh
tế - xã hội
Phát triển kinh tế - xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần
của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao
chất lượng văn hóa. Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân cũng như của cả loài
người trong quá trình sống. Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ chặt chẽ:
Môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân
tạo nên các biến đổi của môi trường. Trong hệ thống kinh tế - xã hội, hàng hóa được
di chuyển từ sản xuất đến lưu thông, phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luân
chuyển của nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm, chất thải. Các thành phần đó luôn
luôn tương tác với các thành phần tự nhiên và xã hội của hệ thống môi trường đang
tồn tại trong địa bàn đó.
GVHD: PGS.TS. Hà Văn Sự
Học phần: Quản lý nhà nước về kinh tế
9
Tác động của con người đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi
trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho quá trình cải tạo đó, nhưng có thể
gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo.
Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế - xã
hội thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên – đối tượng của sự phát triển kinh
tế - xã hội hoặc gây ra các thảm họa, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế - xã hội
trong khu vực.
Ở các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế khác nhau có các xu hướng gây ô nhiễm
môi truờng khác nhau. Ví dụ:
- Ô nhiễm do dư thừa: 20% dân số thế giới ở các nước giàu hiện sử dụng 80% tài
trường sinh thái xanh, sạch, đẹp, đa dạng sinh học, bền vững. Nhà nước phải có biện
pháp chống ô nhiễm, chống hủy hoại môi trường tự nhiên sinh thái, cảnh quan thiên
nhiên bằng các biện pháp và các chính sách bảo vệ, hoàn thiện môi trường sinh thái.
1.2.6
Môi trường khoa học kỹ thuật
Môi trường kỹ thuật là không gian khoa học công nghệ bao gồm các yếu tố về số
lượng, tính chất và trình độ của các khoa học công nghệ: về nghiên cứu ứng dụng các
thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, về chuyển giao khoa học công nghệ,…
Ngày nay, khoa học công nghệ đã phát triển với tốc độ cao. Những thành tựu khoa
học công nghệ trong nhiều lĩnh vực đã xuất hiện. Tiến bộ khoa học công nghệ đã mở
ra môi trường rộng lớn cho nhu cầu của con người. Chúng ta không thể không tính
đến ảnh hưởng của khoa học công nghệ đến sự phát triển của nền kinh tế hiện đại, đến
quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Nhà nước bằng chính sách của mình phải tạo ra một môi trường kỹ thuật hiện đại,
thích hợp, thiết thực, phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế nước ta.
1.2.7 Môi trường dân số
- Môi trường dân số là hệ thống các yếu tố tạo thành không gian dân số bao gồm quy mô
dân số, cơ cấu dân số, sự di chuyển dân số, tốc độ gia tăng dân số và chất lượng dân số.
Môi trường dân số là một trong những môi trường phát triển kinh tế.
- Nhà nước tạo ra một môi trường dân số hợp lý cho phát triển kinh tế bao gồm các yếu tố
số lượng và chất lượng dân số, cơ cấu dân số.
- Nhà nước phải có chính sách điều tiết sự gia tăng dân số với tỷ lệ hợp lý, thích hợp với
tốc độ tăng trưởng kinh tế; nâng cao chất lượng dân số trên cơ sở nâng cao chỉ số H.D.I
(human development index), bố trí dân cư hợp lý giữa các vùng, đặc biệt giữa đô thị và
nông thôn phù hợp với quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
1.2.8 Môi trường quốc tế
Môi trường quốc tế là không gian kinh tế có tính toàn cầu, bao gồm các yếu tố có
liên quan đến các hoạt động quốc tế, trong đó có hoạt động kinh tế quốc tế. Môi trường
hàng và mở rộng sản xuất kinh doanh. Mục tiêu lớn nhất của chương trình là phục vụ đời
sống thiết yếu cho người tiêu dùng. Với uy tín của các doanh nghiệp tham gia chương
trình bình ổn được tạo dựng trong nhiều năm qua, việc giá cả các mặt hàng bình ổn được
điều chỉnh kịp thời và đúng lúc sẽ giúp người tiêu dùng yên tâm
Thu hút các đối tác, doanh nghiệp đầu tư sản xuất, tăng năng suất, sản lượng hàng hóa
thiết yếu phục vụ nhân dân.
+Huy động tối đa mọi nguồn lực trong và ngoài nước bằng nhiều giải pháp cụ thể,
thiết thực
Cán bộ là cái gốc để hoàn thành tốt mọi công việc. Vì vậy, cần hoàn thiện chế độ
công vụ, quy chế cán bộ, công chức, coi trọng cả năng lực và đạo đức; bảo đảm tính
nghiêm túc, trung thực trong thi tuyển cán bộ, công chức. Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ,
GVHD: PGS.TS. Hà Văn Sự
Học phần: Quản lý nhà nước về kinh tế
12
công chức theo đúng chức danh, tiêu chuẩn, gắn với việc tinh giản biên chế, nâng cao
chất lượng đội ngũ... Tăng cường cán bộ cho cơ sở, nhất là miền núi, vùng sâu, vùng
xa, nơi có nhiều khó khăn. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức... Đổi
mới chính sách đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ đối với cán bộ xã, phường, thị trấn để họ
yên tâm phấn khởi làm việc.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngày càng được chú trọng cả về số
lượng, chất lượng. Hiện, Bộ đã và đang áp dụng những chính sách khuyến khích của
Nhà nước đối với các trường hợp tuyển dụng đã tốt nghiệp thạc sỹ, tiến sỹ, sinh viên
xuất sắc. Bộ đã chú trọng, tạo điều kiện cho những trí thức ưu tú được cống hiến, thể
hiện tốt nhất tài năng, vai trò và trách nhiệm của mình trong công việc. Rất nhiều cán
bộ, công chức, viên chức trẻ đã có mặt trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; đã lựa
vùng khó khăn
Trên cơ sở bổ sung hoàn chỉnh quy hoạch, Nhà nước cần tiến hành ưu tiên ngân sách và
các nguồn lực khác để đẩy nhanh việc xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng của từng vùng
và trên phạm vi cả nước; khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, đặc
biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia phát triển vào lĩnh vực này,
chú trọng các công trình quan trọng, thiết yếu và khắc phục tình trạng đầu tư giàn trải,
lãng phí, kém chất lượng. Bên cạnh đó, Nhà nước cần ưu tiên phát triển hạ tầng thị
trường, đó là: hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, cơ sở vật chất phục vụ kinh doanh,
giao dịch, hệ thống bến bãi, kho hàng và các dịch vụ khác như điện, nước, trường học, y
tế...
+Mở cửa và phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ có khả năng tạo
ra nhanh- nhiều giá trị tăng thêm, các dịch vụ cao cấp
Tập trung phát triển các lĩnh vực dịch vụ có tiềm năng như du lịch, bảo hiểm vận tải
hàng không, xây dựng, xuất khẩu lao động… khuyến khích phát triển dịch vụ mới có sức
cạnh tranh cao; phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng dịch vụ giai đoạn 2006-2010 cao hơn tốc
độ tăng trưởng chung của nền kinh tế; đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành và nội ngành
dịch vụ, tăng dần tỷ trọng dịch vụ trong GDP của cả nước, tiến tới đạt khoảng 45% vào
năm 2010.
Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ trên thị trường nội địa, khu vực và quốc tế; đẩy mạnh khai thác tiềm
năng và lợi thế của từng lĩnh vực dịch vụ, tăng cường sự hợp tác giữa các lĩnh vực dịch
vụ để cùng cạnh tranh và phát triển.
Đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ và dịch vụ thu ngoại tệ tại chỗ thông qua các hoạt động
dịch vụ du lịch, tài chính-ngân hàng, thu kiều hối và bán hàng tại chỗ, bưu chính viễn
thông, vận tải hàng không và đường biển; giảm thâm hụt cán cân dịch vụ.
GVHD: PGS.TS. Hà Văn Sự
Học phần: Quản lý nhà nước về kinh tế
hằng năm chỉ có 10.000 tỷ mà lại ưu tiên cho các dự án công trình có tính chất chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, hay tạo ra năng lực cho nền kinh tế độc lập tự chủ (như các nhà máy
phân đạm, điện, phôi thép lớn). Các doanh nghiệp chưa khai thác nguồn vốn khác, qua
các định chế tài chính trung gian, các quỹ hay thị trường chứng khoán.
• Những điều nhà nước phải làm để tạo lập các môi trường:
GVHD: PGS.TS. Hà Văn Sự
Học phần: Quản lý nhà nước về kinh tế
15
- Đảm bảo sự ổn định về chính trị và an ninh quốc phòng, mở rộng quan hệ đối
ngoại, trong đó có quan hệ kinh tế đối ngoại.
- Xây dựng và thực thi một cách nhất quán các chính sách kinh tế-xã hội theo
hướng đổi mới và chính sách dân số hợp lý.
- Xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật
- Xây dựng mới và nâng cấp cơ sở hạ tầng, bảo đảm điều kiện cơ bản cho hoạt
động kinh tế có hiệu quả: giao thông, điện nước, thông tin, dự trữ quốc gia.
- Xây dựng cho được một nền văn hoá trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN trên cơ sở giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc và thừa kế tinh hoa văn hoá của nhân
loại.
- Xây dựng một nền khoa học-kỹ thuật và công nghệ tiên tiến cần thiết và phù
hợp, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế và sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp, cải cách nền giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật và trí tuệ
phục vụ cho sự phát triển kinh tế.
- Xây dựng và thực thi chính sách và pháp luật về bảo vệ và sử dụngcó hiệu quả
tài nguyên thiên nhiên của đất nước, bảo vệ và hoàn thiện môi trường tự nhiên, sinh thái.
1.4 Những biện pháp để nhà nước tạo lập môi trường
hoàn chỉnh mô hình tổ chức và củng cố mạng lưới y tế cơ sở.
Xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe, tầm vóc con
người Việt Nam.Đẩy mạnh phát triển thể dục thể thao quần chúng và thể thao thành tích
cao.Thực hiện tốt các chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, duy trì mức sinh thay
thế, bảo đảm cân bằng giới tính hợp lý, nâng cao chất lượng dân số. Đẩy mạnh xã hội hoá
trong các lĩnh vực y tế, dân số - kế hoạch hoá gia đình và thể dục thểth
+Xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật
Tiếp tục đổi mới việc xây dựng và thực thi luật pháp bảo đảm cạnh tranh bình
đẳng, minh bạch giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế.Hoàn thiện chính
sách và hệ thống thuế, cơ chế quản lý giá, pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền
trong kinh doanh, bảo vệ người tiêu dùng, các chính sách về thu nhập, tiền lương, tiền
công. Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, nhất
là các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty. Quản lý chặt chẽ việc vay và trả nợ nước
ngoài; giữ mức nợ chính phủ, nợ quốc gia và nợ công trong giới hạn an toàn. Tăng cường
vai trò giám sát ngân sách của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp.
GVHD: PGS.TS. Hà Văn Sự
Học phần: Quản lý nhà nước về kinh tế
17
Hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý về hoạt động ngân hàng.Mở rộng các hình
thức thanh toán qua ngân hàng và thanh toán không dùng tiền mặt. Điều hành chính sách
lãi suất, tỉ giá linh hoạt theo nguyên tắc thị trường. Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, chính
sách về đất đai bảo đảm hài hoà các lợi ích của Nhà nước, của người sử dụng đất, của
người giao lại quyền sử dụng đất và của nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để sử dụng có
hiệu quả nguồn lực đất đai cho sự phát triển; khắc phục tình trạng lãng phí và tham nhũng
đất đai.
mức bảo đảm các dịch vụ công cộng thiết yếu cho nhân dân.
Phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, vừa phát huy những giá trị tốt
đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xử lý tốt mối quan hệ
giữa kinh tế và văn hóa để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, là một động
lực phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế. Tập trung xây dựng đời sống, lối sống
và môi trường văn hóa lành mạnh; coi trọng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý, văn hóa
trong kinh doanh và văn hóa trong ứng xử. Chú trọng xây dựng nhân cách con người Việt
Nam về lý tưởng, trí tuệ, đạo đức, lối sống, thể chất, lòng tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã
hội, ý thức chấp hành pháp luật, nhất là trong thế hệ trẻ.
+Xây dựng một nền khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, cần thiết và phù hợp, đáp
ứng yêu cầu của sự phát triển của nền kinh tế và sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp, cải cách giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật và trí tuệ phục vụ cho
sự phát triển của kinh tế.
Hướng trọng tâm hoạt động khoa học, công nghệ vào phục vụ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, phát triển theo chiều sâu góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu
quả và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ: nâng
cao năng lực, đổi mới cơ chế quản lý, đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ, tăng
cường hội nhập quốc tế về khoa học, công nghệ.
Tăng nhanh năng lực khoa học, công nghệ có trọng tâm, trọng điểm. Gắn các mục
tiêu, nhiệm vụ khoa học, công nghệ với các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội
ở từng cấp, ngành, địa phương và cơ sở.
Đẩy mạnh nghiên cứu - triển khai, ứng dụng công nghệ; phát triển hợp lý, đồng bộ
khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và công nghệ.Khoa học xã hội làm
tốt nhiệm vụ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, dự báo xu hướng phát triển, cung cấp
GVHD: PGS.TS. Hà Văn Sự
Học phần: Quản lý nhà nước về kinh tế
19
Học phần: Quản lý nhà nước về kinh tế
20
trường.Thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững; từng bước phát triển năng lượng sạch,
sản xuất sạch, tiêu dùng sạch.Đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, phát triển
các dịch vụ môi trường, xử lý chất thải.
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu và
đánh giá tác động để chủ động triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp phòng,
chống thiên tai và Chương trình quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là nước
biển dâng. Tăng cường hợp tác quốc tế để phối hợp hành động và tranh thủ sự giúp đỡ
của cộng đồng quốc tế.
1.5 Một số hạn chế của chức năng tạo lập môi trường
Còn tồn tại cơ chế xin – cho trong tạo lập môi trường, tạo nên thiếu công khai minh
bạch
Cơ chế xin-cho là một trong những tàn dư còn sót lại của thời kỳ bao cấp. Nét đặc
trưng quan trọng nhất của cơ chế này là quyền tự do ý chí to lớn của người cho, và vị thế
thấp kém của người xin.Công bằng mà nói, cơ chế xin-cho, cũng như mọi loại cơ chế,
đều có hoàn cảnh lịch sử riêng của nó.Với một hoàn cảnh lịch sử nhất định, xin-cho, cũng
như bao cấp, đều là cần thiết và đúng đắn.Vấn đề chỉ là: nó không còn phù hợp, và trong
điều kiện mới, khi những ràng buộc chặt chẽ về pháp lý, về tư tưởng và đạo đức không
còn, cơ chế xin-cho đang đẻ ra tiêu cực.
Ở ta hiện nay có thể xin rất nhiều thứ và cho cũng rất nhiều thứ. Ngân sách, chức tước,
bằng cấp, dự án, tín dụng, đất đai, các nguồn tài nguyên…là những thứ đều có thể xin và
đều có thể cho. Chuyện xin-cho liên quan đến tiền xảy ra vì thông thường từ 22-23%
GDP của đất nước được tập trung vào ngân sách. Và đây là tiền do Nhà nước chi tiêu.
Tiền do Nhà nước chi tiêu còn có cả tiền vay của dân và của nước ngoài. Đây là một khối
nước lại bị hạn chế; cơ chế tài chính và cơ chế phân phối lợi nhuận của Doanh nghiệp, sự
gắn kết lợi ích vật chất với trách nhiệm của người quản lý và đội ngũ lao động bộc lộ
nhiều khiếm khuyết, bất cập.
Phần lớn Doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động trong các lĩnh vực trọng yếu, chủ
chốt của nền kinh tế như dầu khí, điện lực, xi măng, sắt thép, khai khoáng... nhưng hiệu
quả sinh lợi không cao; Trình độ công nghệ, năng suất lao động của khá nhiều Doanh
GVHD: PGS.TS. Hà Văn Sự
Học phần: Quản lý nhà nước về kinh tế
22
nghiệp còn thấp; sức cạnh tranh còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc
tế và chưa tương xứng với đầu tư của Nhà nước.
Mặc dù được hưởng độc quyền kinh doanh trên một số lĩnh vực nhưng không ít tập
đoàn kinh tế nhà nước kinh doanh kém hiệu quả, mức đóng góp vào GDP ngày một
giảm; sự thất bại của Vinashin là một điển hình và đang là gánh nợ cho Ngân sách nhà
nước.
Nhà nước nhiều khi lo tăng trưởng hơn là lo ổn định, ví dụ như lo đầu tư vào đâu, lo
kiếm vốn cho các tập đoàn nhà nước, làm chỗ dựa cho các tập đoàn - công việc đáng ra
thuộc trách nhiệm chính của doanh nghiệp. Trong khi đó, việc chống lạm phát, ổn định
môi trường vĩ mô... nhiều khi chưa được quan tâm đủ tầm. Và hệ lụy là sự bất ổn kinh tế
vĩ mô, là tâm lý bất an của doanh nghiệp và phân phối nguồn lực không công bằng...
Công tác dự toán ngân sách yếu, chủ yếu dựa vào năng lực của người lãnh đạo tập
đoàn gây ra những hiện tượng tiêu cực
Công tác lập, xét duyệt, dự toán chưa sát thực tế, việc tổ chức thực hiện thu ngân sách
công đoàn còn để thất thu lớn, nhất là khu vực ngoài quốc doanh; khu vực có vốn đầu tư
nước ngoài; Phân phối ngân sách công đoàn giữa các cấp công đoàn chưa hợp lý, thiếu
phát huy mọi nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế.
Nhìn chung, những cải cách kinh tế mạnh mẽ trong hơn hai thập kỷ đổi mới vừa qua
đã mang lại choViệt Nam những thành quả bước đầu rất đáng phấn khởi. Việt Nam đã
tạo ra được một môi trường kinh tế thị trường có tính cạnh tranh và năng động. Nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần được khuyến khích phát triển, tạo nên tính hiệu quả trong
việc huy động các nguồn lực xã hội phục vụ cho tăng trưởng kinh tế. Các quan hệ kinh tế
đối ngoại đã trở nên thông thoáng hơn, thu hút được ngày càng nhiều các nguồn vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài, mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu và phát triển thêm
một số lĩnh vực hoạt động tạo ra nguồn thu ngoại tệ ngày càng lớn như du lịch, xuất khẩu
lao động, kiều hối...
Trong hơn 20 năm đổi mới, gdp của Việt Nam đã tăng liên tục. Từ năm 2001 đến nay,
tốc độ tăng gdp của Việt Nam luôn giữ ở mức cao và ổn định. Cùng với việc duy trì tốc
độ tăng trưởng gdp, cơ cấu kinh tế trong nước của Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể.
Luật doanh nghiệp được sửa đổi năm 2000 đã tạo điều kiện cho sự phát triển của các
doanh nghiệp tư nhân. Bộ luật này đã thể chế hóa quyền tự do kinh doanh của các cá
nhân trong tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm, dỡ bỏ những rào cản về hành
chính đang làm trở ngại đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
Trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, những chính sách và biện pháp điều chỉnh, sắp
xếp lại các doanh nghiệp, đặc biệt là những biện pháp về quản lý tài chính của công ty
nhà nước, quản lý các nguồn vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, hay việc chuyển các
công ty nhà nước thành công ty cổ phần theo tinh thần cải cách mạnh mẽ hơn nữa các
doanh nghiệp nhà nước, ngày càng được coi trọng nhằm nâng cao tính hiệu quả cho khu
vực kinh tế quốc doanh.
2.2 Môi trường Pháp lí
Nhìn một cách tổng thể thì môi trường pháp lý Việt Nam ngày càng mở rộng về
lĩnh vực xã hội được điều chỉnh. Song, theo yêu cầu thượng tôn pháp luật của WTO, môi
GVHD: PGS.TS. Hà Văn Sự
Học phần: Quản lý nhà nước về kinh tế
đoán. Trên thực tế vẫn còn có sự phân biệt giữa các thành phần kinh tế, hiện tượng tham
nhũng còn khá phổ biến, nhiều biện pháp can thiệp của Nhà nước vào thị trường chưa
GVHD: PGS.TS. Hà Văn Sự
Học phần: Quản lý nhà nước về kinh tế
25
thực sự hiệu quả, phân bổ nguồn lực xã hội còn tập trung chủ yếu trong các công ty nhà
nước...
2.3 Môi trường Chính trị
Hệ thống chính trị ở Việt Nam bao gồm nhiều tổ chức có tính chất, vị trí, vai trò,
chức năng khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau, tạo thành một thể
thống nhất. Sự thống nhất của các thành viên đa dạng, phong phú về tổ chức, phương
thức hoạt động trong hệ thống chính trị đã tạo điều kiện để phát huy sức mạnh tổng hợp
và tạo ra sự cộng hưởng sức mạnh trong toàn bộ hệ thống
Trong hơn 25 năm qua, môi trường chính trị và xã hội tại Việt nam từng bước
được phát triển theo hướng cởi mở và tạo điều kiện cho người dân phát huy vai trò tham
gia tích cực hơn. Vai trò kiểm tra giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ ngày càng
được nâng cao. Mặc dù vậy, Việt nam vẫn cần đẩy mạnh và phát huy hơn nữa quyền làm
chủ của nhân dân, mở rộng dân chủ trực tiếp trong quản lý điều hành để từng bước đạt
được mục tiêu trở thành một quốc gia công nghiệp hóa theo hướng hiện đại.
Đổi mới chính trị được Đảng ta xác định là kiên trì mục tiêu CNXH, tiếp tục con
đường bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN, đi tới CNXH; đổi mới chính trị không có nghĩa
là thay đổi hoặc từ bỏ chế độ XHCN. Thực chất của đổi mới chính trị là đổi mới tư duy
chính trị về CNXH và con đường đi lên CNXH; đổi mới cơ chế, chính sách mà hạt nhân
cơ bản là giải quyết hợp lý, hài hòa quan hệ lợi ích; đổi mới cơ cấu tổ chức và cơ chế vận
hành của hệ thống chính trị để xây dựng chế độ XHCN ngày càng vững mạnh, thực hiện
tốt nền dân chủ XHCN nhằm phát huy đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân trong quá