Lớp Học Phần VNUA ( Khoa Nông Học ) - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
/>CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU
TẦM QUAN TRỌNG, TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ, HƯƠNG HƯỚNG, GIẢI
PHÁP PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN LOẠI CÂY ĂN QUẢ
1.1. Ý nghĩa của nghề trồng cây ăn quả
- Cung cấp dinh dưỡng:đường, a xít hữu cơ, protein, lipid, chất khoáng, các loại
vitamin (A, B1, B2, C, PP).
- Cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến
- Tác dụng chữa bệnh: cao huyết áp, tim mạch, suy nhược thần kinh, dạ dày, bệnh về
đường tiêu hóa (kiết lỵ), tăng k/n đề kháng, chống nhiễm xạ, giảm nguy cơ ung thư.
- Tác dụng cải thiện, bảo vệ môi trường, làm đẹp cảnh quan, làm rừng phòng hộ, là cây
trồng quan trọng trong các hệ thống sản xuất nông –lâm kết hợp.
- Là nguồn cung cấp mật có chất lượng cao, thúc đẩy nghề nuôi ong phát triển.
- Cải thiện thu nhập cho nông hộ: thu nhập từ sản xuất CĂQ > gấp 3-5 lần trồng lúa.
1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ quả trên thế giới
1.2.1. Sản xuất cây ăn quả trên thế giới
- Có từ lâu đời: Trung Quốc, Ấn Độ (3000-4000 năm).
- Phổ biến ở các châu lục với 3 nhóm quả: nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới.
- 2004 DT CĂQ thế giới: 52 triệu ha, SL: 497,4 triệu tấn/năm. Châu Á là nơi có DT lớn
nhất: 24,2 triệu ha, SL: 218,7 triệu tấn (bảng 1). Về NS châu Mỹ cao nhất: 15 tấn/ha,
châu Phi thấp nhất: 6,7 tấn/ha.
- Các loại quả chủ yếu: nho, cam quýt, táo tây, chuối, dứa, xoài.
Bảng 1. Diện tích, năng suất, sản lượng quả trên thế giới
Châu lục
DT (tr.ha)
Toàn thế giới
52,07
1
Châu Âu
9,36
STT
SL (tr. tấn)
497,4
78,7
60,4
70,0
63,1
218,7
6,5
6,6
Bảng 2. Các nước sản xuất chuối hàng đầu thế giới, năm 2004
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
Châu lục
Toàn thế giới
Ấn độ
Brazil
Philippin
Inđônêxia
Sản lượng (triệu
tấn)
70,6
16,8
6,6
5,5
4,4
1,6
6,2
5,9
1,8
Lớp Học Phần VNUA ( Khoa Nông Học ) - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
/>
9
10
Uganda
Saint Lucia
Việt nam
135
120
100
4,5
10
12,2
Achentina
Việt nam
Diện tích thu hoạch
(1000 ha)
7.391
939
730
524
430
302
265
227
200
175
145
79,5
Năng suất (tấn/ha)
14,6
21,9
4,5
12,4
34,7
20,18
17,8
16,7
7,12
16,83
15,4
0,89
2
Ấn độ
90
14,4
1,3
3
Inđônêxia
85
8,24
0,7
4
Thái lan
80
21,3
1,7
5
Trung Quốc
65.5
22,5
1,47
6
Brazil
55
26,2
1,44
7
Philippin
46
35,9
Châu lục
2
Lớp Học Phần VNUA ( Khoa Nông Học ) - Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
/>-
Nhập khẩu chuối của các nước phát triển tăng 1-2%/năm trong những năm tới, trong
đó Canada, Hoa Kỳ chiếm 80% mức tăng trưởng,
EU vẫn là khu vực nhập khẩu chuối chủ yếu.
I. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH SẢN XUẤT
Diện tích cây ăn quả cả nước trong thời gian qua tăng khá nhanh, năm 2005 đạt 766,9 ngàn ha
(so với năm 1999 tăng thêm ngàn ha, tốc độ tăng bình quân là 8,5%/năm), cho sản lượng 6,5
triệu tấn (trong đó chuối có sản lượng lớn nhất với khoảng 1,4 triệu tấn, tiếp đến cây có múi:
800 ngàn tấn, nhãn: 590 ngàn tấn). Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích cây ăn quả
lớn nhất (262,1 ngàn ha), sản lượng đạt 2,93 triệu tấn (chiếm 35,1% về diện tích và 46,1% về
sản lượng).
Do đa dạng về sinh thái nên chủng loại cây ăn quả của nước ta rất đa dạng, có tới trên 30 loại
cây ăn quả khác nhau, thuộc 3 nhóm là: cây ăn quả nhiệt đới (chuối, dứa, xoài…), á nhiệt đới
(cam, quýt, vải, nhãn…) và ôn đới (mận, lê…). Một trong các nhóm cây ăn quả lớn nhất và
phát triển mạnh nhất là nhãn, vải và chôm chôm. Diện tích của các loại cây này chiếm 26%
tổng diện tích cây ăn quả. Tiếp theo đó là chuối, chiếm khoảng 19%.
Trên địa bàn cả nước, bước đầu đã hình thành các vùng trồng cây ăn quả khá tập trung, cho
sản lượng hàng hoá lớn; Một số vùng cây ăn quả tập trung điển hình như sau:
+ Vải thiều: vùng vải tập trung lớn nhất cả nước là Bắc Giang (chủ yếu ở 3 huyện Lục Ngạn,
Lục Nam và Lạng Giang), có diện tích 35,1 ngàn ha, sản lượng đạt 120,1 ngàn tấn. Tiếp theo
3
khoảng 4,5 ngàn tấn. Tỉnh Bến Tre là nơi có diện tích tập trung lớn nhất: 4,2 ngàn ha (chiếm
76,8% diện tích cả nước). Tuy măng cụt là sản phẩm rất được giá trên thị trường nhưng việc
mở rộng diện tích loại cây này hiện nay đang gặp nhiều trở ngại do thời gian kiến thiết cơ bản
dài (5-6 năm), là cây thân gỗ lớn, chiếm nhiều diện tích đất và chỉ thích hợp với đất mầu ở các
cù lao.
+ Dứa: đây là một trong 3 loại cây ăn quả chủ đạo được khuyến khích đầu tư phát triển trong
thời gian vừa qua nhằm phục vụ xuất khẩu. Các giống được sử dụng chính bao gồm giống
Queen và Cayene; trong đó giống Cayene là loại có năng suất cao, thích hợp để chế biến
(nước quả cô đặc, nước dứa tự nhiên…). Các địa phương có diện tích dứa tập trung lớn là
Tiền Giang (3,7 ngàn ha), Kiên Giang (3,3 ngàn ha); Nghệ An (3,1 ngàn ha), Ninh Bình (3,0
ngàn ha) và Quảng Nam (2,7 ngàn ha).
Ngoài ra, còn có một số loại cây ăn quả khác cũng có khả năng xuất khẩu tươi là: Sầu riêng
cơm vàng hạt lép, Vú sữa Lò rèn, Nhãn xuồng cơm vàng... Tuy nhiên, những loại này có diện
tích và sản lượng còn rất khiêm tốn (ví dụ diện tích của Nhãn xuồng cơm vàng mới chỉ có 200
ha, tập trung ở Bà Rịa-Vũng Tầu), không đủ tiêu thụ trong nước và giá bán trong nước thậm
chí còn cao hơn giá xuất khẩu..
Về chủng loại các trái cây có lợi thế cạnh tranh, Bộ Nông nghiệp và PTNT xác định 11 loại
trái cây có lợi thế cạnh tranh, bao gồm: Thanh long, Vú sữa, Măng cụt, Cây có múi (Bưởi,
Cam sành), Xoài, Sầu riêng, Dứa, Vải, Nhãn, Dừa và Đu đủ
Theo đề án qui hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản cả nước đến
năm 2010 và tầm nhìn 2020 mới nhất của Thủ tướng Chính phủ thì trong đó, đối với cây ăn
quả Chính phủ định hướng: Trong những năm tới mở rộng diện tích 11 loại cây ăn quả có lợi
thế; riêng đối với nhãn, vải chỉ trồng mới bằng các giống rải vụ, chất lượng cao và cải tạo
vườn tạp. Diện tích cây ăn quả đến năm 2010 đạt 1 triệu ha, tầm nhìn năm 2020 khoảng 1,3
triệu ha. Bố trí chủ yếu ở Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng Sông Cửu Long, Đông nam
bộ, Đồng bằng Sông Hồng và một số vùng khác có đủ điều kiện.
5 nghìn ha so với năm 2005 và đạt kim ngạch xuất khẩu rau quả phấn đấu đạt 330 triệu USD.
Để đạt mục tiêu này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tập trung phát triển các loại
cây ăn quả có lợi thế như loại cây có múi gồm cam, quýt, bưởi; dứa, xoài, nhãn, vải, thanh
long, sầu riêng, măng cụt, vú sữa. Phát triển các giống cây ăn quả chất lượng cao, đặc sản ở
các vùng như cam, quýt (Canh, Cần Thơ), bưởi (Phúc Trạch, Đoan Hùng, Năm Roi), Xoài cát
(Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang), quýt hồng (Đồng Tháp).
Tuy nhiên, diện tích các vùng chuyên canh còn chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng diện tích 755.000
ha cây ăn quả hiện có trên cả nước; phần lớn diện tích vẫn là vườn tạp, phát triển theo quy mô
hộ gia đình. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự không ổn định của xuất khẩu là do quy
hoạch chưa có trọng tâm, chưa tập trung tối ưu để tạo ra những vùng sản xuất có tính cạnh
tranh. Số vùng chuyên canh như vải thiều Bắc Giang, vú sữa Lò Rèn, thanh long Bình Thuận,
nho Ninh Thuận còn quá ít nên khi khách hàng cần sản lượng lớn, thời gian giao hàng ngắn
thì khó có thể thu gom đủ. Ngoài ra, do giống và quy trình chăm sóc không đồng đều, nguồn
nguyên liệu lại không ổn định, ảnh hưởng đến chất lượng chế biến.
2. NHỮNG TỒN TẠI
Bên cạnh một số thành tựu nhất định, hệ thống chính sách của Việt Nam nói chung, nông
nghiệp nói riêng còn nhiều bất cập, việc ban hành chính sách thiếu sự đồng bộ, không có tính
chiến lược mà thường mang tính giải quyết tình thế.
Nhiều chính sách còn chưa thực sự cụ thể hoá, mức độ phát huy hiệu lực còn rất hạn chế do
không đủ các nguồn lực về tài chính, trình độ quản lý, thủ tục rườm rà, khó vận dụng: Nghị
quyết 09 của Chính phủ về một số chủ trương và chính sách chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
và tiêu thụ sản phẩm chưa có hướng dẫn và chính sách cụ thể; Quyết định 80 về khuyến khích
tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng chưa cụ thể hoá các quy chế hỗ trợ về cơ sở
hạ tầng, thuỷ lợi, xúc tiến thương mại, khuyến nông... và chế tài xử phạt các trường hợp vi
phạm hợp đồng nên khi triển khai còn gặp nhiều lúng túng, hiệu lực chưa cao;...
Quá trình xây dựng và thực thi chính sách chưa quan tâm đúng mức đến việc lấy ý kiến rộng
rãi của các thành phần kinh tế khác nên các doanh nghiệp Nhà nước thường được hưởng lợi
nhiều hơn, do đó chưa thực sự tạo được “sân chơi bình đẳng” trong môi trường kinh doanh
cho mọi thành phần kinh tế.
Trong sản xuất và tiêu thụ nông sản, các chính sách của Nhà nước dường như vẫn quan tâm
thấp, không đủ cho các nhà máy. Những nơi dân tự trồng thì rải rác, phân tán, diện tích manh
mún, chủng loại không ổn định, chất lượng không đồng đều. Việc thực hiện chủ trương đa
dạng hoá nông nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm chưa được
nhiều.
Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn từ nguồn ngân sách Nhà nước thiếu sự
cân đối giữa các ngành hàng, nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế (TD: đầu tư phát
triển thuỷ lợi chủ yếu tập trung cho cây lúa, phần lớn diện tích cây ăn quả chưa có công trình
thuỷ lợi). Sự chuyển biến trong điều chỉnh cơ cấu đầu tư còn chậm, chưa thực sự phù hợp với
yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn.
Môi trường đầu tư còn nhiều hạn chế (thiếu tính chiến lược, định hướng thu hút đầu tư nước
ngoài; chi phí đầu tư cao; hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư nước
ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn còn nhiều bất cập; thủ tục hành chính
rườm rà...) nên chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực
này. Do đó, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn còn hết sức
hạn chế và có xu hướng giảm sút trong những năm gần đây, chưa tương xứng với tiềm năng
cũng như thế mạnh phát triển của nông nghiệp Việt Nam. Hiệu quả thực hiện các dự án trong
lĩnh vực này còn rất nhỏ so với hoạt động đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực khác. Ngoài
một số dự án sản xuất giống, chế biến nông sản..., nhìn chung các dự án đầu tư nước ngoài
trong lĩnh vực này triển khai chậm do khó khăn về thủ tục cấp đất, nguồn nguyên liệu...
Nguồn vốn tín dụng đầu tư Nhà nước dành cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn còn thấp so
với yêu cầu, theo đánh giá chung mới chỉ đáp ứng khoảng 40% nhu cầu vay vốn của các tổ
chức kinh tế, hộ gia đình. Đặc biệt, các doanh nghiệp tư nhân, HTX và hộ nông dân tiếp cận
nguồn vốn này còn rất ít. Tỷ lệ hộ nông dân được vay vốn tín dụng ngân hàng khoảng 70%,
lại gặp nhiều vướng mắc trong các quy định về thế chấp, thu hồi nợ. Việc cho vay ưu đãi
được thực hiện qua nhiều đầu mối (Quỹ Hỗ trợ phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT,
Ngân hàng Chính sách xã hội) với mức lãi suất khác nhau nên người nông dân khó nhận biết
đầy đủ để tiếp cận nguồn vốn.
Hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn
sản xuất, chưa thực sự bám sát yêu cầu thị trường. Cơ chế quản lý KHCN chậm đổi mới, chưa
có chính sách và biện pháp hữu hiệu để huy động các nguồn lực và sử dụng có hiệu quả
cơ bản đã hoàn thành, tuy nhiên việc xây dựng hệ thống tiêu chuẩn VSATTP còn chậm, thiếu
đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý và và các tiêu chuẩn quốc tế. Hệ
thống cơ quan quản lý Nhà nước về VSATTP còn yếu, phân tán, chưa phối hợp chặt chẽ giữa
các Bộ ngành.
Việc thực hiện ký kết hợp đồng sản xuất, tiêu thụ nông sản theo Quyết định 80 của Chính phủ
vẫn còn nhiều bất cập. Nhà nước chưa tạo được một hành lang pháp lý phù hợp cho việc giải
quyết tranh chấp trong liên kết giữa các nhà, đặc biệt là vấn đề hợp đồng sản xuất và tiêu thụ
sản phẩm giữa nhà doanh nghiệp và nhà nông. Các chính sách về tín dụng, vốn sản xuất, đầu
tư cơ sở hạ tầng, giống mới, khoa học kỹ thuật…theo QĐ 80 chưa được các cấp, các ngành
triển khai đồng bộ, chưa khai thông. Đối với những trường hợp thiệt hại do các nguyên nhân
bất khả kháng (như thiên tai, dịch bệnh), Nhà nước chưa có chính sách cụ thể để hỗ trợ cho
các bên tham gia hợp đồng.
Các chương trình xúc tiến thương mại hiện nay vẫn chưa chú trọng vào phát triển thị trường
phi truyền thống trong khi chính những thị trường này mới là những thị trường mà Nhà nước
cần hỗ trợ xúc tiến thương mại để các doanh nghiệp có thể thâm nhập thị trường.
Hiện nay các hoạt động đàm phán để ký kết các thoả thuận hoặc các hiệp định về thương mại
rau quả của Việt Nam còn chậm và cần phải triển khai mở rộng cũng như đẩy nhanh tiến độ
của các hoạt động nay thông qua đàm phán ký kết các FTA hoặc các hiệp định về buôn bán
rau quả với một số thị trường trọng điểm như Trung Quốc, Nhật Bản, EU và Hoa Kỳ…Do
chưa ký kết được thoả thuận song phương về buôn bán rau quả với một số thị trường, đặc biệt
là với Trung Quốc nên rau quả của Việt Nam hiện nay rất kém cạnh tranh với rau quả của
những nước đã có thoả thuận cắt giảm thuế quan như Thái Lan tại thị trường quốc tế. Đây là
một trong những rào cản đối với rau quả của Việt Nam. Chính phủ Trung Quốc cũng thắt chặt
hoạt động kiểm soát rau quả nhập khẩu sau khi Trung Quốc gia nhập WTO tạo thêm khó khăn
cho rau quả xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này.
Công tác dự báo thị trường, tổ chức thu thập và xử lý thông tin đã có những tiến bộ đáng kể
nhưng còn rời rạc, chậm về thời gian, thiếu hệ thống từ cơ sở vật chất đến phương thức tổ
chức, nghèo nàn về nội dung, chưa thực sự trở thành một công cụ mạnh để chỉ đạo, hướng
dẫn sản xuất. Do thiếu thông tin về thị trường nên người sản xuất rất lúng túng trong việc
quyết định đầu tư nên trồng cây gì? qui mô ra sao? để có hiệu quả. Thị trường chưa thực sự
Có mùa đông lạnh và mùa hè nóng ẩm. Nhiệt độ bình quân tháng lạnh nhất trong năm (tháng
giêng) trong phạm vi 13 – 18o C. Phân hóa mầm hoa cần có số giờ lạnh thấp. Cây ăn quả tiêu
biểu: mận, hồng, vải, nhãn á nhiệt đới (nhãn chín muộn Hưng Yên, nhãn Ido Thái Lan)…
1.3. Vùng cây ăn quả ôn đới: Mùa đông dài, có băng tuyết, mùa hè mát. Cây ăn quả cần một
thời kỳ ngủ đông dài (để phân hóa mầm hoa). Cây ăn quả tiêu biểu của vùng: táo, lê, anh đào,
đào, mận. Yêu cầu độ lạnh thấp để phân hóa mầm hoa của các loại cây trên thường trong
khoảng 300 CU trở lên (CU- Chilling Unit = đơn vị đo độ lạnh = số giờ có nhiệt độ từ 70 C và
thấp hơn).
Ngoài 3 vùng chính nêu trên, còn có vùng CAQ ôn đới độ lạnh thấp. Với mùa đông có lúc
xuống dưới 00C và đôi khi có tuyết. Cây ăn quả chính của vùng là: lê, đào, mận, hồng, với yêu
cầu độ lạnh vài chục CU đến 150-200 CU.
Một số loại CAQ không có yêu cầu chặt chẽ về khí hậu nhiệt đới hay á nhiệt đới như ổi,
chuối, na, hồng xiêm, mít. Cây ăn quả có múi là nhóm cây thích nghi rộng nhất: nhiệt đới, á
nhiệt đới và cả một số tiểu vùng ôn đới như Địa Trung hải.
Xoài và nhãn có dòng nhiệt đới và dòng á nhiệt đới như đã nêu ở trên.
2. Phân vùng cây ăn quả theo khí hậu Việt Nam
Khí hậu Việt Nam được xác định là nhiệt đới nhưng lại chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc
lạnh từ lục địa Siberia, gió mùa Tây nam và Đông nam Á nên đã không còn thuần túy là nhiệt
đới. Do vậy, khí hậu đa dạng và được phản ánh trong Bảng 1.
So sánh các tiêu chí xác định vùng CAQ theo khí hậu cũng như đặc điểm thời tiết của 7 vùng
sinh thái trong Bảng 1 chúng ta có thể xác định vùng CAQ cho từng vùng sinh thái nông
nghiệp như sau:
Bảng 1: Một số đặc điểm khí hậu 7 vùng nông nghiệp sinh thái Việt Nam
Địa điểm
Độ cao
Vĩ độ Bắc
Nhiệt độ TB
21,5
14,0 (T1)
III - IX
X - II
1445
Lạng Sơn
259
21,50
21,3
13,7 (T1)
III - IX
X - II
1400
Hà Giang
118
676
21,20
21,0
14,5(T1)
III - IX
X - II
1419
Điện Biên
550
21,22
22,0
16,3(T1)
III - IX
X - II
1567
III - IX
X - II
2168
Phú Thọ
36
21,24
23,3
16,3(T1)
III - IX
X - II
1761
7
21,17
23,3
16,4(T1)
19,48
23,6
17,4(T1)
III - IX
X - II
1746
Vinh
5
18,41
23,9
17,9(T1)
V - XII
X - II
1868
Đồng Hới
5,8
16,02
25,6
21,3(T1)
VII-I
II-VII
2089
Quảng Ngãi
8,0
15,08
25,8
21,5(T1)
VII-I
II-VII
1036
1492
6
12,15
26,5
23,9(T1)
IX-XII
II-VII
1360
Huế
Duyên hải
Nam TB
Nha Trang
Tây nguyên
9
Kontum
536
2447
12,41
24,2
21,4(T12)
IV-X
XII-III
1934
16,2(T12)
IV-XI
XII-III
1820
IV-XI
XII-III
Đà Lạt
1500
IV-IX
X-III
1113
Dầu Tiếng
25
27,0
24,8(T1)
Bến Cát
4,9
26,6
24,5(T1)
TP HCM
8,8
27,0
25,7(T1)
1840
Cần Thơ
3
10,02
27,0
26,3(T1)
V-XI
XII-IV
1604
Cà Mau
2
9,10
26,5
24,9(T1)
IX-XI
Trùng Khánh
Phó Bảng
Sa Pa
Độ cao
(m)
40
259
520
1482
1581
Bảng 2: So sánh khí hậu theo độ cao
Nhiệt độ Nhiệt độ tối Nhiệt độ tối
TB năm cao tuyệt đối thấp tuyệt
(0C)
(0C)
đối
(0C)
22,7
39,5
- 1,1
21,3
39,8
- 2,1
19,9
36,3
- 3,0
15,7
10
Bảng 3: Độ lạnh CU trung bình 10 năm của một số tỉnh Miền Núi phía Bắc
STT
Tiểu vùng
Độ cao
T0 Trung bình
Độ lạnh
(m)
tháng lạnh nhất
CU
TB Tối
TB tối
cao
thấp
1
Trùng Khánh
531,5
17,55
9,22
291,3
2
Nguyên Bình
491,4
18,70
9,85
236,7
3
Sa Pa
1584,2
12,55
6,38
615,8
9
Hoàng Su Phì
539,3
21,00
11,20
139,7
10 Tam Đường
964,8
18,30
9,60
256,0
11 Sìn Hồ
1533,7
14,60
6,20
521,6
12 Tủa Chùa
18,30
9,60
243,9
13 Bình Lư
20,80
10,30
167,25
14 TP Điện Biên
670,7
20,65
17,55
164,1
21 Mộc Châu
971,9
17,40
9,68
281,3
Các dẫn liệu nêu trên là cơ sở để xác định vùng Trung du Miền núi phía Bắc là địa bàn CAQ
Á nhiệt đới và CAQ ôn đới độ lạnh thấp.
Thành phần CAQ trong vùng rất đa dạng theo độ cao gồm những loại như sau:
Vùng thấp dưới 500 m: chuối, dứa, ổi, đu đủ, táo, hồng xiêm. CĂQ có múi: mít, nhãn Á nhiệt
đới, xoài Á nhiệt đới, hồng địa phương, bơ, na...
Vùng cao trên 500 m: Đào, mận, hồng dòn, lê Châu Á hay Nasi (Tai Nung 2, Tai Nung 6).
Đất thích hợp nhất cho các loại CAQ là: đất phù sa ven sông, suối; đất nâu đỏ, đất nâu vàng,
nâu tím, đất xám mùn. Đất xám bạc màu vùng Trung du và một số nơi miền núi cũng có thể
trồng CAQ nhưng cần bón phân nhiều.
2.2 .Vùng đồng bằng sông Hồng – Vùng CAQ Á nhiệt đới:
Vùng này gồm 9 tỉnh nằm trong tam giác châu thổ sông Hồng. Nhiệt độ bình quân cả năm là
240C. Tháng giêng là tháng lạnh nhất với nhiệt độ 16,50C. Khí hậu chia làm hai mùa chính:
Mùa đông lạnh và khô từ tháng 10 – 2; mùa mưa nóng ẩm từ tháng 3 – 9. Khí hậu nằm trong
tiêu chí của vùng CAQ Á nhiệt đới.
Các CAQ tiêu biểu của vùng này là: nhãn, vải. Đây là 2 cây có biểu hiện phản ứng á nhiệt đới
rõ nhất. Vải chỉ trồng được ở một số vùng có mùa đông lạnh như Lục Ngạn Bắc Giang.
Những năm mùa đông ấm, nóng nhãn thường bị mất mùa. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa
có nghiên cứu nào ở phía Bắc về yêu cầu nhiệt độ lạnh để phát triển mầm hoa của 2 loại cây
trên. Cây ăn quả khác của vùng: hồng xiêm, cam, quít, bưởi, khế, táo. Cây bơ được trồng ở
một điểm tại Hà Nam và cho thu nhập tốt.
2.3. Vùng duyên hải Bắc Trung bộ: Vùng CAQ á nhiệt đới chịu ảnh hưởng nhiệt đới
Sơn, bao gồm những khối núi lớn nối với nhau bằng những cao nguyên bằng phẳng thành bậc
thềm hay lượn sóng thoải dần đến thung lũng sông Mêkông. Miền này bao gồm các tỉnh
KonTum, Gia Lai, ĐăkLăk, Lâm Đồng và Đăk Nông.
Các dẫn liệu của Bảng 1 cho thấy:
- Tây nguyên thuộc khí hậu nhiệt đới nhưng do ảnh hưởng chia cắt địa hình nên mát hơn
nhiều so với Thành phố Hồ Chí Minh. Có nơi khí hậu còn mang tính á nhiệt đới như Đà Lạt,
Pleiku.
- Loại cây trồng thích hợp: nhiệt đới, á nhiệt đới thậm trí CAQ ôn đới chịu lạnh thấp. Cà phê,
chè, cao su là những cây công nghiệp chiếm diện tích lớn của vùng. Tuy nhiên tính đa dạng
của khí hậu còn cho phép lựa chọn nhiều loại CAQ cho miền này nhất là khu vực Gia Lai,
Kontum nơi còn quĩ đất nông nghiệp khá. Đất thích hợp cho CAQ: Feralit đỏ, vàng; Feralit
nâu đỏ, vàng mùn, đất xám.
2.6. Miền Đông Nam Bộ - Vùng CAQ nhiệt đới
Miền này bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, Tây Ninh, Đồng
Nai, Bình Dương, Bình Phước, Ninh Thuận và Bình Thuận, thuộc khí hậu nhiệt đới. Tuy
nhiên nền nhiệt độ ở vùng đất đỏ trên các bực thềm phù sa cổ ở độ cao 500-200 m có hạ chút
ít từ 0,5 – 10C so với đồng bằng sông Cửu Long. Dao động nhiệt độ ngày đêm cũng lớn hơn.
Lượng mưa ở Đông Nam Bộ cũng lớn hơn ĐBSCL do gồm các cao nguyên Tây Nguyên. Tuy
nhiên Đông Nam Bộ lại có vùng Ninh Thuận và Bình Thuận ít mưa với trung tâm khô hạn
Phan Rang có lượng mưa trung bình năm không tới 700 mm. Lựa chọn CAQ tối ưu cho vùng
này là nhóm CAQ nhiệt đới, á nhiệt đới có tính thích ứng rộng. Riêng Ninh Thuận nên lựa
chọn CAQ chịu hạn, ưa nắng như nho, gia súc ưa khí hậu khô như cừu, dê cũng thích hợp cho
vùng.
12
Các loại đất thích hợp cho CAQ trong vùng là Feralit nâu, đỏ; Feralit nâu vàng, đất phù sa
Tánh Linh và các ven sông suối; các vùng đất xám Tây Ninh, Lái Thiêu, Củ Chi cũng trồng
được CAQ nhưng cần đầu tư cao.
cây bắt đầu ra hoa. Thời kỳ này dài hay ngắn là tuỳ thuộc vào giống, loài. Ví dụ thời kỳ
này rất ngắn ở cây chuối, dứa, dâu tây, đu đủ..., nhưng lại rất dài ở các cây ăn quả lâu năm
như mít, măng cụt, sầu riêng, vải...Ở thời kỳ này, ở một số cây như cây cam quýt, táo tây
có thể xuất hiện gai và một số đặc điểm khác đặc trưng cho các loài hoang dại tổ tiên của
chúng.
- Thời kỳ cho sản lượng được tính từ khi cây bắt đầu ra hoa. Thời kỳ này được đặc trưng
bởi sự sinh trưởng mạnh mẽ và năng suất cao. Ở giai đoạn này cây đã ổn định các tính
trạng và đặc tính đặc trưng cho giống. Để có những vườn cây đồng đều về kích thước và
chất lượng người ta thường tiến hành nhân giống vô tính khi cây đang ở thời kỳ cho sản
lượng cao.
- Thời kỳ già cỗi được đặc trưng bởi sự giảm sút đáng kể cả về sinh trưởng sinh dưỡng và
sinh trưởng sinh thực, và cuối cùng cây chết.
3.3. Thuyết già đi và trẻ hóa mang tính chu kỳ
13
Krenke (1940) phân biệt tuổi chung và tuổi riêng của cây và từng bộ phận riêng rẽ
của nó. Tuổi riêng của các bộ phận trên cây (chồi, cành, lá vv.. ) là thời gian kể từ khi xuất
hiện bộ phận đó đến thời điểm tính. Tuổi chung của chính bộ phận đó được tính bằng tổng
của tuổi riêng cộng với tuổi của cây mẹ đến thời điểm xuất hiện bộ phận đó. Với cách tính
như vậy thì tuổi chung của chiếc lá 30 ngày tuổi trên cây còn trẻ ít hơn của chiếc lá cùng tuổi
ở cây trưởng thành.
Krenke còn đưa ra các khái niệm về tiềm năng sống ban đầu và tiềm năng sống còn lại
của cây, theo đó tiềm năng sống ban đầu được hiểu là tuổi thọ trung bình của cây, còn tiềm
năng sống còn lại là hiệu số của tiềm năng sống ban đầu và thời gian sống mà cây đã trải qua.
Tất cả mọi sinh vật sống đều già và chết. Tuổi thọ trung bình của cây là một tính trạng
di truyền được hình thành trong quá trình tiến hóa và được quy định trước hết bởi các yếu tố
nội tại và có thể bị rút ngắn hoặc kéo dài bởi các yếu tố ngoại sinh. Các biện pháp kỹ thuật
canh tác có thể làm thay đổi và điều khiển quá trình già đi và trẻ hóa của cây như: làm đất,
học giả nêu trên, để thuận tiện cho việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật một cách dễ dàng và
hiệu quả vào sản xuất người ta phân biệt 2 chu kỳ trong vòng đời của vườn cây: chu kỳ lớn và
chu kỳ nhỏ.
3. 4. 2. 1. Chu kỳ lớn
Do hiện nay người ta nhân giống cây ăn quả bằng các biện pháp khác nhau, mà phổ biến
hơn cả là các phương pháp nhân giống vô tính, vì vậy về sự phát triển cá thể tồn tại sự khác
14
biệt lớn giữa cây nhân giống bằng hạt và nhân giống vô tính. Cây nhân giống vô tính không
phải trải qua thời kỳ phôi thai và kể từ khi mới hình thành cây mới đã có tiềm năng ra hoa nếu
điều kiện dinh dưỡng và điều kiện ngoại cảnh cho phép, vì nó tiếp tục quá trình phát dục của
cây mẹ mà trên đó nó đã phát triển thành thục, nhờ vậy mà cây nhân giống vô tính mau
chóng bước vào thời kỳ cho quả hơn cây nhân giống bằng hạt. Căn cứ vào thực tế sản xuất
vòng đời của cây có thể chia thành 4 giai đoạn phát triển khác nhau như sau:
Thời kỳ cây non: tính từ khi trồng đến khi ra quả lần đầu tiên. Đặc điểm của thời kỳ này là
sinh trưởng sinh dưỡng chiếm ưu thế so với sinh trưởng sinh thực. Bộ khung tán và khung rễ
của cây sinh trưởng khá nhanh, trong điều kiện chăm sóc tốt số lần ra lộc trong năm nhiều, tán
mau chóng được mở rộng. Ở thời kỳ này các biện pháp kỹ thuật canh tác cần tập trung vào
việc tạo hình, cắt tỉa nhẹ, tăng cường quản lý đất, bón phân hợp lý để thúc đẩy bộ rễ phát
triển, hình thành cơ quan dinh dưỡng, nâng cao hiệu quả quang hợp, tăng tích luỹ dinh dưỡng
trong cây để đạt mục đích ra quả sớm, cây chóng bước vào thời kỳ đạt năng suất cao.
Thời kỳ sinh trưởng, kết quả: từ khi bắt đầu ra quả đến khi cây sai quả. Đặc điểm của thời
kỳ này là ở đầu thời kỳ tán cây và bộ rễ vẫn sinh trưởng mạnh, mở rộng nhanh nhất, sinh
trưởng vẫn chiếm ưu thế, cành khung vẫn tiếp tục hình thành. Do cành sinh trưởng mạnh, lộc
ra nhiều làm tiêu tốn nhiều dinh dưỡng nên phân hoá mầm hoa yếu, rụng hoa, rụng quả nhiều
dẫn đến tỉ lệ đậu quả thấp. Khi tuổi cây cao lên, cành khung sinh trưởng yếu dần, số lượng
cấp cành và cành ngang tăng lên, phân hoá mầm hoa tốt hơn và đậu quả cũng được cải thiện,
cây bước vào thời kỳ sai quả. Các biện pháp chăm sóc vườn cây trong thời kỳ này tập trung
15
3.4.2.2. Chu kỳ nhỏ
Trong chu kỳ sinh trưởng hàng năm của cây có thời kỳ sinh trưởng khi mà các hoạt
động sống trong cây xẩy ra mạnh mẽ và thời kỳ ngủ nghỉ tương đối hoặc mọi hoạt động xẩy
ra một cách chậm chạp.
Trong thời kỳ sinh trưởng cây ra lộc, ra hoa, kết trái, bộ rễ cũng phát triển mạnh.
Trong thời kỳ ngủ nghỉ thì ngược lại, không có các dấu hiệu rõ rệt về sinh trưởng, phát triển
của cây. Người ta phân biệt hai trạng thái ngủ nghỉ: ngủ nghỉ sâu và ngủ nghỉ tạm thời. Khi
gặp điều kiện ngoại cảnh bất thuận (lạnh, khô hạn) cây ngừng sinh trưởng và chuyển sang
trạng thái ngủ nghỉ tạm thời, khi gặp điều kiện thuận lợi cây lại tiếp tục sinh trưởng. Đó là
phản ứng thích nghi của cây với các điều kiện bất thuận của môi trường đã được hình thành
trong quá trình tiến hoá. Cây ở trạng thái ngủ nghỉ sâu do các yếu tố nội sinh quyết định, và
dù điều kiện bên ngoài thuận lợi cây vẫn không chuyển sang trạng thái hoạt động tích cực cho
đến khi cây đã được thoả mãn nhu cầu ngủ nghỉ. Sự ngủ nghỉ sâu được coi là một đặc điểm
thích nghi được hình thành trong quá trình tiến hoá của cây sau một mùa sinh trưởng và ra
quả, các hoạt động dường như ngừng lại để giảm tiêu hao dinh dưỡng, các sản phẩm quang
hợp được dự trữ trong các bộ phận của cây để chuẩn bị cho một mùa sinh trưởng mới. Khi
cây ở giai đoạn ngủ nghỉ sâu nồng độ các hoocmôn ức chế sinh trưởng trong mầm cao (axít
abscixíc), trong khi đó hàm lượng các chất kích thích sinh trưởng thấp (auxin, gibberillin,
xitokinin... ), các chất dinh dưỡng hữu cơ dự trữ dưới dạng tinh bột, gluxit cao. Mức độ và
thời gian ngủ nghỉ biến động tuỳ theo giống loài và điều kiện khí hậu nơi trồng. Ở các vùng
khí hậu á nhiệt đới và ôn đới thời kỳ sinh trưởng và ngủ nghỉ ở cây xẩy ra theo mùa trong mối
quan hệ chặt chẽ với điều kiện khí hậu, còn ở các vùng nhiệt đới do có nền nhiệt độ cao quanh
năm và mùa sinh trưởng dài nên các thời kỳ sinh trưởng và ngủ nghỉ ít rõ rệt hơn.
3.5. Một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển các bộ phận của cây
3.5.1. Bộ rễ
Kể từ khi sinh ra rễ chính sinh trưởng và ăn sâu vào đất, tiếp tục dài ra và phân nhánh
vậy khả năng chịu hạn, chịu lạnh của cây sẽ được tăng cường và đảm bảo cho bộ phận trên
mặt đất hoạt động tốt, năng suất ổn định, kéo dài tuổi thọ vườn cây.
3.5.2. Bộ phận trên mặt đất
Như đã đề cập ở trên, sự già đi và trẻ lại xảy ra đồng thời trong suốt quá trình phát
triển cá thể ở các giống loài cây ăn quả chủ yếu là giống nhau, chỉ khác nhau về tốc độ, mức
độ và ở đặc điểm các pha vật hậu. Chính điều này quyết định đến khả năng ra quả sớm hay
muộn và tuổi thọ ngắn hay dài ở các loài cây ăn quả khác nhau.
Sự thay mới cành: tồn tại sự khác biệt về tuổi thọ của các loại cành trên cây. Cành khung có
tuổi thọ dài hơn nhiều so với các loại cành mọc ở phía ngoài tán, vì vậy người ta thấy có sự
già đi và chết mang tính chu kỳ của các loại cành này, để rồi cây lại tạo ra các đợt cành mới
thay thế. Quy luật này được thể hiện rất rõ trong thực tế khi cây càng lớn thì diện tích tán
mang lá và quả càng dịch chuyển ra phía ngoài, còn phía trong tán chỉ có cành khung và trơ
trụi lá. Các cành mang quả thường yếu đi sau một mùa mang quả và nhiều cành sau đó khô và
chết. Để tạo mới cành mang quả và hạ thấp độ cao của tán sau mỗi vụ thu hoạch quả người ta
tiến hành cắt ngắn cành đã mang quả để kích thích các mầm phía dưới nẩy chồi, hoặc cắt bỏ
hẳn những cành yếu và khô. Khi cây đã già các cành khung sẽ được thay thế bởi các cành
vượt mọc ra từ mầm ngủ lâu năm trên thân chính hoặc các cành cấp 1- 2. Bằng cách đó người
ta trẻ hoá vườn cây và một chu kỳ sinh trưởng mới bắt đầu thay thế bộ tán đã già yếu.
Tính cân đối về hình thái: đó là sự giống nhau một cách tương đối về sinh trưởng và phát
triển ở các phần tán khác nhau của cây, nhờ đó tồn tại có sự giống nhau một cách tương đối
về số lượng lộc, độ lớn của cành, mức độ phân cành ở các hướng tán khác nhau đảm bảo cho
tán cây phát triển cân đối về các hướng.
Tính cục bộ: ở một số cây ăn quả tồn tại tính cục bộ ở các bộ phận riêng rẽ của cây. Đó là sự
cung cấp dinh dưỡng từ các lá quang hợp trên cành cho các bộ phận đang hình thành gần nhất.
Người ta cũng thấy hiện tượng các chất dinh dưỡng hữu cơ do lá tổng hợp dự trữ trong các
cành dinh dưỡng không dịch chuyển từ cành này sang cành khác khi mùa thu đến, nhưng các
cành mang quả lại có khả năng thu hút các chất dinh dưỡng này từ cành dinh dưỡng gần nhất.
Tính cục bộ càng thể hiện rõ ở các cành khung ở một số cây ăn quả như vải, nhãn. Hiện tượng
ra quả cách năm ở các phần tán khác nhau trên một cây vải thể hiện tính độc lập của cành
khung rõ rệt.
Cây trồng
Nhu cầu lạnh (đvl)
Số ngày
Quả hạnh
200-300
8-14
Mơ
700-1000
29-41
Táo tây
1200-1500
52-60
Anh đào
1100- 1300
46-54
Nho châu âu
450-700
19-29
Đào
1000-1200
42-50
Lê
1200-1500
50-62
Mận
700-1100
29-42
Hồng
18
+ Chọn địa điểm: từ trước đến nay sản xuất cây ôn đới ở các vùng nhiệt đới chủ yếu được giới
hạn ở các vùng có độ cao lớn để có thể thoả mãn nhu cầu lạnh của cây, vì cứ lên cao 100 m
nhiệt độ giảm trung bình 0,60C. Vì nhiệt độ tối thấp trung bình/ năm là yếu tố ảnh hưởng
mạnh hơn bất cứ yếu tố nào khác đến cảm ứng lạnh nên chỉ tiêu này được sử dụng để so sánh
với nhiệt độ cực tiểu trung bình năm ở những nơi mà đã sản xuất thành công ở nhiệt đới. Ở
nước ta sản xuất cây ăn quả ôn đới có nhu cầu lạnh thấp tập trung chủ yếu ở một số nơi ở các
tỉnh miền núi phía bắc như Hà Giang, Lào Cai, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Lâm đồng.
+ Chọn giống có cảm ứng lạnh thấp: chọn giống có nhu cầu lạnh thấp và chịu nhiệt cũng là
biện pháp quan trọng. Trong các giống táo tây chịu nhiệt thì giống Anna được coi là lựa chọn
tốt nhất nhờ khả năng chịu nhiệt cao và cnhu cầu lạnh thấp nhất (khoảng 200-300 giờ lạnh).
Trong thực tế giống Anna được trồng phổ biến ở Philippin, Indonesia và một số nước khác.
Anna là giống được nhà tạo giống Aba Stein (Israel) chọn ra từ giống táo địa phương Ein
Sheme. Đây là giống chín sớm và được coi là giống táo mùa hè có phẩm chất tốt nhất. Anna
trồng ở Trại giống Phó Bảng, tỉnh Hà Giang sinh trưởng, tự rụng lá và ra hoa, đậu quả tốt, cho
thu hoạch vào tháng 6-7 với chất lượng thơm ngon và quả có màu sắc đẹp.
+ Các biện pháp kỹ thuật hỗ trợ khác: khi việc chọn địa điểm và chọn giống vẫn chưa thoả
mãn hoàn toàn nhu cầu ngủ nghỉ của cây, đặc biệt đối với những giống có nhu cầu lạnh cao,
thì việc áp dụng các biện pháp hỗ trợ khác là cần thiết nhằm hạn chế sinh trưởng sinh dưỡng,
tăng số lượng mầm hoa, làm rụng lá nhân tạo và kích thích nẩy chồi đồng đều. Biện pháp kỹ
thuật hữu hiệu nhất để hạn chế sinh trưởng sinh dưỡng cảu cây ôn đới trong điều kiện nhiệt
đới có nền nhiệt độ cao và ẩm như ở nước ta là tạo tán thích hợp thông qua việc tạo hình cắt
tỉa, uốn cong cành hàng năm để cho cành mang quả phát triển. Để xử lý rụng lá nhân tạo và
phá ngủ cho cây người ta sử dụng các hoá chất như: thiourea 10%, cyanamide 1-2%, KNO3,
DNOC, DNPB... Ngoài ra, xử lý rụng lá nhân tạo có thể tiến hành theo lối thủ công trong điều
kiện sản xuất nhỏ ở hộ gia đình.
3.6. Quá trình ra hoa, đậu quả và hiện tượng ra quả cách năm
Mô hình 4: Thiếu N: cây ít hoa và hiếm khi đậu quả.
Theo các tác giả có thể chuyển đổi từ mô hình này sang mô hình khác bằng cách điều
chỉnh mức độ đốn tỉa và liều lượng phân bón.
Học thuyết về hoocmôn ra hoa: Julius Sach (1888) là người đầu tiên đưa ra khái niệm gọi là
chất tạo hoa. Chất này được hình thành trong lá do kết quả của quá trình quang hợp, sau đó
Chailakhyan (1968) đổi tên thành Florigen, cây chỉ phân hoá mầm hoa khi tích luỹ đủ
hoocmôn ra hoa. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa xác định và phân lập được chất gọi là
Florigen, mặt khác vẫn chưa xác định được những quy luật rõ ràng về vai trò của các
hoocmôn thực vật khác trong việc kiểm soát sự ra hoa.
Học thuyết về quang chu kỳ đối với sự phân hoá hoa đúng với nhiều loại cây ngắn ngày,
còn cây ăn quả lâu năm phần lớn thuộc nhóm cây trung tính, chỉ có cây dứa được biết đến như
một cây ngày ngắn không bắt buộc. Các yếu tố khí hậu khác như nhiệt độ thấp và khô hạn có
tác dụng kích thích ra hoa trên nhóm cây ăn quả hơn là quang chu kỳ.
3.6.2. 1. Thời gian bắt đầu phân hoá mầm hoa và các điều kiện tiên quyết
Vai trò của hoocmôn nội sinh: Lá được coi là cơ quan nhận cảm kích thích tố ra hoa
Florigen, sau đó Florigen được vận chuyển đến mầm và kích thích phân hoá hoa. Các nghiên
cứu cũng chỉ ra rằng nếu trên cây đang có quả thì Florigen được chuyển đến quả cùng với các
sản phẩm quang hợp khác để nuôi quả và ngăn cản chất này đến mầm. Ngược lại, Luckwill
(1970) cho rằng quả cung cấp một phần các sản phẩm tự nó đồng hoá được đến mầm và các
chất này ngăn cản mầm phân hoá hoa.
Ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng: các chất kích thích sinh trưởng có ảnh
hưởng khác nhau đến sự phân hoá mầm hoa. Các nghiên cứu của Grochuwska (1968), Hoad
(1979) cho thấy auxin (IAA, NAA) thúc đẩy phân hoá hoa, còn axit gibberillic (GA) có ảnh
hưởng ức chế (Manivel, 1973). Xử lý zeatin (cytokonin tự nhiên) và benzyladenin (cytokinin
tổng hợp) có tác dụng khắc phục được ảnh hưởng của rụng lá đối với phân hoá mầm hoa trên
táo tây.
Tương tác giữa hạt và lá: Chan và Cain (1967) đánh gia vai trò của hạt trong phân hoá hoa
bằng cách thụ phấn nhân tạo cho hoa của giống táo không hạt Spencer. Táo Spencer không
hạt vì hoa của nó không hấp dẫn đối với ong. Kết quả cho thấy 95 % cành mang quả không
hạt năm sau lại ra hoa, còn những cành mang quả có tổng số hạt 1-15 hạt chỉ có 20% cành
mùa xuân hoắc đầu mùa hè khi tượng tầng đang phân chia mạnh và bóc vỏ dễ dàng. Biện
pháp khoanh vỏ thường được áp dụng trên những cây ra quả cách năm, những cây có xu
hướng sinh trưởng sinh dưỡng quá mức hoặc đơn giản là để xử lý ra hoa trái vụ. Nông dân
Vùng đồng bằng Sông cửu Long thường khoanh vỏ hoặc dùng dây kẽm xiết cành để làm cho
nhãn ra hoa trái vụ. Tuy nhiên, nếu tiến hành khoanh vỏ thường xuyên sẽ làm cho cây nhanh
chóng kiệt sức, dẫn đến ra hoa nhiều nhưng đậu quả kém và vườn cây nhanh chóng tàn lụi
như ở các vùng trồng cam Đường canh hiện nay ở Từ Liêm, Hà Nội và Văn Giang, Hưng
Yên.
Cắt tỉa cành trong thời gian cây ngủ nghỉ làm giảm bớt số lượng mầm trên tán dẫn đến sự
mất cân đối giữa sinh trưởng của bộ rễ và tán cây. Sự bất cân đối này sẽ thúc đẩy tán sinh
trưởng mạnh hơn vì lượng chất dinh dưỡng dự trữ trong cây cung cấp cho một số lượng mầm
ít hơn nên số lượng mầm hoa tăng lên. Những cây không cắt tỉa cành ra hoa kém hơn do cây
sinh trưởng yếu và tán rậm rạp. Cắt tỉa cây trong mùa sinh trưởng là biện pháp tốt đối với
vườn cây còn trẻ nhưng không có lợi cho vườn cây trưởng thành. Ở các giống chín sớm cắt tỉa
mùa hè có thể tiến hành kết hợp với việc sử dụng các chất kìm hãm sinh trưởng để điều khiển
cây ra hoa theo ý muốn.
Cắt tỉa rễ - một biện pháp kỹ thuật truyền thống trong nghề làm vườn - có tác dụng làm
giảm chất dinh dưỡng dự trữ trong rễ để cung cấp cho mầm và loại bỏ bớt đỉnh sinh trưởng rễ
nơi sản sinh ra các hoocmôn do rễ tổng hợp được, nhờ đó sinh trưởng sinh dưỡng của mầm
giảm tạo cơ hội thuận lợi cho phân hoá mầm hoa. Cắt tỉa rễ còn tạo ra stress tạm thời về nước
và dinh dưỡng khoáng cho cây, làm tăng tỉ lệ C:N. Biện pháp này được áp dụng rộng rãi trong
sản xuất cam quýt để sản xuất cây quất cảnh ở miền bắc, chanh tứ thời, khắc phục hiện tượng
ra quả cách năm ở cam Đường canh vv...
Hun khói là biện pháp được áp dụng rộng rãi trong sản xuất xoài trái vụ ở Philippin trên
giống xoài Carabaovà Pico trước những năm 1980 (Bondad, 1989).
3.6.3. 2. Tổ hợp ghép: nhiều nghiên cứu đã xác định rằng những giống ra hoa khoẻ ghép trên
các gốc ghép có ảnh hưởng lùn thường bước vào thời kỳ ra quả sớm hơn so với ghép trên gốc
ghép bình thường. Sự ra hoa sớm trên các gốc ghép lùn là do sinh trưởng hạn chế của bộ rễ
giúp cho cây kết thúc sinh trưởng sinh dưỡng sớm để chuyển sang sinh trưởng sinh thực.
3.6.3.3. Xử lý các chất kìm hãm sinh trưởng: các chất này có tác dụng làm giảm sự tổng hợp
Brannaman, 1960). Ở xoài có khoảng 400-6000 hoa/chùm nhưng tỉ lệ đậu quả chỉ là 0,250,5% (Phạm Thị Hương, 2001). Nguyên nhân chính là do sự rụng hoa và quả. Đối với phần
lớn các loại cây ăn quả thường xẩy ra hai đợt rụng hoa và quả tập trung:
- Đợt 1: khi nở hoa những hoa không được thụ phấn sẽ nhanh chóng rụng sau khi nở.
- Đợt hai: quả rụng khi còn nhỏ vì không được thụ tinh đầy đủ hoặc do bị sâu bệnh hại.
Ngoài ra, sau khi quả đã vào chắc cũng có thể xẩy ra rụng quả do thiếu nước, thiếu dinh
dưỡng, sâu bệnh hoặc gió bão.
3.6.4.2. Sự sinh trưởng của quả
Sự sinh trưởng của quả thường trải qua 4 thời kỳ: thời kỳ phân bào, thời kỳ phân hoá các
bộ phận của quả, thời kỳ giãn bào, thời kỳ chuyển mã và chín. Trong các thời kỳ khác nhau
các yếu tố nội sinh và ngoại cảnh ảnh hưởng khác nhau đến sinh trưởng của quả, vì vậy hiểu
rõ ảnh hưởng của các yếu tố này giúp cho người sản xuất đưa ra những biện pháp kỹ thuật
thích hợp để chăm sóc và quản lý vườn cây.
Yếu tố nội sinh
- Số lượng tế bào/quả: trọng lượng cuối cùng của quả tuỳ thuộc vào số lượng tế bào/quả
và tiềm năng sinh trưởng của chúng, vì vậy các yếu tố ngoại sinh và nội sinh làm kéo dài
thời kỳ phân bào và thúc đẩy tế bào phình to đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển
của quả.
- Tỉ lệ lá/quả là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng đến tỉ lệ đậu quả và trọng lượng quả.
Theo Magnet (1931) và Weinberger (1932) các giống đào và táo tiêu chuẩn ghép trên
gốc ghép hữu tính cần 10 lá cho 1 quả phát triển, nhưng để quả đạt kích thướcthương
phẩm tỉ lệ này là 50-70lá/ quả. Nếu cây không được tỉa hoa tỉa quả sớm kích thước quả
bé và không đạt tiêu chuẩn thương phẩm. Cây mang quá nhiều quả còn có thể làm gãy
cành và ra quả cách năm. Các giống quýt thường đậu quả rất sai nên quả nhỏ, tỉ lệ quả
đạt tiêu chuẩn thương phẩm thấp, vì vậy để cải thiện tình hình này ở một số nước như
Nhật, Mỹ, Israel và Úc thường tỉa bớt quả bằng cách phun ethphon hoặc NAA loãng cho
cây khi cây mới đậu quả (Wheaton, 1981).
- Thời gian chín của quả: Tồn tại sự cạnh tranh dinh dưỡng gay gắt giữa sinh trưởng sinh
dưỡng và sinh trưởng của quả ở những giống chín sớm do tỉ lệ lá/quả còn thấp khi cả lộc
và quả đều sinh trưởng mạnh. Cùng một chỉ số lá/quả như ở giống chín sớm các giống
chín muộn thường cho quả thường to hơn, năng suất cao hơn nhờ thời gian sinh trưởng
năm cây hoàn toàn không ra hoa hoặc ra hoa nhưng năng suất không đáng kể gọi là năm "mất
mùa". Trong những năm được mùa người sản xuất và phân phối thường phải đối mặt với với
các vấn đề như: khủng hoảng thừa, giá cả thấp, các vấn đề về bảo quản, chế biến các sản
phẩm ứ đọng. Trong những năm mất mùa người sản xuất bị thua lỗ do thất thu, còn người tiêu
dùng phải trả giá cao do khan hiếm sản phẩm. Vì vậy, sản xuất đạt năng suất, phẩm chất cao
và ổn định là mục đích của các nhà vườn sản xuất hàng hoá hiện nay hướng tới.
Vấn đề ra quả cách năm thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và có các ý kiến
khác nhau về nguyên nhân gây ra hiện tượng này, trong đó các yếu tố thường được kể đến là
đặc tính của giống, tuổi cây, tỉ lệ C:N, điều kiện canh tác và điều kiện khí hậu.
Đặc tính của giống: thực tế sản xuất cho thấy các giống khác nhau thể hiện tính ra quả cách
năm khác nhau trong cùng một điều kiện canh tác và khí hậu. Trong các giống vải thì vải
thiều Phú hộ ra quả thất thường nhất, sau đó đến vải thiều Thanh Hà, còn các giống vải chua
và vải nhỡ ra quả đều đặn và cho năng suất ổn định hơn. Trong các loài cam quýt thì quýt có
tính ra quả cách năm nhiều hơn các loài khác (Davies và Albrigo,1998). Giống Cam đường
canh (là một giống quýt) trồng ở ngoại thành Hà Nội cũng là giống ra quả cách năm rất điển
hình. Các giống chín muộn thường có xu thế ra quả cách năm nhiều hơn các giống chín sớm.
Tuổi cây: tuổi cây là yếu tố quan trọng chi phối nhịp điệu sinh trưởng của cây. Khi còn trẻ
cây ra quả đều đặn hơn do sự tạo mới đều đặn các cành mang quả, khi cây đã già (> 15 tuổi)
tính ra quả cách năm rõ rệt hơn. Ở những vườn xoài quảng canh ở Ấn độ hiện tượng ra quả
một lần trong 5 năm vẫn thường gặp (Sen, 1946).
Các yếu tố khí hậu: các yếu tố khí hậu bất thuận như mưa, ẩm độ không khí cao, nhiệt độ
thấp trong thời gian cây nở hoa có thể biến một năm được mùa thành năm mất mùa ở một số
cây ăn quả, đặc biệt là xoài, vải, nhãn vì điều kiện như vậy thuận lợi cho nấm bệnh phát triển
và cản trở quá trình thụ phấn thụ tinh. Cây xoài trồng ở miền bắc chỉ đậu quả tốt nếu thời tiết
ấm và khô trong thời gian hoa nở. Khô hạn trong thời gian quả sinh trưởng là yếu tố gây rụng
quả mạnh ở nhiều loại cây ăn quả có tính chịu hạn thấp như các cây trong họ cam quýt. Đối
-
23
4.1.Khí hậu
4.1.1. Nhiệt độ
Vì nhiệt độ ảnh hưởng mạnh mẽ đến các phản ứng sinh lý, sinh hoá xảy ra trong cây,
nó xác định tốc độ các chức năng khác nhau của cây như sự hấp thụ nước và dinh dưỡng
khoáng, quang hợp vv. Tốc độ quang hợp giảm ở nhiệt độ thấp, dẫn đến sinh trưởng của cây
bị chậm lại. Nhiệt độ còn ảnh hưởng mang tính quyết định đến hàng loạt các quá trình sinh
trưởng và phát triển của cây như: sự ra hoa, giới tính hoa, sự ngủ nghỉ của hạt và mầm, quá
trình chín của quả.
Nhiệt độ tối thấp và tối cao mà phần lớn cây có thể sinh trưởng được nằm vào khoảng
4,5-36oC. Nhiệt độ tối thích cho sinh trưởng của cây thay đổi tuỳ theo loài, giống cây và các
giai đoạn phát triển của chúng. Thêm vào đó, từng bộ phận riêng rẽ của cây có thể chịu đựng
ngưỡng nhiệt độ tới hạn khác nhau, trong đó rễ thường mẫn cảm với nhiệt độ thấp hơn thân,
mầm hoa mẫn cảm hơn mầm lá. Ví dụ: cây xoài trưởng thành có thể chịu được nhiệt độ dưới
00C trong vài ngày, nhưng hoa bị chết ở 4,50C trong vài giờ. Khi nhiệt độ mùa đông xuống tới
10-150C cây xoài sẽ ra hoa rất sai, nhưng để cây thụ phấn tốt nhiệt độ ban ngày lý tưởng trong
thời gian này là 21-270C. Đối với cây vải tổng thời gian nhiệt độ tương đối thấp là yếu tố
quyết định đến sự ra hoa. Có sự khác biệt lớn về nhu cầu nhiệt độ thấp giữa các giống. Giống
Brewster cần hơn 200 giờ ở nhiệt độ 7,20C để cây ra hoa, các giống khác cần 200 giờ ở nhiệt
độ 13-140C. Ở Trung quốc giống vải nếp và Hoài chi phân hoá mầm hoa tốt ở 0-100C, ở 11140C các chùm hoa vẫn có giá trị kinh tế, < 18-190C cây vẫn ra hoa nhưng chùm hoa có nhiều
lá và không có giá trị kinh tế. Giống vải Trần tử cần tích luỹ đủ 200 giờ ở nhiệt độ 70C cây
mới ra hoa đậu quả tốt, nếu < 150 giờ cây ra hoa và đậu quả kém.
Ở nhiệt độ không thay đổi cây sinh trưởng và ra quả chậm hơn so với cây ở điều kiện
biến động nhiệt độ giữa ngày và đêm. Đó cũng chính là sự khác biệt giữa sản xuất cây ăn quả
ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Các cây á nhiệt đới yêu cầu nhiệt độ đêm thấp hơn nhiệt độ
ngày. Nhóm cây ôn đới cần mùa đông lạnh để thoả mãn nhu cầu ngủ nghỉ để hoàn thành chu
kỳ sinh trưởng, phát triển hàng năm của mình.
Ngưỡng nhiệt độ tối thấp và tối cao trong các tháng lạnh nhất và nóng nhất là chỉ tiêu
quan trọng quyết định đến vùng phân bố và sản xuất các loại cây ăn quả, khi nhiệt độ vượt
qua giới hạn này sẽ gây tổn hại cho cây. Nhiệt độ thấp gây hại chủ yếu cho các loại cây ăn
quả nhiệt đới, trong khi đó nhiệt độ cao gây hại trên nhiều loại cây ôn đới và một số cây á