Tài liệu tổ chức sắp xếp vốn tài liệu cho thư viện - Pdf 34

2010

Trường Đại học Đồng Nai

TỔ CHỨC – SẮP XẾP
VỐN TÀI LIỆU

Người biên soạn: Phạm Hồng Thái


Tổ chức – sắp xếp vốn tài liệu

Tổ chức, sắp xếp vốn tài liệu.
1. Vốn tài liệu – Bộ phận cấu thành thư viện
1.1. Khái niệm:
Vốn tài liệu là một khái niệm mới, nó được hình thành và hoàn
thiện vào TK 20.
Trước đó nó trùng với khái niện thư viện.
Phương Tây
Phương Đông
Biblio/theke (Hy Lạp cổ) Tàng thư lâu (Nhà Thương, Trung Quốc)
Nhà tàng thư Trần Phúc (1001- Nhà Lý)
Thiên Trường phủ tàng kinh (1295- Nhà
Trần)
Đầu thế kỷ 20 bắt đầu nhận ra sự khác biệt giữa vốn tài liệu và
thư viện.
Đầu tiên trong các tài liệu chuyên môn tại Đức, xuất hiện thuật
ngữ “Derfond”  Latin  Pháp: Fandus: có nghĩa là cơ sở, bệ,
đáy nền.
Giữa thế kỷ 20 khái niệm vốn tài liệu được hình thành: “Vốn tài
liệu là tổng hợp các xuất bản phẩm, các bản thảo và các tài liệu khác

đánh giá sự phát triển của xã hội loài người: “Số sách vỡ nhiều hay
ít cũng chứng tỏ trình độ văn hóa của một dân tộc thấp hay cao”.
1.2.2. Đối với thư viện
Vốn tài liệu là tiêu chuẩn hình thành thư viện cũng như xếp hạng
thư viện.
IFLA (Liên hiệp các hiệp hội thư viện thế giới) qui định, muốn
xây dựng TV công cộng phải có vốn tài liệu ban đầu là 6000 đơn vị
tài liệu.
Việt Nam: Điều 9, Pháp lệnh thư viện: thư viện được thành lập
khi có những điều kiện sau: Vốn tài liệu – Trụ sở-trang thiết bị –
Người có chuyên môn – Kinh phí
Theo thông tư số 56/2003/TT-BVHTT ngày 16/6/2003: Để xây
dựng thư viện tỉnh phải có 30.000 tài liệu đối với tỉnh đồng bằng và
20.000 tài liệu đối với tỉnh miền núi. Để xây dựng thư viện huyện
phải có 3000 tài liệu đối với các huyện đồng bằng, 2000 tài liệu đối
với miền núi.
 Vốn tài liệu là cơ sở cho mọi hoạt động của thư viện:
 Biên soạn thư mục: Chất lượng của thư mục biên soạn phụ
thuộc vào vốn tài liệu.
 Xây dựng CSDL: Số biểu ghi nhiều hay ít phụ thuộc vào vốn
tài liệu
 Khả năng thỏa mãn nhu cầu của độc giả phục thuộc rất lớn vào
vốn tài liệu.
 Vốn tài liệu giúp thư viện hình thành các chức năng phục vụ:
Tàng trữ, luân chuyển tài liệu …
2


Tổ chức – sắp xếp vốn tài liệu


định - Ý thức phục vụ và ý thức sử dụng thư viện tốt.
2.1.5. Theo dấu hiệu chức năng, nhiệm vụ.

3


Tổ chức – sắp xếp vốn tài liệu

 Kho chính (tổng kho) bao gồm tất cả tài liệu từ khi thành lập:
đây là kho tổng hợp đầy đủ nhất có khả năng đáp ứng nhu cầu
cao;
 Kho phụ phòng đọc;
 Kho phụ phòng mượn;
 Kho lưu động: phục vụ ngoài thư viện, hổ trợ cho các chi
nhánh
 Kho dự trữ, trao đổi: kho này không phục vụ, gồm các tài liệu
thừa, trùng bản, không phù hợp; …
 Thực tế:
 Thư viện công cộng phân chia:
Kho đọc (chính), mượn, kho báo, tạp chí, tra cứu, địa chí, lưu
động, dự trữ, ngoại văn…
 Thư viện đại học, cao đẳng thường chia theo: kho sách, báo
chí, tra cứu, giáo trình, tài liệu không công bố…
 Thư viện trường học, chia theo: kho sách giáo khoa, kho
nghiệp vụ, kho tham khảo…
3. Sắp xếp tài liệu:
Sắp xếp tài liệu là khâu cuối của chu trình sách trong thư viện,
nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng và bảo quản vốn tài liệu.
3.3.1. Yêu cầu:
 Thuận tiện cho việc sử dụng: Phải đảm bảo phục vụ nhanh,

thời
gian

Theo
Địa


Theo
ngôn
ngữ

Theo
Khổ

Theo
số
ĐK
CB

Theo
xếp
giá
Cố
định

3.3.2.1. Sắp xếp tài liệu theo nội dung:
 Ưu điểm :
 Tập trung được tài liệu theo môn loại hoặc chủ đề;
 Giúp người đọc dễ tìm tài liệu;
 Giúp cán bộ thư viện nắm vững thành phần của tài liệu trong

Các thư viện lớn thường xếp:
V: Tiếng Việt
L: Latin

Sắp xếp theo số đăng ký cá biệt: Đơn giản, dễ dàng, tiết kiệm
diện tích, kiểm kê thận lợi; nhưng nội dung bị phân tán.
Sắp xếp theo khổ cở:
- Khổ nhỏ hơn 19 cm (N)
- Khổ vừa từ 19 – 27 cm (V)
- Khổ lớn từ 27 cm trở lên (L)
Sắp xếp theo xếp giá cố định:
Ví dụ: M

 M: kho -- 15: vị trí 15 -- 20: Giá sách

Sắp xếp tài liệu phối hợp:
 Phân loại – chữ cái
 Khổ - Đăng ký cá biệt
Ví dụ: VN19822: Ngôn ngữ - Khổ - Đăng ký cá biệt
LV12345: Ngôn ngữ - Khổ - Đăng ký cá biệt
VL13245/99: Ngôn ngữ-Khổ-Đăng ký cá biệt-Thời gian
 Chữ cái – thời gian (đối với báo/ tạp chí)
Nhìn chung việc tổ chức và sắp xếp vốn tài liệu trong thư viện như
thế nào để: “Dễ tìm, dễ thấy, dễ lấy, dễ sử dụng và bảo quản”

6


Tổ chức – sắp xếp vốn tài liệu


- Những khoản ghi trong sổ ĐKTQ phải đầy đủ rõ ràng và chính
xác, không được tẩy xóa, sửa chữa. Nếu có sửa chữa phải được
người có trách nhiệm chứng nhận và ký tên ở phần phụ ghi.
- Biểu mẫu, sổ sách đơn giản nhưng phải thể hiện rõ những
thông tin cần thiết.
7


Tổ chức – sắp xếp vốn tài liệu

- Trong khi đăng ký,
4.3. Tác dụng của việc đăng ký tài liệu
- Đảm bảo tính đầy đủ và chính xác của tài liệu trong thư viện.
thông qua việc vào sổ, xáo sổ đăng ký mỗi một tài liệu của thư viện
sẽ có đầy đủ bằng chứng để tra cứu, ngăn ngừa tổn thất nhằm nâng
cao hiệu quả phục vụ.
- Thông qua việc đăng ký tài liệu có thể kịp thời phản ảnh tình
hình hoạt động của toàn thư viện, làm cơ sở để hoạch dịnh kế hoạch
công tác thư viện nói chung và kế hoạch xây dựng kho sách nói
riêng.
- Việc đăng ký tài liệu có thể nêu lên những thống kê gọn và
chính xác làm cơ sở để báo cáo, tổng kết công tác thư viện.
- Muốn phát huy được tác dụng của việc đăng ký tài liệu trong
thư viện cần phải xây dựng, kiện toàn chế độ đăng ký, làm cho việc
đăng ký đạt được yêu cầu vừa nghiêm ngặt vừa giản tiện, bảo đảm
được tính chính xác và tính hoàn chỉnh công tác đăng ký, tăng
cường an toàn cho tài sản để phát huy đầy đủ tác dụng của kho sách
thư viện vừa có thể tinh giản những hạng mục và trình tự không cần
thiết phải có trong công tác đăng ký là cho cán bộ thư viện được
giải phóng ra khỏi những công việc sự vụ hàng ngày để phục vụ cho

trạng kho tài liệu. Các chứng từ nhập xuất tài liệu phải được lưu lại
theo thứ tự nhập xuất trong sổ đăng ký tổng quát.
4.4.1.3. Đơn vị đăng ký tổng quát là những chứng từ, tài liệu nhập
vào thư viện.
- Tài liệu mua phải có hoá đơn,
- Tài liệu lưu chiểu phải có phiếu nộp lưu chiểu của các cơ quan
xuất bản,
- Tài liệu được tặng hoặc tài trợ phải có chứng từ của nơi tặng,
tài trợ.
- Nếu có lô tài liệu nhập vào thư viện chưa hoặc không có chứng
từ, thư viện phải lập biên bản để làm chứng từ cho việc đăng ký
tổng quát.
Lưu ý:
- Tài liệu ngoại văn chỉ có giá bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra
tiền Việt Nam theo tỷ giá hối đoái văn hoá phẩm phi mậu dịch.
- Tài liệu không có giá có thể giải quyết theo 2 cách:
Thư viện lập hội đồng định giá, dựa vào giá thị trường để định
giá cho xác thực
Thư viện quy định giá trang in tài liệu để tính giá cho tài liệu đó.
4.4.1.4. Cách ghi vào sổ ĐKTQ:
 Sổ ĐKTQ chung cho toàn thư viện: (mẫu 1)
Toàn bộ tài liệu nhập xuất của thư viện phải được ghi đầy vào
Sổ ĐKTQ chung cho toàn thư viện trong đó có ghi lại sự phân phối
cho các kho, các nguồn bổ sung, loại hình tài liệu, ngôn ngữ, …
9


Tổ chức – sắp xếp vốn tài liệu

Nội dung sổ ĐKTQ của toàn thư viện gồm:

thứ tự có thể được ghi bắt đầu từ số 1 mỗi năm. Nếu số lần nhập tài
liệu mỗi năm ít thì có thể ghi liên tục từ năm này sáng năm khác.
Thư viện cũng có thể quy định thời gian cho việc ghi số thứ tự phù
10


Tổ chức – sắp xếp vốn tài liệu

hợp với thư viện mình. Số thứ tự trong sổ ĐKTQ gọi là số tổng
quát, số này được ghi vào chứng từ kèm theo và chứng từ được sắp
xếp theo số tổng quát của từng năm để xác định đã nhập, được lưu
lại và dễ kiểm tra khi cần.
Cột 3. Nguồn cung cấp: Ghi cơ quan phát hành, nhà sách hoặc
tên người/ cơ quan tặng/ tài trợ.
Cột 4. Số và ngày của chứng từ: Căn cứ vào:
- Số và ngày được ghi trên hoá đơn.
- Số và ngày được ghi trên phiếu nộp lưu chiểu
- Số và ngày được ghi trên chứng từ tặng hoặc tài trợ
- Sách nhập không chứng từ thì ghi số biên bản và ngày lập biên
bản.
Cột 5. Tổng số sách báo: Ghi số lượng chung
Cột 6. Có bao nhiêu báo: Trong trường hợp tài liệu nhập có cả
báo thì ghi cụ thể trong tổng số có bao nhiêu báo, tạp chí.
Cột 7. Giá tiền: Phải ghi đúng và đầy đủ.
Cột 8 đến cột 19. Phân loại tài liệu theo nội dung: ghi số lượng
tài liệu đã phân loại theo nội dung vào các cột tương ứng. Khi phân
tài liệu theo nội dung cần kiểm tra xem tổng số cộng từ cột 8 đến
cột 19 phải bằng số lượng ở cột 5.
Cột 20 đến 23. Phân loại theo ngôn ngữ. Có thể tùy theo từng
thư viện để phân loại theo ngôn ngữ. Tổng số cộng từ cột 20 đến cột

Cột 24 đến 27. Ghi số lượng tài liệu xuất kho theo từng lý do.
Phần III. Tình hình kho tài liệu hàng quý, hàng năm. Cho biết
hiện trạng của kho tài liệu theo từng thời điểm.
Mỗi quý, mỗi năm phải sơ kết các phần nhập, xuất; sau đó ghi
vào phần III. Sự chênh lệch giữa phần nhập và phần xuất sẽ chỉ rõ
hiện trạng tài liệu thực tế trong thư viện. (mẫu 4)
Ví dụ: Hiện còn đến …
Quý … Nhập
Quý … xuất …
Hiện còn đến …
4.4.2. Đăng ký cá biệt (ĐKCB):
Đăng ký cá biệt là cung cấp thông tin cụ thể, chi tiết về từng tài
liệu trong thư viện. Tài liệu sau khi được đăng ký tổng quát, sẽ được
đăng ký từng tài liệu vào sổ đăng ký riêng. Sổ này được gọi là sổ
ĐKCB.
 Số ĐKCB: là số liên tục – không được đảo số, nhảy số
 Trong sổ ĐKCB được đăng ký bằng ngôn ngữ xuất bản của tài
liệu.
Thống nhất đơn vị đăng ký.
+ Quyển (cuốn) sách
+ Tạp chí > 49 tr = 1 đơn vị;
12


Tổ chức – sắp xếp vốn tài liệu

+ Báo Đóng tập hàng tháng (chưa thống nhất).
Có nhiều hình thức ĐKCB.
4.4.2.1. Sổ ĐKCB của các thư viện thuộc Bộ Văn Hoá: qui định
một mẫu đăng ký thống nhất như sau: (mẫu 5)

13


Tổ chức – sắp xếp vốn tài liệu

Nếu tên tài liệu quá dài, có thể ghi lược những chữ đầu và 3
chấm, hoặc ghi những chữ đầu + 3 chấm + những chữ cuối.
Ví dụ: Tên tài liệu là “Bộ luật lao động và quy định mới về tiền
lương bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế” có thể ghi:
“Bộ luật lao động và quy định mới về tiền lương …
Hoặc: “Bộ luật lao động … bảo hiểm y tế”
Cột 4: kiểm kê. Gồm một số cột nhỏ để sử dụng khi có đợt kiểm
kê kho tài liệu. Ghi 2 số cuối của năm kiểm kê. Nếu không tiến
hành kiểm kê bằng số đăng ký cá biệt thì không ghi vào các cột này.
Cột 5: Xuất bản. Gồm:
- Nơi xuất bản: là tên địa phương mà cơ quan xuất bản đóng ở
đó. Nơi xuất bản thường được ghi ở trang bìa và trang tên sách gần
tên nhà xuất bản.
Nếu nơi xuất bản không tìm thấy trong tài liệu mà cán bộ thư
viện tìm được bên ngoài thì ghi trong ngoặc vuông [ ]
Nếu tài liệu có hai nơi xuất bản thì ghi cả hai nơi giữa dấu gạch
nối (-)
Nếu tài liệu có từ 3 nơi xuất bản trở lên thì ghi tên nơi xuất bản
quan trọng và chấm 3 chấm (…)
Trường hợp không tìm được nơi xuất bản thì ghi chữ KĐ
(Không địa điểm xuất bản)
Một số nơi xuất bản có chữ viết tắt thông dụng thì ghi chữ viết
tắt như:
H. : Hà Nội
TP. HCM. : Thành phố Hồ Chí Minh

lúc đăng ký hoặc lý do xuất kho,…
Lưu ý:
- Đối với những tài liệu giống nhau khi đăng ký có thể không
nhắc lại mà có thể ghi gạch ngang (-) hoặc dấu sao (*),…
- Trong các cột nếu dòng trên và dòng dưới giống nhau cũng có
thể không ghi nhắc lại mà có thể ghi gạch ngang (-) hoặc dấu sao
(*), … Trừ cột giá tiền.
- Tài liệu nhiều tập phải ghi rõ số tập.
- Chữ viết trong sổ ĐKCB phải được viết theo chữ in, rõ ràng,
sạch sẽ.
- Trong khi đăng ký, nếu phát hiện những sai sót mà không thể
sửa chữa ngay được như trùng số, nhảy số,… thì phải ghi vào cuối
sổ có chữ ký chứng nhận của người có trách nhiệm phụ trách thư
viện.
- Cột giá tiền cuối trang không cộng lại
- Đối với cột môn loại chỉ ghi ký hiệu môn loại chính theo quy
định trong phân loại.
15


Tổ chức – sắp xếp vốn tài liệu

- Việc thay sổ ĐKCB mới cần phải có quyết định của cơ quan
quản lý cấp trên trực tiếp của thư viện về việc đăng ký lại kho tài
liệu. Khi đăng ký lại cũng tiến hành từ tài liệu đầu tiên hiện đang
còn trong kho trở đi, lấy từng tài liệu xóa số ĐKCB cũ và ghi số
ĐKCB mới vào. Giá tiền ghi theo giá cũ, các cột kiểm kê, ngày và
biên bản xuất để trống. Các sổ ĐKCB cũ vẫn phải giữ lại làm chứng
từ.
- Sổ ĐKCB là tài liệu rất quan trọng của thư viện nên phải được

Tổ chức – sắp xếp vốn tài liệu

loại, mô tả sẽ được ghi trên mặt trước một phiếu chính làm phiếu
ĐKCB. Mặt sau phiếu này sẽ ghi lại số lượng tài liệu được phân
phối cho các kho; số tổng quát của chứng từ, chứng từ xuất kho.
(mẫu 8)
Phương pháp này có những ưu và nhược điểm sau:
Ưu điểm:
- Nếu dùng để đăng ký tài liệu trong một mạng lưới thư viên
hoặc một thư viện lớn se giúp người sử dụng thư viện dễ tìm tài liệu
của trong các kho hoặc thư viện chi nhánh;
- Bảo đảm mô tả, phân loại thống nhất, thống kê chính xác;
- Thời gian xử lý tài liệu được rút ngắn và tập trung.
Nhược điểm:
- Quản lý bằng phiếu rất phức tạp;
- Nếu kho tài liệu sắp xếp theo số ĐKCB sẽ không thuận lợi.
4.4.2.3. Phương pháp đăng ký bằng máy tính:
Hiện nay nhiều thư viện tự động hoá đã ứng dụng tin học vào
việc quản lý hệ thống thông tin-thư viện. Mỗi tài liệu khi nhập vào
kho sẽ được biên mục và xếp giá vào các kho theo các ký hiệu
riêng. Tất cả những dữ liệu này được lưu trữ trong CSDL, tích hợp
với nhiều phân hệ để việc phục vụ tra cứu thuận lợi. Với sự hổ trợ
của công nghệ thông tin, hoạt động thư viện hiện nay có được rất
nhiều thuận lợi trong các khâu công tác từ bổ sung, quản lý, thống
kê, tra cứu, phục vụ, …
4.4.3. Đăng ký báo và tạp chí
Báo chí là ấn phẩm định kỳ nên được nhập kho liên tục. Đăng
ký báo chí có thể chia làm các giai đoạn:
4.4.3.1. Đăng ký nhan đề báo chí: Báo và tạp chí khi thư viện đặt
mua phải được đăng ký vào sổ để theo dõi.

Phương pháp theo dõi báo hàng ngày: Ngày có báo nhập sẽ được
ghi bằng số, ngày không phát hành để trống hoặc gạch chéo ô tương
ứng.
 Phiếu theo dõi tạp chí: Tạp chí thường phát hành theo chu kỳ
khác nhau, việc theo dõi tạp chí theo mẫu (mẫu 7) gồm 2 phần:
Phần I. Mô tả tạp chí
Tên tạp chí.
Cơ quan biên tập
Năm bắt đầu.
Năm thư viện có
ISSN:
Phần II. Gồm:
Cột dọc. Các năm

18


Tổ chức – sắp xếp vốn tài liệu

Dòng ngang: Các tháng trong năm và cột ghi chú để ghi các số
đặc biệt và các số chỉ dẫn.
4.4.3.3. Đăng ký các tập báo chí được đóng thành tập: báo chí
nhập và sử dụng một thời gian nhất định TV sẽ đóng thành tập theo
qui định. Những tập báo chí được coi là đơn vị đăng ký và có thể
tiến hành đăng ký cá biệt.

19


Tổ chức – sắp xếp vốn tài liệu

phải lập biên bản, trên những chứng từ, biên bản đã kiểm tra, người
nhận phải ký tên và đóng dấu thư viện vào.
Vì tài liệu có liên quan đến chế độ kế toán, tài chánh nên các chứng
từ, hoá đơn phải được lưu giữ cẩn thận.
5.2. Sửa chữa nhỏ: Ngay sau khi nhận tài liệu, viên chức thư viện
phải xử lý sơ bộ như như rọc các trang dính; đóng, dán bìa bọc
20


Tổ chức – sắp xếp vốn tài liệu

ngoài, dán các bản đính chính vào tài liệu, sửa chữa những chổ hư
hỏng của tài liệu để chuẩn bị cho các bước tiếp theo trước khi đưa
vào sử dụng.
5.3. Đóng dấu:
Chỉ đóng dấu những tài liệu nhập vào thư viện. Ý nghĩa của việc
làm này là xác định chủ quyền của tài liệu thuộc về thư viện nào và
cố định chúng vào thư viện đó.
- Tài liệu sau khi đóng dấu trở thành tài sản của Nhà nước.
- Tránh nhầm lẫn tài liệu giữa các thư viện.
- Giúp cán bộ thư viện kiểm tra tài liệu thuộc thư viện mình.
- Xác định tài liệu thuộc các kho.
Dấu được đóng ở trang tên sách trên những yếu tố xuất bản. Đối
với những tài liệu quí hiếm dấu được đóng ở mặt sau của trang tên
sách. Dấu thứ hai được đóng ở trang 17 (hoặc ở một trang khác)
theo qui định của thư viện. Nếu tài liệu có các phụ bản rời thì các
phụ bản phải được đóng dấu. Nếu tài liệu không đủ 17 trang thì dấu
thứ hai được đóng ở trang trước của trang cuối cùng. Ở một số thư
viện có thể quy định đóng dấu thứ hai ở trang 21, 25, trang 45, hoặc
đóng ở 3 cạnh của tài liệu.


510

H407S


510
T406H

Tên Tài liệu: Toán học cao cấp/ tác giả: Hoàng
Xuân Sính
Ký hiệu xếp giá sẽ có thể là:
Hoặc  510: Số phân loại toán học
H 407: Hoàng: H là phụ âm đầu của họ (đơn hoặc
kép), Ghép với 407: ký hiệu cố định: oang trong
bảng chữ cái tên tác giả hoặc tên sách. Ghép với X
là âm đầu của tên hoặc tên đệm  H407S
Hoặc  510: Số phân loại toán học
T 406: Toán: T là phụ âm đầu tiên (đơn hoặc kép)
của từ đầu tiên tên tài liệu. Ghép với 406: số cố
định oan trong bảng chữ cái tên tác giả hoặc tên
sách. Sau đó lấy âm đầu tiên của chữ thứ hai của
tên tài liệu ghép sau số cố định: H (Các phụ âm
trước và sau đều viết hoa)  T406H

Nếu thư viện dùng dấu hoặc nhãn ký hiệu xếp giá thì phải đóng
dấu hoặc dán nhãn vào vị trí qui định cho ký hiệu xếp giá.
5.6. Dán nhãn: Giúp cho việc sắp xếp tài liệu trong kho và tìm
kiếm tài liệu được dễ dàng.
Nhãn sách phải được viết bằng mực không phai, rõ ràng. Đối với

còn là biện pháp để đẩy mạnh các hoạt động thư viện, vì qua kiểm
kê có thể phát hiện ra những sai sót trong quá trình xử lý kỹ thuật,
trong quá trình lưu hành, trong bảo quản,… Trên cơ sở đó thư viện
mới có thể hoàn thiện các khâu công tác, nâng cao hiệu quả phục vụ
trong hoạt động thư viện.
6.2. Yêu cầu:
 Phát hiện những sai sót trong khâu kỹ thuật, nghiệp vụ; những
tài liệu hư hỏng, mất mác.
 Ổn định trật tự vốn tài liệu
 Chấn chỉnh lại hệ thống mục lục, phản ảnh đúng nội dung vốn
tài liệu

23


Tổ chức – sắp xếp vốn tài liệu

6.3. Phân loại:
 Kiểm kê định kỳ: Qui định thời gian kiểm kê
Ví dụ: Ở Nga:
Kho tài liệu nhỏ hơn 10.000 TL kiểm kê 2 năm/lần
Kho tài liệu từ 10.000 – 50.000TL kiểm kê 3 năm/lần
Kho tài liệu lớn hơn 50.000 TL kiểm kê 5 năm/lần
 Kiểm kê đột xuất:
+ Theo qui định của Nhà nước
+ Thiên tai, hỏa hoạn.
+ Thay đổi viên chức thư viện
6.4. Các hình thức kiểm kê
 Kiểm kê từng bộ phận
 Kiểm kê đồng bộ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status