Nghiên cứu chất lượng dịch vụ trong mạng MPLSVPN cho mạng truyền số liệu chuyên dùng của các cơ quan đảng và nhà nước - Pdf 34

HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
---------------------------------------

NGUYỄN VIỆT CƯỜNG

TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

Nghiên cứu chất lượng dịch vụ trong mạng
MPLS/VPN cho mạng truyền số liệu chuyên dùng
của các cơ quan Đảng và Nhà nước
Chuyên ngành: TRUYỀN DỮ LIỆU VÀ MẠNG MÁY TÍNH
Mã số: 60.48.15

Người hướngdẫn KH: TS Nguyễn Thành Phúc
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI – NĂM 2011


MỞ ĐẦU
Chất lượng dịch vụ mạng luôn là vấn đề quan tâm của cả người sử dụng và nhà cung
cấp dịch vụ. Đảm bảo chất lượng dịch vụ và cung cấp các dịch vụ chất lượng cao luôn là
tiêu chí hàng đầu của ngành viễn thông. Theo dõi sự phát triển của ngành công nghệ viễn
thông trong các năm trở lại đây, chúng ta có thể chứng kiến nhiều bước tiến lớn trong
lĩnh vực này. Với mục đích cung cấp cho người sử dụng các dịch vụ có chất lượng cao,
quá trình phát triển đã bắt đầu từ công nghệ X25 vào cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80.
Tiếp theo đó là công nghệ ATM trong thập kỷ 90, hướng tới mạng số băng rộng B-ISDN.
Theo thời gian, các công nghệ trên cũng không đáp ứng được hết các yêu cầu về
chất lượng dịch vụ. Công nghệ chuyển mạch gói IP ra đời, đây cũng là phương thức duy
nhất áp dụng cho mạng Internet hiện nay. Nhưng công nghệ IP không đảm bảo được chất
lượng dịch vụ, tốc độ truyền tin theo yêu cầu. Do đó, công nghệ chuyển mạch nhãn đa

Nhãn là một thực thể có độ dài ngắn và cố định được gắn vào một gói tin cụ thể sẽ
đại diện cho một FEC (Forwarding Equivalence Classes: Nhóm chuyển tiếp tương
đương) mà gói tin được ấn định. Tuy nhiên nhãn không phải là mã hoá của địa chỉ đó.
Nhãn xác định đường đi mà gói tin có thể truyền qua. Nhãn được đóng gói trong
tiêu đề lớp 2 cùng với gói tin. Bộ định tuyến kiểm tra các gói tin qua nội dung nhãn để
xác định các bước chuyển kế tiếp. Dạng của nhãn phụ thuộc vào phương thức truyền tin
mà gói tin được đóng gói.
 Ngăn xếp nhãn (Lable stack):
Là một tập hợp thứ tự các nhãn gán theo gói để chuyển tải thông tin về nhiều FEC
và về các LSP tương ứng mà gói đi qua.
 Bảng chuyển tiếp chuyển mạch nhãn:
Chứa thông tin về nhãn vào, nhãn ra, giao diện vào, giao diện ra.
 Bộ định tuyến chuyển mạch nhãn ( LSR-Lable Switching Router ):
Là thiết bị chuyển mạch hay thiết bị định tuyến sử dụng trong mạng MPLS để
chuyển các gói tin bằng thủ tục phân phối nhãn.
 Lớp chuyển tiếp tương đương ( FEC-Forward Equivalence Class ):
FEC là một nhóm các gói chia sẻ cùng yêu cầu trong sự chuyển tiếp chúng qua
mạng. Tất cả các gói trong một nhóm như vậy được cung cấp cùng cách chọn đường tới
đích. Khác với chuyển tiếp IP truyền thống, trong MPLS việc gán một gói cụ thể vào một
FEC cụ thể chỉ được thực hiện một lần khi các gói vào trong mạng.
 Cơ sở thông tin nhãn ( LIB-Label Information Base ):
Là bảng kết nối trong LSR có chứa giá trị nhãn/ FEC được gán vào cổng ra cũng
như thông tin về đóng gói dữ liệu truyền tin để xác định phương thức một gói tin được
chuyển tiếp.
 Tuyến chuyển mạch nhãn ( LSP-Label Switching Path ):


Là tuyến tạo ra từ đầu vào đến đầu ra của mạng MPLS dùng để chuyển tiếp gói của
một FEC nào đó sử dụng cơ chế hoán đổi nhãn. Các tuyến chuyển mạch nhãn chứa một
chuỗi các nhãn tại tất cả các nút dọc theo tuyến từ nguồn tới đích.Các nhãn được phân

 Tiêu đề bản tin LDP
 Phiên bản: Số phiên bản của giao thức, hiện tại là phiên bản 1.
 Độ dài PDU: Tổng độ dài của PDU tính theo octet, không tính trường phiên bản
và trường độ dài.
 Nhận dạng LDP: Nhận dạng không gian nhãn của LSR gửi bản tin này. Bốn octet
đầu tiên chứa địa chỉ IP được gán cho LSR: nhận dạng bộ định tuyến. Hai octet
cuối nhận dạng không gian nhãn bên trong LSR.Với LSR có không gian nhãn lớn,
trường này có giá trị bằng 0.
15

0
Phiªn b¶n

31
§é dµi PDU

NhËn d¹ng LDP

.

NhËn d¹ng LDP

Hình 1.6: Tiêu đề bản tin LDP.
b) Khuôn dạng bản tin LDP
Tất cả các bản tin LDP có khuôn dạng sau:
U
Kiểu bản tin
Độ dài bản tin
ID bản tin
Thông số bắt buộc

xoá bỏ bởi LSR.
 Bản tin Lable Mapping: Các bản tin ánh xạ nhãn được sử dụng để quảng bá liên
kết giữa FEC ( tiền tố địa chỉ ) và nhãn giữa các thực thể đồng cấp. Bản tin này
được sử dụng khi có sự thay đổi trong bảng định tuyến (thay đổi tiền tố địa chỉ)
hay thay đổi trong cấu hình LSR tạm dừng việc chuyển nhãn các gói trong FEC
đó.
 Bản tin Lable Withdraw: Bản tin này có nhiệm vụ ngược lại so với bản tin ánh xạ
địa chỉ, được sử dụng để xoá bỏ các kiên kết giữa các FEC và các nhãn vừa thực
hiện. Bản tin này được gửi tới một thực thể đồng cấp để thông báo rằng nút không
còn tiếp tục sử dụng các liên kết nhãn-FEC mà LSR đã gửi trước đó
 Bản tin Lable Request: Bản tin yêu cầu nhãn được LSR sử dụng để yêu cầu một
LDP đồng cấp cung cấp một sự kết hợp nhãn cho một FEC.
 Bản tin giải phóng nhãn: Bản tin này được LSR sử dụng khi nhận được chuyển
đổi nhãn mà nó không cần thiết nữa, LSR sẽ phát bản tin giải phóng nhãn
 Bản tin Lable Abort Request: Bản tin này được sử dụng để lạo bỏ các bản tin yêu
cầu nhãn bất thường.
d) Các chế độ phân phối nhãn:
Chúng ta đã biết một số chế độ hoạt động trong việc phân phối nhãn như: không yêu
cầu phía trước, theo yêu cầu phía trước, điều khiển LSP theo lệnh hay tự lập, duy trì tiên
tiến hay lưu giữ. Các chế độ này được thoả thuận bởi LSR trong quá trình khởi tạo phiên
LDP.
1.1.2.2.

Giao thức dành trước tài nguyên RSVP (Resource Reservation Protolcol )


RSVP là giao thức báo hiệu đóng vai trò quan trọng trong mạng MPLS, được sử
dụng để dành trước tài nguyên cho một phiên truyền trong mạng Internet. Nó cho phép
các ứng dụng thông báo về các yêu cầu chất lượng dịch vụ với mạng và mạng sẽ đáp ứng
bằng các thông báo thành công hay thất bại.

nối trực tiếp với các router PE khác.
- Router biên khách hàng (CE) : các router biên khách hàng không hỗ trợ MPLS và
có thể sử dụng các phương thức định tuyến để kết nối đạt hiệu quả. Các router CE không
bao giờ kết nối trực tiếp tới router P.
1.2.3. Truyền và định tuyến trong MPLS VPN
Mỗi VPN sẽ có một hoặc nhiều trường hợp truyền và định tuyến VPN riêng (VRF).
Một VRF gồm bảng định tuyến IP, bảng CEF (Cisco Express Forwarding).
Mỗi side khách hàng có thể kết nối với nhiều VPN, tuy nhiên một VRF chỉ có thể
định nghĩa một VPN và nó chứa tất cả các tuyến kết nối tới khác hàng từ các VPN khác.
Mỗi khách hàng VPN có thể sử dụng một dải IP riêng, nhưng nếu hai khách hàng
VPN muốn kết hợp chung vào mạng extranet thì địa chỉ phải khác nhau để tránh trường
hợp xung đột địa chỉ.
Các PE sẽ sử dụng bảng định tuyến IP global để chuyển các gói tin. Các bảng định
tuyến và chuyển tiếp VRF được sử dụng để chuyển tiếp thông tin bên trong một VPN. Do
mỗi router PE có nhiều VRF, nên sự kết hợp của bảng VRF và CEF được xem như router
ảo trong router PE vật lý. Mỗi giao diện trên PE sẽ liên quan tới một VRF riêng, các
thông tin định tuyến sẽ được học thông qua các giao diện này.
Router PE có thể học prefix IP từ các router CE qua các phiên BGP hoặc qua các
giao thức RIPv2, OSPF. Sau khi học được IP prefix, PE sẽ chuyển phần tiêu đề này sang
VPN-Ipv4 bằng cách gán thêm 64 bit RD (route distinguisher), tạo ra 96 bit prefix trong
địa chỉ VPN – Ipv4. Giao thức BGP cho phép chuyển các thông tin định tuyến giữa các
router mà không cần chúng phải kết nối trực tiếp với nhau. Đây là giao thức mềm dẻo.
thường được sử dụng trong các mạng MPLS/VPN. BGP sẽ phân phối thông tin mào đầu
VPN-Ipv4 cho mỗi VPN. BGP có thể hoạt động ở cả hai mức : trong cùng hệ thống tự trị
(IBGP) và giữa các hệ thống tự trị khác (EBGP). Các phiên giữa PE-PE sử dụng IBGP,
còn giữa PE-CE thì sử dụng EBGP.
1.2.4. Ưu điểm của MPLS / VPN
- Khả năng mở rộng : MPLS VPN cho phép khả năng mở rộng và phát triển mạng
lớn. Có thể có hàng chục nghìn kết nối VPN qua mạng chung.
- Bảo mật : MPLS VPN có tính bảo mật cao, tương tự như các VPN có hướng (ATM

QOS CHO MẠNG MPLS/VPN
2.1. Khái niệm chung:
2.1.1. Kiến trúc cơ bản của QoS
Kiến trúc cơ bản của QoS bao gồm 3 mảng cơ bản :
- Định dạng QoS và kỹ thuật đánh dấu cho phép phối hợp QoS từ điểm đầu tới điểm
cuối giữa từng thành phần mạng.
- QoS trong từng thành phần mạng đơn (các công cụ hàng đợi , lập lịch , định dạng
lưu lượng)


- Cách giải quyết , điều khiển QoS , các chức năng tính toán để điều khiển và giám
sát lưu lượng đầu cuối qua mạng.
2.1.2. Các tham số của QoS
Latency (Độ trễ khi truyền gói tin qua mạng)
Trễ và latency là chỉ số thời gian để truyền tải một bit qua mạng từ nguồn tới đích.
Trễ được tạo ra do khoảng cách truyền, các lỗi, lỗi khôi phục, tắc nghẽn, khả năng xử lý
của mạng bao gồm truyền dẫn và các nhận tố khác.
Có nhiều dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ thời gian thực như truyền thông thoại bị ảnh
hưởng rất nhiều bởi trễ. Có nhiều thành phần gây trễ trong mạng cần được tìm hiểu:
- Trễ đóng gói :
Là lượng thời gian thực hiện mã hoà, giải mã để chuyển đổi hai chiều giữa tương tự
và số, thời gian thực hiện đóng gói và mở gói.
- Trễ lan truyền :
Là lượng thời gian để thông tin truyền liên kết là dây đồng, sợi quang hay không
dây. Nó là hàm của tốc độ ánh sáng.
- Trễ hàng đợi :
Là thời gian gói tin chờ trong hàng đợi để đợi đến lượt mình được xử lý.
Mất gói tin (Loss)
Là hiện tượng khi các gói truyền trong mạng không đến được phía thu. Đây cũng là
một tham số quan trọng của QoS. Nó thường xảy ra khi xuất hiện tắc nghẽn trên đường

Ngoài giao thức báo hiệu, mô hình tích hợp dịch vụ còn định nghĩa thêm một số lớp
dịch vụ.
Các bộ định tuyến phải có khả năng thực hiện các công việc sau:
• Kiểm soát (bằng các policing): kiểm tra TSpec của luồng lưu lượng; nếu không phù
hợp thì loại bỏ luồng.
• Điều khiển chấp nhận: kiểm tra xem tài nguyên mạng có đáp ứng được yêu cầu của
ứng dụng hay không. Nếu không thể đáp ứng, mạng sẽ từ chối.
• Phân lớp (Classification): phân loại gói dữ liệu căn cứ vào mức yêu cầu chất lượng
dịch vụ của gói.
• Hàng đợi và lập lịch (queuing and scheduling): đưa gói dữ liệu vào hàng đợi tương
ứng và quyết định hủy gói dữ liệu nào khi xảy ra xung đột.
* Giao thức dành trước tài nguyên RSVP
- RSVP là giao thức báo hiệu cung cấp thủ tục để thiết lập và điều khiển quá trình
chiếm giữ tài nguyên, hay nói cách khác RSVP cho phép các chương trình ứng dụng
thông báo cho mạng những yêu cầu về mức chất lượng dịch vụ; và mạng sẽ hồi đáp chấp
nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu đó.


- Các bản tin RSVP được các bộ định tuyến hay các bộ chuyển mạch trên liên kết
giữa hai đầu cuối gửi và nhận trao đổi với nhau để đáp ứng yêu cầu về mức chất lượng
dịch vụ của ứng dụng.
- RSVP đóng vai trò quan trọng trong quá trình triển khai việc chuyển tải nhiều dịch
vụ như: âm thanh, hình ảnh và dữ liệu trong cùng một hạ tầng mạng. Các ứng dụng có thể
lựa chọn nhiều mức chất lượng dịch vụ khác nhau cho luồng lưu lượng của mình.
* Kiến trúc IntServ
- Cấu trúc của các bộ định tuyến và các bộ chuyển mạch có hỗ trợ RSVP trong mạng

Hình 2.2: Mô hình dịch vụ IntServ.
- Như vậy ta thấy cấu trúc gồm các khối:
• Khối điều khiển lưu lượng bao gồm: bộ phân loại (Classifier), bộ lập lịch gói

Hình 2.5: Mô hình DiffServ tại biên và mạng lõi.
* Sự khác nhau giữa IntServ và DiffServ
Trong một mạng sử dụng QoS, chúng ta có thể không cần dùng đến IntServ hay
DiffServ mà mạng vẫn chạy bình thường, tuy nhiên nếu có ứng dụng DiffServ hay


IntServ vào thì sẽ cho kết qua tốt hơn nhiều, và có thể đảm bảo chất lượng dịch vụ cao
hơn.
DiffServ ra đời để khắc phục các khuyết điểm của IntServ, giữa chúng có những sự
khác nhau:
Bảng 2.1 : Sự khác nhau giữa DiffServ và IntServ.
DiffServ
IntServ
Không dùng bất kì giao thức báo
Dùng giao thức báo hiệu RSVP để
hiệu nào để dành trước băng thông dành trước băng thông mạng, do đó sẽ tốn
mạng, do vậy tiết kiệm được băng tài nguyên mạng vô ích.
thông mạng.
Có thể sử dụng cho mạng lớn và cả
Chỉ có thể sử dụng cho mạng cỡ nhỏ
mạng nhỏ với số lưu lượng rất lớn
với số lượng lưu lượng nhỏ
Ít tốn tài nguyên mạng
Tốn nhiều tài nguyên mạng
Xét ưu tiên gói trên từng chặng

Khởi tạo một kênh truyền trước khi
truyền
Khả năng mở rộng mạng cao và
Khả năng mở rộng mạng thấp và phục

hàng đợi chỉ xảy ra ở lối ra của router khi đó ta gọi là hàng đợi lối ra (output queuing),
nhưng đôi khi hàng đợi cũng xảy ra ở lối vào ta gọi là hàng đợi lối vào (input queuing).

Hình 2.7: Hàng đợi trong router.
Hình trên là một ví dụ về hàng đợi, lối vào với 4 gói tin kích thước 1500 byte mỗi
gói, ở đây ta có hai hàng đợi :hàng thứ 1 đang có 3 gói tin đang chờ và băng thông của
hàng này là 25% tổng băng thông, hàng thứ 2 chỉ có 1 gói tin đang chờ với băng thông là
75%. Gói tin nào được gởi trước là tùy thuộc vào mức độ ưu tiên của hàng đợi đó và
hàng đợi đó như thế nào so với các hàng đợi khác.
 First In-First Out Queuing:
- Hàng đợi FIFO không có sự phân loại vì tất cả các gói đều thuộc về cùng một lớp.
Một bộ định tuyến hay bộ chuyển mạch cần các hàng đợi xuất để giữ các gói trong khi
chờ bộ giao tiếp sẵn sàng gửi gói. Trong khi các công cụ hàng đợi khác thể hiện các tính
năng khác, như sắp xếp trật tự các gói, hàng đợi FIFO chỉ cung cấp một ý nghĩa giữ các
gói trong khi chúng chờ để rời khỏi một cổng giao tiếp (interface). Hàng đợi FIFO sử
dụng một hàng đợi đơn cho bộ giao tiếp. Vì chỉ có một hàng đợi nên không cần phân lớp
để quyết định khi gói đi vào. Và cũng không cần lập lịch ban đầu để cho hàng đợi lấy gói
tiếp theo. Chỉ quan tâm đến cách cấu hình chiều dài hàng đợi FIFO tránh tác động đến độ
trễ và mất gói.
- Hàng đợi FIFO sử dụng kỹ thuật hủy gói cuối hàng đợi để quyết định khi nào bỏ gói
hay cho gói vào hàng đợi. Nếu cấu hình một hàng đợi dài hơn, nhiều gói có thể đặt trong
hàng đợi, nghĩa là hàng đợi ít khả năng đầy. Nếu không gian hàng đơi còn trống nhiều thì
gói ít bị mất. Tuy vậy, với một hàng đợi dài, độ trễ và độ biến động trễ của gói tăng. Với
hàng đợi ngắn, độ trì hoãn ít xuất hiện hơn, nhưng hàng đợi FIFO đơn sẽ đầy nhanh
chóng, lúc này các gói mới sẽ bị hủy bỏ.


Hình 2.8: Hàng đợi FIFO.

 Priority Queuing

CQ sẽ kiểm tra lần lượt các hàng đợi, bắt đầu từ hàng đợi thứ 1, CQ sẽ lấy gói tin từ
hàng đợi này cho tới khi số gói tin mà nó lấy vượt quá hoặc bằng giá trị cho phép, sau khi
hàng đợi này đã được phục vụ với số gói tin nhu trên hoạc hàng đợi này không có gói tin
thì CQ sẽ chuyển qua phục vụ cho hàng đợi kế tiếp và quá trình lặp lại như trên.


Đặc điểm của CQ :
+ Không thích hợp cho các mạng cần low delay, low jitter,...
+ Không thể dành trước băng thông cho link.
+ Không cung cấp hàng đợi ưu tiên.
+ Không thích hợp cho Voice
+ Cho phép các hàng đợi được phục vụ xoay vòng.
+Cho phép các hàng đợi bình đẳng nhau.
 Weighted Fair Queuing
WFQ là kĩ thuật hàng đợi mặc định trong router Cisco, nó khác với các hàng đợi PQ
và FIFO ở các điểm sau:
+ Nó không cho phép cấu hình phân loại, WFQ phân loại gói tin theo flow, một flow
bao gồm nhiều gói tin có cùng đích đến và cùng nguồn, cùng port đích và port nguồn.
hững flow nào có độ ưu tiên cao hơn thì sẽ được phát trước.
+ Mỗi flow là một hàng đợi, vì vậy số hàng đợi trong WFQ có thể lên tới 4096 hàng
đợi lớn hơn rất nhiều so với PQ hay FIFO.
Với WFQ ta có tối đa là 4096 hàng đợi trong 1 interface của router, số hàng đợi này
cũng chính là số flow chảy vào router. Ví dụ: ta có 5 flow là Voice, 2 kết nối HTTP, 2 kết
nối FTP thì khi đó ta sẽ có 5 hàng đợi trong router, như vậy số hàng đợi thay đổi theo số
flow, chúng không cố định như trong các kĩ thuật khác

Hình 2.11: Cách lấy gói tin của WFQ.
Khi gói tin vào interface, nó sẽ được phân loại thành các flow theo 5 thông số:
+ IP source


+ Số hàng đợi tối đa là 64 và chiều dài hàng đợi tối đa là 64, các giá trị này là mặc
định ta có thể set tùy theo ý muốn.
+ Bên trong mỗi hàng đợi ta có thể dùng FIFO hoặc WFQ.

Hình 2.13: Tiến trình gởi gói tin của CBWFQ.
 Low-latency Queuing
Low-latency Queueing (LLQ) là một kĩ thuật hàng đợi mà ở đó nó cho phép gói tin
được phục vụ với chất lượng cao nhất (low delay, low jitter, low loss …).Nó đơn giản để
cấu hình và đơn giản để hiểu. LLQ không phải là một hàng đợi tách biệt với các kĩ thuật
hàng đợi khác, nó được sử dụng bên trong một kĩ thuật hàng đợi nào đó để làm tăng tính
ưu tiên cho hàng đợi này, những hàng đợi có dùng LLQ thì nó được đối xử giống như
hàng đợi PQ, nhưng với PQ thì nó không đảm bảo băng thông cho các hàng đợi khác còn
với LLQ thì mặc dù vẫn có hàng đợi ưu tiên nhưng nó vẫn đảm bảo băng thông cho các
hàng đợi không có LLQ.


Hình 2.14: Tiến trình gửi gói tin của hàng đợi LLQ.
Khi hàng đợi LLQ vượt quá tốc độ cho phép hay băng thông cho phép thì các gói tin
trong hàng đợi này sẽ bị rớt và chuyển qua phục vụ cho hàng đợi khác. Như vây hàng đợi
LLQ chỉ có thể hoạt động ở tốc độ đã được thiết lập từ trước và không thể tranh chấp với
các hàng đợi khác khi nó cần thêm băng thông, vậy các hàng đợi khác đã được đảm bảo
về băng thông.
Hàng đợi LLQ có ý nghĩa rất lớn trong các dữ liệu là Voice, Video…vì nó cho phép
các dữ liệu này nhận được sự phục vụ tốt nhất có thể: low delay, low jitter, low loss.
2.3. QoS trong MPLS
2.3.1. Khái niệm các trường IPP, DSCP, MPLS Exp
* Trường IPP (IP Precedence)

Hình 2.15: kiến trúc tiêu đề gói tin IP.
Trong phần tiêu đề gói tin IP có trường TOS (type of service) biểu diễn loại dịch vụ

6
110
Internetwork Control
7
111
Network Control
* Trường DSCP

Hình 2.17: Các byte DSCP.
DSCP là phần mở rộng thêm của trường IP Precedence. Có 2 loại :
- EF (Expedited forwarding): đảm bảo việc mất gói khó xảy ra, băng thông luôn
được đảm bảo, dịch vụ ent to end phải qua miền Diffserv
- AF (Assured forwarding): các dịch vụ truyền qua được đảm bảo, và thông qua
miền Diffserv.
Bảng 2.4: Các giá trị trường DSCP
DSCP value
Binary
Name
DSCP 0
000000
Default
DSCP 8
001000
CS1
DSCP 16
010000
CS2
DSCP 24
011000
CS3

DSCP 34
100010
DSCP 36
100100
DSCP 38
100110
DSCP 46
101110
CS : Class selector
EF : Expecdited forwarding
AF : Assured forwarding

CS6
CS7
AF11
AF12
AF13
AF21
AF22
AF23
AF31
AF32
AF33
AF41
AF42
AF43
EF

Hình 2.18: Các byte TOS của IP header định nghĩa DSCP.
Bảng 2.5: Các lớp AF

Các bit Exp (Experimental) trong header của gói MPLS tương tự như các bit
Precedence trong gói IP. Nếu dùng các bit này cho QoS, thì gọi là các đường chuyển
mạch nhãn E-LSP. Tuy nhiên khi sử dụng MPLS có nhiều tùy chọn cho việc thực hiện
QoS cho các gói được đánh nhãn. Một LSP là một đường đơn qua mạng giữa hai router.
Có thể sử dụng nhãn trên phần đầu của gói để hiển thị QoS. Tuy nhiên sau đó cần phải có
một nhãn trên mỗi lớp cho từng luồng lưu lượng giữa 2 điểm đầu cuối của LSP. Do đó
giao thức báo hiệu sẽ chỉ báo hiệu giữa các nhãn khác nhau cho cùng LSP hoặc prefix.
Khi LSP là loại L-LSP, nó sẽ chỉ thị một phần thông tin QoS. Các bit EXP sẽ chỉ lưu giữ
một phần thông tin QoS về độ ưu tiên mất gói. Còn với E-LSP lưu giữ đồng thời cả thông
tin về class và độ ưu tiên mất gói. Khi LSR chuyển các gói được đánh nhãn đi, nó cần tìm
kiếm nhãn trong bảng chuyển nhãn LFIB (Label forwarding table) để quyết định xem
chuyển gói đi đâu. Điều này cũng giống với cách làm việc của QoS. LSR chỉ cần nhìn
vào các bit EXP trong phần đầu nhãn để quyết định nên xử lý gói thế nào. Do QoS bao
gồm nhiều tính năng : đánh dấu lưu lượng, quản lý tắc nghẽn, tránh tắc nghẽn, đồng thời
QoS sử dụng các hàng đợi trể thấp LLQ, CBWFQ, WRED, các chính sách định dạng và
bắt giữ gói tin. Do đó, ta có thể sử dụng các tính năng của QoS dựa trên các bit EXP cho
các gói được đánh nhãn. Ví dụ : kiểu hàng đợi WRED có thể được chỉnh sửa theo bit
EXP để quyết định gói tin đã đánh nhãn nào sẽ bị loại bỏ khi ở trong hàng đợi.
2.3.2. Các kiểu Diffserv tunneling trong mạng MPLS
Diffserv Tunneling được biết đến như kiểu PHB (PerHop Behavior), cho phép QoS
được phân biệt trên từng chặng trong mạng của nhà cung cấp dịch vụ. Mạng MPLS hỗ
trợ Diffserv chia thành các loại tunneling sau :
 Kiểu Pipe tunnel
Trong kiểu Pipe thì thông tin Diffserv LSP không cần thiết phải bắt nguồn thông tin
tunnel diffserv trên đầu vào LSR. Trên LSR trung gian (Router P), thông tin LSP diffserv
của nhãn phía đầu ra được bắt nguồn từ thông tin LSP diffserv đầu vào.
Tại các LSR đầu ra, định hướng của gói tin dựa trên thông tin LSP diffserv, và các
thông tin này không được quảng bá thông tin tunnel diffserv.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status