SỞ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH
Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định
--------------------SÁNG KIẾN DỰ THI CẤP TỈNH
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
CHUYÊN ĐỀ
Văn hóa Việt Nam Thế kỷ X-XIX
- Những thành tựu
- Sự giao thoa với văn hóa nhân loại
- Kết hợp giảng dạy lịch sử địa phương
Mục tiêu:
- Dạy học sinh chuyên Sử
- Bồi dưỡng học sinh giỏi
- Giảng dạy Lịch sử địa phương
Tác giả:
Trần Thị Kim Oanh
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Lịch sử
Chức vụ:
Tổ trưởng tổ Sử - Địa – GDCD
Nơi công tác : Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định
Nam định, tháng 5 năm 2015
1
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến:
CHUYÊN ĐỀ
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị : Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong
Địa chỉ : 76 Vị xuyên – Nam định
Điện thoại : 0350 3640297
3
I.
Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
Đã nhiều năm nay, trường THPT chuyên Lê Hồng Phong có nhiều học
sinh tham dự thi học sinh giỏi Tỉnh và Quốc gia đạt nhiều giải cao, tỉ lệ đỗ vào
các trường Đại học cũng cao. Môn Lịch sử cũng có sự đóng góp sức mình trong
đó.
Bộ giáo dục chưa có giáo trình riêng cho môn chuyên. Vì vậy giáo viên
dạy chuyên phải tự biên soạn bài giảng cho lớp chuyên dựa trên tài liệu sách
giáo khoa Nâng cao và các tài liệu tham khảo. Là một giáo viên dạy môn Lịch
sử của trường, tôi luôn có ý thức giảng dạy tốt và góp phần viết chuyên đề để
giảng dạy cho học sinh chuyên
Tôi xin trình bày một số kinh nghiệm, ý kiến riêng thông qua việc giảng dạy
chuyên đề
Văn hóa Việt Nam TK X-XIX – những thành tựu và sự giao thoa với văn
hóa nhân loại, kết hợp giảng dạy Lịch sử địa phương
( Phần lịch sử Việt Nam - Lớp 10 Chuyên )
để phục vụ cho vấn đề dạy môn chuyên và bồi dưỡng học sinh giỏi thi Tỉnh ,
Quốc gia, giảng dạy Lịch sử địa phương
II.
3. Về mặt phương pháp:
Thông qua các giờ giảng trên lớp của giáo viên và việc học bài, làm bài tập
của học sinh, học sinh phải biết:
• Chọn lọc sự kiện tiêu biểu trong hệ thống các sự kiện.
• Biết hệ thống sự kiện.
• Biết so sánh, phân tích, đánh giá sự kiện để tìm ra bản chất của sự kiện.
• Trên cơ sở đó giáo viên rèn kỹ năng làm bài cho học sinh ( ra đề, yêu cầu
phân tích để thấy được trọng tâm của đề, phạm vi kiến thức, phân bố thời
gian cho hợp lý, định lượng kiến thức cần dùng ...)
• Học sinh phải biết phân tích các vấn đề lịch sử để đánh giá, kết luận.
• Phải biết so sánh, liên hệ
4. Tổng hợp kiến thức, rèn kĩ năng và luyện đề.
5
Trên cơ sở kiến thức cơ bản, tôi nâng lên thành những vấn đề mang
tính chất khái quát để giúp học sinh giải quyết những đề thi của học sinh trong
các kì thi Học sinh giỏi. .
Tôi hướng dẫn cho học sinh phân tích đề, lập dàn ý và tập viết.
Quá trình cho học sinh làm bài tập là quá trình củng cố kiến thức và rèn
kỹ năng cho học sinh. Công việc này đối với học sinh giỏi là rất quan trọng vì
yêu cầu viết đối với các em rất cao.
5. Hướng dẫn học sinh mở rộng kiến thức và liên hệ.
Từ những vấn đề trong phạm vi của chuyên đề, tôi hướng dẫn học sinh
mở rộng, liên kết với các phần kiến thức khác có liên quan.
6. Bài tập củng cố kiến thức, phát huy vai trò của học sinh.
Ngoài dạng bài tập viết, tôi còn tổ chức cho học sinh hội thảo.
Hằng năm chúng tôi kết hợp với PHHS tổ chức cho học sinh đi tham quan
trải nghiệm những di tích lịch sử. Sau đó hướng dẫn học sinh viết thu
hoạch và hội thảo.
thiền phái Trúc Lâm và đã được các đệ tử của người là Pháp Loa và Huyền
Quang phát triển .Thiền phái này lấy sự gắn liền giữa ‘tâm’’ và ‘phật’’, phật ở
trong lòng làm hạt nhân. Khắp nơi, nhiều chùa chiền đã được xây dựng như các
chùa Diên Hựu (Một Cột), Phật Tích, Long Đội, Báo Thiên, Bối Khê, Thái Lạc,
Phổ Minh, cụm quần thể chùa tháp ở Yên Tử. Phần lớn các công trình này đã
được nhà nước tài trợ. Đông đảo quần chúng bình dân trong làng xã nô nức theo
đạo Phật. Lê Quát sống vào cuối đời Trần, nhận xét :”Từ trong kinh thành cho
đến ngoài châu phủ, kể cả những nơi thôn cùng ngõ hẻm, không bảo mà người
ta cứ theo, không hẹn mà người ta cứ tin, hễ nơi nào có nhà ở là ắt có chùa
chiền… Dân chúng quá nửa nước là sư…”. Thời Lý – Trần, có rất nhiều vị sư
tăng nổi tiếng trong cả nước, có uy tín và địa vị chính trị- xã hội. Có thể kể các
nhà sư Vạn Hạnh, Mãn Giác, Viên Thông, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không,
Giác Hải, Pháp Loa Huyền Quang …
7
Nho giáo ra đời ở Trung Quốc, do Khổng Tử sáng lập và làm công cụ
thống trị nhân dân về tư tưởng của phong kiến phương Bắc. Du nhập vào nước
ta từ thời Bắc thuộc và đã được nhà Lý chính thức thừa nhận khi cho xây dựng
Văn Miếu thờ Khổng Tử. Từ đó Nho giáo đã dần dần phát triển và trong sự lụi
tàn của Phật giáo nước ta cuối thời Lý Trần thì Nho giáo đã nhanh chóng phát
triển. Đến thời Lê sơ nhờ các chính sách hạn chế Phật giáo đẩy cao Nho học nên
Nho giáo đã vươn lên vị trí độc tôn trong xã hội, là tư tưởng chính thống của
giai cấp thống trị. Giáo dục được đẩy mạnh nhằm đề cao Nho học. Vua Lê
Thánh Tông đã cho viết 24 giáo huấn để quan địa phương đọc cho nhân dân
nghe nhằm phổ cập Nho giáo trong nhân dân. Trong giáo dục và thi cử, Nho
giáo chiếm nội dung chủ yếu. Để tôn vinh Nho học, Lê Thánh Tông cho dựng
bia tiến sĩ, những người đỗ từ năm 1442 tại nhà Thái học trong Văn Miếu Quốc
Tử Giám .
Các tín ngưỡng dân gian cổ truyền như tín ngưỡng thần linh, vật linh, tục
đối tượng học tập.
Năm 1427, sau khi Lê Thái Tổ đánh được quân Minh, khôi phục độc lập,
việc học lại được đặt lại. Theo Đại Việt sử kí toàn thư, năm Đại Bảo thứ ba
(1442), chủ trương dựng bia đá để tôn vinh những người đỗ đạt được đề ra, đến
năm Hồng Đức thứ 15 (1484) đời Lê Thánh Tông chủ trương đó được thực hiện
trên thực tế. Triều Lê Thánh Tông được xem là triều đại đỉnh cao nhất trong lịch
sử chế độ phong kiến Việt Nam, cùng với sự phát triển của kinh tế chính trị, văn
hoá xã hội, việc học hành thi cử cũng có nhiều tiến bộ. Lê Thánh Tông cho mở
rộng lại nhà Thái học ở phía sau Văn Miếu, làm thêm phòng ốc cho sinh viên ở
và học, xây kho bí thư để cất sách vở. Ông cũng cho định lại phép thi Hương, thi
Hội, thi Đình và định lệ ba năm một khoa thi; lệ xướng danh và lệ vinh qui cũng
có từ thời đấy. Triều Lê Thánh Tông cũng là lúc mà hiền tài đông đảo nhất, vua
ở ngôi 20 năm mà mở tới 19 khoa thi.
Đến triều Nguyễn, vua Gia Long thống nhất đất nước cũng theo chế độ
nhà Lê mà định phép thi và các dời sau có chỉnh sửa đôi chút. Việc học thời
Nguyễn có thể xem như là phát triển nhất với số lượng 47 khoc thi từ năm1807
đến năm1919. Từ năm Minh Mệnh thứ 6, 1825 trở về sau, nghi lễ thi cử được tổ
chức ngày càng long trọng, các sĩ tử trình báo theo phủ huyện, khảo hạch thật kĩ
càng, có các chức quan lo thu quyển, rọc phách, chấm điểm phân định rõ rệt.
9
Văn học Việt Nam truyền thống gồm 2 bộ phận chủ yếu: văn học dân gian
và văn học viết.
Văn học dân gian (hay văn học truyền miệng) bao gồm các tục ngữ,ca
dao,hò vè, truyện cổ tích,truyện cười, tiếu lâm...
Văn học viết chủ yếu là những tác phẩm văn thơ được viết bằng 2 loại
chữ chính là chữ Hán và Nôm của tầng lớp trí thức(vua quan , nho sĩ, sư sãi ).
Thế kỉ XVIII-XIX, một số truyện dân gian khuyết danh cũng đã được ghi lại
bằng chữ Nôm.
Pháp,Vũ Quỳnh,Kiều Phú). Nó đã nói lên rằng ý thức dân tộc ở thời Lý Trần đã
chín muồi.
Khuynh hướng thơ văn trữ tình rất phát triển trong giai đoạn từ thế kỉ
XVI - XIX là khi chế độ phong kiễn đang đi vào suy thoái. Những tác phẩm này
đề cập tới những chủ đề là khát vọng hạnh phúc cá nhân, khát vọng cuộc sống
hoà bình, nói nhiều đến giới nữ, tố cáo bất công trong xã hội…Các tác phẩm
tiêu biểu là Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Chinh phụ ngâm (Đặng Trần Côn,
Đoàn Thị Điểm), Cung oán ngâm khúc(Nguyễn Gia Thiều) ,Sơ kính tân tranh
(Phạm Thái), thơ Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều (Nguyễn Du).
Ngoài ra thể loại kí sự cũng rất phát triển trong giai đoạn XVI - XIX cụ
thể là Vũ trung tuỳ bút (Phạm Đình Hổ), Thượng kinh kí sự (Lê Hữu Trác)...
Trong thế kỉ XVI - XIX thì bên cạnh nền văn học viết thì văn học dân
gian cũng bùng nổ nhiều thể loại truyền miệng và văn học chữ Nôm . Đó là các
truyện cười, tiếu lâm (Trạng Quỳnh,Trạng Lợn, Ba Giai Tú Xuất), các truyện
Nôm dài (Phan Trần, Phạm Công Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa).
Nền văn học dân gian lúc này mang đậm tính hiện thực (tố cáo cái ác) và
nhân văn (khát vọng chiến thắng của cái thiện)
Kiến trúc điêu khắc nước ta bao gồm nhiều thể loại.
Loại hình kiến trúc đơn giản, phổ biến nhất chính là nhà ở trong dân gian
với nhà sàn ở miền núi, nhà đất ở nông thôn, nhà ống bằng gạch ở phương phố,
nhà thuyền trên sông...
Các công trình kiến trúc được coi là lớn nhất là loại hình cung điện của
vua chúa, quý tộc. Hoàng thành Thăng Long được coi là quần thể các cung,
điện, đường, lâu, đài, các... đồ sộ nguy nga trong nhiều thế kỉ và khiến nhiều
11
người nước ngoài phải thán phục. Cung Thiên Trường (ở Nam Định) của các
Thái Thượng Hoàng đời Trần lui về nghỉ chỉ còn trong kí ức. Quần thể cung
điện còn lại đến ngày nay là khu Đại Nội Huế (đầu thế kỉ XIX) vừa mô phỏng
quán còn lại đến ngày nay là quán Trấn Vũ (đền Quán Thánh) có pho tượng
khổng lồ bằng đồng đen thờ Huyền Thiên Trấn Vũ.
Đình làng loại hình kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng phổ biến nhất của Việt
Nam. Đình là nơi tế lễ các vị thần,thành hoàng,nơi hội họp và tổ chức hội hè.
Đình có thể xuất hiện từ thế kỉ XV (thời Nho học thịnh đạt) nhưng kiến trúc mô
phỏng biến cách từ các nhà làng nhà sàn.Một số ngôi đình nổi tiếng là đình Lỗ
Hạnh (Bắc Giang), đình Tây Đằng , đình Chu Quyến (Hà Nội). Ngôi đình lớn,
đẹp kiên cố nhất là đình Đình Bảng(Bắc Ninh) được xây dựng năm 1736 có 7
gian 2 chái sàn cao 70cm,có 84 cột lim,nhiều phù điêu phong phú.
Ở Việt Nam điêu khắc phần lớn hỗ trợ cho kiến trúc, mang chức năng
trang trí. Hai loại hình điêu khắc chủ yếu là tượng và phù điêu.
Tượng Phật ở các chùa đã được thiết kế rất nhiều trong thời kì Lý-Trần.
Đồng thời thì có rất nhiều bức tượng được phục dựng dưới thế kỉ XVI đến nủa
đầu thế kỉ XVIII. Một số pho tượng nổi tiếng ở Việt Nam: tượng phật A Di Đà
bằng đá chùa Phật Tích (cao 1m87 không kể bệ), tượng Phật Di Lặc bằng đồng
chùa Quỳnh Lâm nay đã mất (tương truyền cao 20m), tượng Quan Âm nghìn
mắt nghìn tay bằng gỗ sơn thiếp ở chùa Bút Tháp (tạc năm 1656), tượng 18 vị
La Hán bằng gỗ sơn chùa Tây Phương , tượng Bát Bộ kim cương ở chùa Mía...
Đạo giáo có một bức tượng rất nổi tiếng là Huyền Thiên Trấn Vũ bằng đồng đen
ở quán Trấn Vũ đúc năm 1678 cao 3m96, nặng 4 tấn. Nho giáo thì có các bức
tượng thờ của Khổng Tử , Mạnh Tử, Chu Công hay Chu Văn An một ngưòi
thầy lỗi lạc của Nho học nước ta.
Trong các công trình kiến trúc có rất nhiều các loại tượng và phù điêu
chạm khắc trên đồng ,gỗ, đá. Các bức phù điêu nổi tiếng thấy được ở chùa Thái
Lạc , hai cánh cửa chùa Phổ Minh, bệ đá chùa Phật Tích, Bút Tháp, đình làng.
Các mô típ đêu khắc tượng tròn và phù điêu phổ biến và tiêu biêu là rồng (hình
tượng khác nhau qua các thời Lý - Trần, Lê - Nguyễn), vũ nữ, lá đề, toà sen,
sóng nước, lưỡng long cầu nguyệt, sư tử hí cầu, tứ linh (long, ly,quy, phụng), tứ
quý (tùng, trúc, cúc, mai), các hình tượng dân gian như sinh hoạt hội hè, trò chơi
13
nhiều quốc gia Đông Nam Á phản ánh nền văn minh sông nước. Từ thời Lý
trong các dịp hội hè thì múa rối vẫn được diễn ra. Múa rối nước gắn liền với tên
14
tuổi của thiền sư Từ Đạo Hạnh và các địa phương như Hà Nam, Hà Tây, Hà
Nội... Chèo là loại hình tổng hợp các yếu tố ca, kịch. Loại chèo phổ biến nhất là
chèo cửa đình. Nội dung của chèo mang tính nhân văn và hiện thực. Các vở
chèo nổi tiếng như Đồng tiền Vạn Lịch, Kim Nham, Lưu Bình Dương Lễ,
Nghêu sò ốc hến, Quan Âm Thị Kính, , Từ Thức gặp tiên, Trương Viên. Tuồng
gắn liền với tên tuổi Đào Duy Từ với nội dung là chủ đề lịch sử và được diễn
dưới hình thức hát và nói. Các loại hình sân khấu dân gian rất phát triển thời Lý
Trần nhưng lại bị hạn chế dưới thời Lê sơ và được phục hồi trong thế kỉ XVIXVIII . Các trò chơi dân gian cũng có rất nhiều và thường được tổ chức trong
các dịp lễ hội. Đó là các trò như đấu vật,cờ người,kéo co, đua thuyền, đánh
đu,ném còn...
Trong y học chúng ta có Tuệ Tĩnh với những bài thuốc vô cùng quý báu
là tác giả bộ Nam dược thần hiệu . Nổi bật nhất là Hải Thượng lãn ông là một
thầy thuốc kiêm toàn về nhân cách, y đức và tài năng. Hải Thượng y tông tâm
lĩnh được coi là bộ sách thuốc có giá trị nhất của y học cổ truyền Việt Nam.
Khoa học kĩ thuật thì chúng ta đã đạt được những thành tựu rất lớn. Đầu
tiên thiên văn lịch pháp thì chúng ta có cơ quan Khâm Thiên giám có chức năng
soạn lịch pháp. Đời Trần, Đặng Lộ đã chế tạo ra lung linh nghi và làm ra loại
lịch Hiệp Kỉ mang tính dân tộc. Trần Nguyên Đán làm ra loại lịch mới “Thuận
Thiên” với những chính xác về thiên văn... Lịch pháp Việt Nam là âm lịch giống
như một số quốc gia
Việt Nam là một nhà nước quân chủ tập quyền, là một dân tộc độc lập, vì
vậy, việc ghi chép quốc sử và địa lý rất được coi trọng . Những bộ sử nổi tiếng
thời Trần và thời Lê là Đại Việt sử kí (Lê Văn Hưu, đã thất truyền), Đại Việt sử
lược (chưa rõ tác giả) và từ đó ra đời bộ Đại Việt sử kí toàn thư (Phan Phu Tiên,
Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh, Phạm Công Trứ). Đến thế kỉ XVIII, một học giả nổi
giờ chúng ta vẫn có thể biết đến. Đây là nền văn hoá của sự đồng nguyên tam
giáo Lão, Phật, Nho cùng với các tín ngưỡng dân gian. Cùng tồn tại và cùng
phát triển nhưng không hề riêng rẽ mà hoà cùng với nhau thành một để cuối
cùng lại tiếp tục hoà vào cùng những tín ngưỡng dân gian.
Những thành tựu văn hoá này đã là một sức mạnh tinh thần, vừa là một
xung lực vừa là một kháng thể trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
Đồng thời nó cũng là một tố chất cố kết cộng đồng người Việt, trên cơ sở tìm về
16
một cội nguồn lịch sử và văn hóa chung, làm chín muồi ý thức quốc gia và tinh
thần dân tộc Việt. Nhân loại sẽ mãi biết đến dân tộc Việt Nam cũng những thành
tựu văn hoá mà dân tộc này đã tạo ra.
17
VĂN HOÁ NƯỚC TA TỪ THẾ KỈ X ĐẾN XIX VÀ VĂN
HOÁ NHÂN LOẠI
Sự tiếp xúc, giao thoa giữa các nền văn hoá luôn luôn diễn ra cùng với
quá trình phát triển của nhân loại
Đó là một nhu cầu tất yếu, một quy luật của sự phát triển trong xã hội
loài người.
Trong quá trình giao thoa văn hóa, có thể xảy ra hiện tượng các yếu tố của
nền văn hoá này thâm nhập vào nền văn hoá kia hoặc nền văn hóa này vay
mượn các yếu tố của nền văn hoá kia rồi cải biến điều chỉnh cho phù hợp dẫn
đến sự tiếp biến văn hóa.
Việt Nam cũng không ngoại lệ. Là một quốc gia có biển chạy dài theo
lãnh thổ thì quá trình này càng được đẩy mạnh. Đặc biệt trong thời kì phong
kiến thì sự tiếp biến văn hoá được chú trọng và được đẩy mạnh kể cả trong triều
Trong thời kì đầu xây dựng quốc gia phong kiến độc lập, do Nho giáo
được truyền bá bằng con đường đối đầu nên kém được phát triển cả trong nhân
dân và triều đình. Ngược lại, Phật giáo đựoc truyền bá vào nước ta qua quan hệ
đối thoại, có tư tưởng triết lí phù hợp với người Việt nên rất phát triển. Đó là từ
bi bác ái, ở hiền gặp lành, kiếp luân hồi, hướng tới cái thiện ,thuyết nhân
quả...Vì vậy chính quyền phong kiến thời kì này (Đinh-Tiền Lê,Lý,Trần,Hồ) đã
lấy Phật giáo làm tư tưởng thống trị nhân dân, chi phối xã hội.
Các vị cao tăng như Mãn Giác,Vạn Hạnh... đều trở thành các cố vấn quan
trọng trong triều đình. Chính quyền trung ương có cả một hệ thống tăng quan rất
được mọi người kính trọng. Các nhà sư được coi là tầng lớp trí thức .Quan lại,
hoàng tộc đều theo đạo Phật. Nhiều hoàng thân, công chúa đã đi tu và ngay cả
nhà vua trong đó tiêu biểu là vua Trần Nhân Tông đã sáng lập nên thiền phái
Trúc Lâm. Trong nước đâu đâu cũng có chùa, nơi nào có người ở là nơi đấy có
sư sãi.Nhiều ngôi chùa cổ vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay như chùa Diên Hựu,
chùa Phổ Minh,chùa Quỳnh Lâm...
Tuy nhiên sau 1 thời gian bị suy yếu do chính sách độc tôn Nho giáo của
nhà Lê cụ thể là bắt người trên 50 tuổi mới được đi tu, hạn chế xây chùa chiền...
đến giai đoạn từ thế kỉ XVI đến đầu thế kỉ XVIII lại tiếp tục được phát triển
trong nhân dân. Nguyên nhân là do thời kì này đồng tiền chi phối mọi mặt,
chiến tranh phong kiến xảy ra liên miên, chính quyền không quan tâm đến đời
19
sống con người gây bao đau khổ cho con người vì vậy kể cả vua chúa và người
dân lại tìm đến với đạo Phật. Nhiều chùa mới được xây dụng cùng với nhiều
ngôi chùa được phục dựng. Tiêu biểu là chùa Thiên Phúc (Hà Tây), chùa Sùng
Quang (Hà Nội)...
Nho giáo đã vươn lên chiếm vị trí độc tôn dưới thời Lê sơ(thế kỉ XV)
cùng với đó là sự lụi tàn của Phật giáo và Đạo giáo. Nhà nước rất khuyến khích
phát triển Nho giáo, sự phát triển của giáo dục đồng thời cũng làm cho Nho học
viết. Do chữ Hán cũng du nhập vào nước ta từ thời Bắc thuộc và xuất phát từ
nhu cầu cấp thiết xây dựng đất nước và đẩy mạnh giáo dục nên chữ Hán đã trở
thành chữ viết chính thức của dân tộc. Việc thi cử, mọi giấy tờ hành chính...đều
dùng chữ Hán. Và cũng từ nền tảng chữ Hán mà người Việt đã sáng tạo ra chữ
Nôm. Chữ Nôm ra đời bắt nguồn từ tư tưởng chống Hán hóa, là ý thức phản vệ
của dân tộc trước những gì có tính ngoại lai. Như vậy chúng ta thấy được rằng
chữ Hán đã bị Việt hoá thành chữ viết của dân tộc.
Cùng với quá trình truyền đạo thì các giáo sĩ phương Tây đã sáng tạo ra
chữ Quốc ngữ được dùng phổ biến ngày nay trên cơ sở bảng chữ cái latinh. Tuy
nhiên thời kì này thì chữ quốc ngữ chỉ được dùng trong bộ phận giáo dân và chỉ
để truyền kinh. Loại chữ này có tính ưu việt hơn chữ Hán rất nhiều như dễ học,
dễ viết nên dễ phổ biến
Văn học chúng ta tiếp biến chủ yếu từ văn học Hán về cả hình thức và nội
dung. Tiếp biến về mặt hình thức thì chúng ta sử dụng chữ Hán, các thể loại thơ,
truyền kỳ, tiểu thuyết Trung Hoa (thơ Đường luật,tiểu thuyết chương hồi) để
sáng tác nhưng chúng ta cũng đã cải biên đi như từ 7 chữ xuống 6 hay lên 8 chữ
(Nguyễn Trãi,Nguyễn Bỉnh Khiêm...) và cũng từ đó cho ra đời nhiều thể thơ
mới như song thất lục bát, lục bát...Bên cạnh đó chúng ta cũng sử dụng chữ
Nôm để sáng tác thơ ). Tiếp biến về mặt nội dung thì chúng ta đã sử dụng khuôn
mẫu, hình tượng văn học Trung Hoa để sáng tác với hai đề tài chủ đạo là lịch sử
(con người dũng cảm,trung nghĩa hay thời đại,đất nước và phong cảnh tự nhiên,
vẻ đẹp của núi non, thời khắc giao mùa). Song điều đáng nói là chúng ta còn thể
hiện tình cảm yêu nước sâu đậm, niềm tự hầo dân tộc cùng lòng nhân đạo của
con người.Tiêu biểu là Nam Quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt), Bạch Đằng giang
phú(Trương Hán Siêu), Hịch tướng sĩ(Trần Hưng Đạo), Hồng Đức quốc âm thi
tập (Lê Thánh Tông), Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi), Hoàng Lê nhất thống chí
21
(Ngô gia văn phái). Đặc biệt, đại thi hào Nguyễn Du đã mượn cốt truyện của
đền đài, đình làng....Cụ thể là cột biểu chùa Dạm, tượng Phật chùa Phật Tích...
Nghệ thuật biểu diễn (gồm âm nhạc nhạc và múa) thì chúng ta ảnh hưởng
từ Trung Hoa chủ yếu trong loại hình nghệ thuật cung đình và tôn giáo kết hợp
với những loại hình nghệ thuật cổ truyền của người Việt đã cho ra đời nhiều
điệu múa, bản nhạc như 8 loại nhã nhạc thời Lê sơ với nhiều loại nhạc cụ như
trống, khánh, sáo, đàn...,Lục cúng hoa đăng thời Nguyễn...
Khoa học kĩ thuật ở Việt Nam dựa trên nền tảng trí tuệ Việt và sự học hỏi
tiếp thu từ bên ngoài đã đạt được nhiều thành tựu. Kĩ thuật làm giấy du nhập từ
Trung Hoa cũng rất phát triển ở Việt Nam tiêu biểu là các làng làm giấy như
Nghĩa Đô, Đống Cao...với kĩ nghệ thủ công mà tinh xảo nên đã tạo ra những
loại giấy còn được dùng để tặng cho Trung Quốc.
Kĩ thuật sản xuất thì chúng ta chủ động học hỏi từ các kĩ thuật sản xuất
nông nghiệp ( kĩ thuật gieo trồng, canh tác, đo lượng mưa, sức gió, thủy lợi) đến
những kĩ thuật thủ công nghiệp. Kĩ thuật làm gốm thì chúng ta đã học hỏi đợc
từ Trung Hoa nhiều kĩ thuật làm gốm từ thời Bắc thuộc nên chúng ta đã cho ra
đời nhiều làng gốm nổi tiếng như Bát Tràng,Thổ Hà, Chu Đậu...với nhiều loại
gốm đa dạng về màu sắc,chất lượng, họa tiết.
Lịch pháp Việt Nam cũng theo Trung Quốc là âm lịch, theo chu kì mọc
lặn của mặt trăng một năm gồm 12 tháng, có 365 ngày chia 1 năm thành 24 tiết
trong đó quan trọng nhất là tiết Nguyên Đán (tết âm lịch cổ truyền). Chúng ta
cũng có 12 con giáp như Trung Quốc và Ấn Độ. Nhưng chúng ta cũng có rất
nhiều điểm khác biệt như một số ngày lễ tết có phong tục khác (ở Trung Quốc
tết Đoan Ngọ (mùng 5-5 âm lịch) là ngày người dân làm bánh thả xuống sông,
nhưng Việt Nam thì là ngày diệt sâu bọ...) ,chúng ta thay thế thỏ của Trung
Quốc và Ấn Độ bằng mèo và bò của Trung Quốc bằng trâu trong 12 con giáp.
Sự tiếp biến văn hoá ở Việt Nam diễn ra mạnh mẽ, đa dạng, độc đáo như
vậy đương nhiên có sự tiếp biến của chủ thể văn hoá. Đó là bộ máy nhà nước và
tình hình kinh tế.
23
24
quốc gia lại có chữ viết, văn học, nghệ thuật, khoa học – kĩ thuật, tôn giáo – tư
tưởng, bộ máy nhà nước riêng.
Qua đây chúng ta thấy được rằng con người Viêt Nam tiếp biến văn hoá
nước ngoài do hoàn cảnh lịch sử đặt ra yêu cầu cấp thiết là xây dựng đất nước.
Qua một ngàn năm lịch sử, các yếu tố văn hóa ngoại lai đã được chúng ta biến
đổi, góp phần làm phong phú văn hóa dân tộc. Và từ đây chúng ta đã rút ra được
những bài học vô cùng quan trọng đó là: Tiếp biến văn hóa nước ngoài luôn phải
đặt trên cơ sở cái nền văn hóa dân tộc, phải biết kế tục đi đôi với đổi mới truyền
thống, chú trọng xây dựng nguồn lực nhân văn làm nguồn lực phát triển kinh tế,
văn hóa, xã hội.
Kết hợp dạy Lịch sử địa phương:
Quê hương Nam định gắn với lịch sử triều đại nhà Trần, với 3 lần chiến thắng
Mông – Nguyên, văn hóa Phật giáo, văn minh Đại Việt …Tôi lựa chọn một số
kiến thức phù hợp để giảng dạy, hướng dẫn học sinh học tập, nghiên cứu, giáo
dục cho các em lòng yêu quê hương đất nước và tự hào dân tộc
Sau đây là 1 số ví dụ điển hình trong phần kiến thức ấy
Câu 1:
Triều Trần ra đời trong hoàn cảnh lịch sử nào? Thời gian tồn tại của nhà
Trần, kể tên các vua đời Trần?
Nhà Trần là một trong những triều đại thịnh trị trong lịch sử chế độ phong
kiến Việt Nam, bắt đầu khi vua Thái Tông lên ngôi năm 1225 sau khi giành
được quyền lực từ tay nhà Lý và chấm dứt khi vua Thiếu Đế, khi đó mới có 5
tuổi bị ép thoái vị vào năm 1400 để nhường ngôi cho ông ngoại là Hồ Quý
Ly tức Lê Quý Ly – tổng cộng là 175 năm. Đây là triều đại hừng hực hào khí
Đông A, ghi nhiều hiển hách trong lịch sử phong kiến Việt Nam với ba lần đánh
bại các cuộc xâm lược của người Mông Cổ cũng như triều Nguyên – đế chế từng