BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Tên đề tài: “Kinh nghiêm giup hoc sinh lớp 4B hoc tốt phân môn
Luyên từ và câu”.
Họ và tên: Ngô Thị Sinh - Nguyên Thị Bich Châu.
Đơn vị công tac: trương Tiêu học Truông Mit A.
1. Lý do chon đề tài:
Học sinh ở cac lớp Tiêu học cần thành thạo cac kỹ năng: Nghe, nói,
đọc, viết. Trong đó phân môn Luyện từ và câu sẽ giúp cac em phat triên bốn
kỹ năng trên. Từ đó, cac em có vốn kiến thức ngôn ngữ, đơi sống và vốn
kiến thức văn học cho bản thân. Nên chúng tôi chọn đề tài: “Kinh nghiêm
giup hoc sinh lớp 4B hoc tốt phân môn Luyên từ và câu”.
Đề tài này, giúp cac em hiêu nghia từ, ôn lại cấu tạo từ, nắm vững cac
dạng câu và có thói quen dùng từ đúng, nói viết thành câu. Từ đó cac em
nắm vững tiếng Việt khi giao tiếp và học tốt ở cac phân môn khac.
2. Mục đích, đối tương, phạm vi, phương pháp nghiên cứu:
Giúp học sinh hiêu được nghia của từ, dùng từ đặt câu chinh xac.
Học sinh lớp 4B trương Tiêu học Truông Mit A năm học 2014 - 2015.
Nghiên cứu cac tài liệu về Tiêu học, sach tham khảo, cac tài liệu bồi
dưỡng về phương phap dạy học môn Luyện từ và câu lớp 4.
Trao đôi, rút kinh nghiệm và học hoi ở cac bạn đồng nghiệp.
3. Giả thuyết khoa hoc:
Nếu ap dụng tốt cac phương phap, hình thức dạy học theo kế hoạch đề
tài thì chất lượng học tập ở phân môn Luyện từ và câu đạt mục tiêu giao dục.
4. Đề tài đưa ra giải pháp mới:
Ap dụng phương phap, hình thức tô chức dạy học theo chuẩn kiến thức,
kỹ năng và điều chỉnh giảm tải cac môn học giúp cac em có được năng lực
học tốt phân môn Luyện từ và câu lớp 4.
5. Hiêu quả áp dụng:
Hiệu quả nâng dần ở từng giai đoạn, giúp cac em có nhiều tiến bộ trong
tiếp trong cuộc sống. Phân môn luyện từ và câu ở Tiêu học không trực tiếp
rèn những kỹ năng nghe, nói, đọc, viết mà muốn thực hiện điều đó thì học
sinh phải có những hiêu biết về nghia của từ và câu. Từ và câu là một trong
hai đơn vị có vai trò quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ, nó là đơn vị nho
nhất đê thực hiện chức năng giao tiếp. Đồng thơi vai trò của từ và câu trong
hệ thống ngôn ngữ quy định chiếm vị tri cần thiết cho việc dạy học chương
trình Tiếng Việt ở bậc Tiêu học.
Đê đạt được mục đich giúp cho học sinh hiêu và nắm được những
kiến thức đơn giản về từ và câu thì cần bồi dưỡng cho học sinh thói quen
dùng từ đúng, chinh xac, nói viết thành câu, có ý thức sử dụng đúng tiếng
việt khi giao tiếp. Việc học từ và câu sẽ tạo cho học sinh giàu vốn từ ngữ,
biết kết hợp từ, biết dùng từ đê đặt câu. Điều đó giúp cac em nắm vững tiếng
Việt và giúp cac em học tốt cac môn học khac.
Trên cương vị một ngươi quản lý phải có trach nhiệm đầu tư đủ cơ sở
vật chất, trang thiết bị dạy học, tạo điều kiện đê giao viên nghiên cứu đôi
mới phương phap sao cho phù hợp với nội dung, chương trình sach giao
khoa. Tô chức cac chuyên đề bồi dưỡng thương xuyên theo chu kỳ đê giao
viên trao đôi kinh nghiệm học tập nhau. Tô chức nghiên cứu khoa học sư
phạm ứng dụng sâu rộng, giúp giao viên bô sung kiến thức qua thực nghiệm
đối với đồng nghiệp và học sinh.
Là một giao viên nhiều năm giảng dạy, chúng tôi nhận thấy học sinh
ở lớp 4 cac em chưa hiêu nghia của từ, sử dụng từ chưa đúng, đặt câu còn
sai, chưa rõ nghia. Từ đó, cac em hiêu nội dung bài chưa rõ ràng. Đê giúp
cho cac em học tốt phân môn Luyện từ và câu chúng tôi chọn đề tài “Kinh
nghiêm giup hoc sinh lớp 4B hoc tốt phân môn Luyên từ và câu”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài “Kinh nghiêm giup hoc sinh lớp 4B hoc tốt phân môn
Luyên từ và câu” sẽ giúp cac em hiêu được nghia của từ, biết dùng từ đặt
thức tô chức dạy học theo kế hoạch đề tài thì chất lượng học tập của học sinh
nói chung đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu nói riêng sẽ đạt được mục
tiêu giao dục theo chuẩn kiến thức, kỹ năng do Bộ Giao dục và Đào tạo quy
định.
Điều cần thiết Phó Hiệu trưởng phải triên khai đầy đủ cac văn bản chỉ
đạo, thương xuyên bô sung cac tài liệu nghiên cứu và trang thiết bị sao cho
phù hợp với xu hướng phat triên nâng cao. Từ đó giúp giao viên cập nhật đủ
thông tin và thực hiện giảng dạy có hiệu quả.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
Nghe, nói, đọc, viết là nhiệm vụ rất quan trọng của phân môn Luyện
từ và câu. Đây là phân môn có vị tri đặc biệt quan trọng trong chương trình
vì nó đảm nhận công việc hình thành và phat triên kỹ năng nghe, nói, đọc,
viết. Đó là bốn kỹ năng quan trọng nhất ở bậc Tiêu học.
Rèn học sinh nghe, nói, đọc, viết đúng câu văn, đoạn văn là một vấn
đề luôn luôn được mọi ngươi quan tâm. Trong qua trình trưởng thành của
học sinh thì trương Tiêu học là nơi cac em được chinh thức học tập, rèn
luyện một cach nghiêm túc nhất. Vì vậy việc truyền đạt kiến thức cho học
sinh cần có sự kết hợp đồng bộ giữa thầy và trò.
Trong phân môn Luyện từ và câu, cac em được tiếp xúc với những
bài học có nội dung thuộc nhiều chủ đề khac nhau về cuộc sống con ngươi,
về thiên nhiên, về đất nước,…Từ đó kiến thức cac em ngày càng được mở
rộng thêm vốn sống của cac em ngày càng phong phú hơn.
a. Các văn bản chỉ đạo của Ngành:
Quyết định số 16/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 05 thang 05 năm 2006
của Bộ trưởng Bộ Giao dục và Đào tạo về việc Ban hành chương trình Giao
dục phô thông.
kiến thức kỹ năng cac môn học, bam sat nội dung chương trình giảm tải cac
môn học do Bộ quy định.
Khó khăn:
Trong qua trình học thì trình độ học tập của cac em không đồng đều,
cũng còn một số em chưa chú ý nghe thầy, cô giảng bài, còn thụ động. Cac
em ngại nói, ngại trình bày nhận xét đanh gia bạn mình hoặc trả lơi câu hoi.
Cac em chưa mạnh dạn, tự tin trước tập thê. Về phia gia đình chưa quan tâm
đúng mức. Từ đó cac em học phân môn Luyện từ và câu còn hạn chế, chưa
đap ứng với mục tiêu đề ra.
Ngoài ra, cac em học chưa tốt phân môn Luyện từ và câu là do một
số nguyên nhân sau:
Về mở rộng vốn từ: Đa số học sinh chưa hiêu nghia của cac từ ngữ
của từng chủ điêm, nên khi tìm từ thì cac em lúng túng, khó tìm được.
Về cấu tạo từ: Theo chương trình Luyện từ và câu ở lớp 4 hiện nay
giúp cho học sinh biết đơn giản về cấu tạo của ba loại từ: Từ đơn, từ ghép, từ
lay. Nhưng trong qua trình giảng dạy học sinh chưa xac định được đâu là từ
ghép, đâu là từ lay.
Vi dụ: Từ “bơ bãi” cả hai tiếng đều có nghia. Đối với từ lay là từ có
hai tiếng trở lên phối hợp theo cach lặp âm hay vần hoặc lặp lại hoàn toàn.Vì
vậy “bơ bãi” là từ ghép chứ không phải là từ lay.
Về từ loại: Cac em chưa nắm vững thế nào là danh từ, động từ, tinh
từ nên việc nhận dạng từ rất khó, đều khó hơn là yêu cầu cac em phải đặt câu
có danh từ, động từ hay tinh từ:
Về cac kiêu câu, dấu câu: Cac em phân biệt kiêu câu chưa đúng như
câu hoi, câu kê, câu khiến, câu cảm. Sau mỗi kiêu câu cac em cũng chưa biết
sử dụng cac dấu câu nào cho phù hợp. Ngoài ra cac em còn nhầm lẫn giữa 3
mẫu câu Ai là gì? Ai làm gì? Ai thế nào? nên chưa đặt đúng câu theo mẫu.
Điều này sẽ ảnh hưởng rất nhiều trong giao tiếp và trong việc học tập
em học tốt.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng thương xuyên liên lạc với gia đình vì gia
đình là một phần của xã hội, là một môi trương giao dục có nhiều nét đặc
trưng, một loại trương học không có gì thay thế được. Từ đó có biện phap
thich hợp đê giúp cac em học tốt. Điều quan trọng nhất của giao viên là phải
tìm hiêu tâm tư của cac em, đặc biệt là qua trình tư duy của cac em. Đối với
học sinh Tiêu học, thầy cô là ngươi quan trọng nhất. Do vậy, vai trò của giao
viên trở nên khó khăn hơn và mang ý nghia quyết định hiệu quả trong việc
hình thành và phat triên thói quen, kỹ năng nghe, nói, đọc, viết đúng văn bản
Tiếng Việt của học sinh.
Ngoài việc nghiên cứu, tìm tòi đưa ra những biện phap đê hướng dẫn
học sinh học tốt, giao viên còn phải biết kết hợp nhuần nhuyên cac phương
phap dạy học giúp cac em hứng thú và tự tin không còn lo lắng hoặc sợ sệt
trong học tập.
B. Giải pháp chứng minh vấn đề cần giải quyết:
Phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4 có cac dạng bài: Mở rộng vốn từ,
ôn về cấu tạo từ, làm quen về từ loại, ôn tập cac kiêu câu và thành phần của
câu.
Mục tiêu của phân môn này: Giúp cac em mở rộng vốn từ theo từng
chủ điêm, củng cố hiêu biết về cấu tạo từ và cac kiêu câu (thông qua cac bài
học cụ thê). Cung cấp cho học sinh một số hiêu biết về từ loại (thông qua
một số bài tập). Rèn cho học sinh cac kỹ năng dùng từ đúng, nói và viết
thành câu, có ý thức sử dụng Tiếng Việt trong giao tiếp và học Tiếng Việt.
Vì thế đê giúp học sinh học tốt ở phân môn Luyện từ và câu cần thực hiện
cac biện phap sau:
a. Tạo sự gần gũi để hoc sinh có hứng thu hoc tập:
và đanh gia cho nhau trong qua trình làm bài. Giao viên không nhất thiết
phải giải nghia từ mà gợi ý cho học sinh liên tưởng, so sanh đê tìm nghia từ.
Với những từ ngữ trừu tượng, it gần gũi học sinh, giao viên cần đưa vào
hoàn cảnh cụ thê đê học sinh hiêu nghia. Cuối cùng giao viên chốt lại ý kiến
của học sinh.
Vi dụ: Khi dạy bài: “Tinh từ” (tuần 11), ở phần nhận xét sau khi cho
học sinh đọc ki, thảo luận theo cặp tìm cac từ chỉ tinh tình, tư chất, hình
dang, kich thước và đặc điêm của sự vật, rồi trình bày trước lớp. Học sinh
nhật xét giao viên sẽ chốt lại: Cac từ nêu trên là tinh từ. Vậy tinh từ là gì?
Học sinh trả lơi - giao viên kết luận và ghi bảng (Tinh từ là những từ miêu tả
đặc điêm hoặc tinh chất của sự vật, hoạt động, trạng thai…)
c. Dạy nội dung mở rộng và hê thống hóa vốn từ.
Từ ngữ được mở rộng và hệ thống hóa trong phân môn Luyện từ và
câu ở lớp 4 bao gồm cac từ thuần việt, han việt, thành ngữ, tục ngữ phù hợp
với chủ điêm của từng đơn vị học. Đê học sinh hiêu nghia và biết dùng từ
ngữ, thành ngữ, tục ngữ… thuộc cac chủ điêm. Giao viên cần gợi ý cho học
sinh liên tưởng, so sanh hoặc tra từ điên đê hiêu nghia. Với những từ ngữ
trừu tượng, it gần gũi với học sinh, cần đưa chúng vào ngữ cảnh cụ thê đê
làm rõ nghia.
Giao viên cần làm cho học sinh hiêu rõ tên chủ điêm. Từ đó, học sinh
có cơ sở tìm thêm cac từ khac theo chủ điêm đã cho. Căn cứ vào từng đối
tượng học sinh, giao viên cần lựa chọn biện phap dạy học cho phù hợp. Tạo
điều kiện cho tất cả học sinh đều được tham gia thực hành theo năng lực của
mình từng bước vươn lên đạt chuẩn kiến thức kỹ năng.
Vi dụ: Khi dạy bài Mở rộng vốn từ: Ý chi- Nghị lực (tuần 12 trang
118 SGK).
Bài tập 4: Mỗi câu tục ngữ sau khuyên ngươi ta điều gì?
Vi dụ: Khi dạy bài: “Luyện tập về từ ghép, từ lay” (tuần 4 trang 38
SGK)
Giao viên hướng dẫn học sinh phân loại từ “banh trai” (chỉ chung cho
cac loại banh) nên là từ ghép có nghia tông hợp.
Giao viên đặt câu hoi: Hãy kê tên một số loại banh mà em biết? (banh
tét, banh mì, banh cam, banh trang…). Vậy cac loại banh vừa nêu là chỉ
riêng cho một loại banh nên là từ ghép phân loại.
đ. Dạy về từ loại.
* Danh từ: là từ chỉ sự vật, hiện tượng.
Đối với danh từ chỉ sự vật nếu không thê biêu thị một sự vật đơn giản
như: bàn, ghế, ao, ngươi,…mà biêu thị cac sự vật thành tông thê như: nước,
mưa, quần ao,… thì không thê kết hợp với số lượng. Giao viên có thê cung
cấp cho học sinh một số danh từ thương gặp như:
Danh từ chỉ loại đi với vật thê: cai, con, quả, ngươi,…(ngươi thợ, cây
nhản, con lợn,…) ông, bà,…( ông ki sư, bà bac si,…)
Danh từ chỉ loại đi với danh từ chất thê (vải, nước, sắt, vàng,…) cục,
thanh, tấm, giọt, hạt,…(vi dụ như: tấm vải, giọt nước,…) Danh từ chỉ loại đi
với danh từ chỉ hiện tượng: cơn, làn, trận,…(cơn mưa, trận gió,…)
Danh từ có hai loại: Danh từ chung và danh từ riêng.
Danh từ chung: là tên riêng của một sự vật.
Vi dụ: núi, sông, nhà cửa, ruộng đồng,…
Danh từ riêng: là tên riêng của một ngươi một sự vật hay một địa
danh. Danh từ riêng luôn luôn được viết hoa.
Vi dụ: Tây Ninh, Vàm Co Đông, Kim Đồng,…
Trong chương trình cũng đã lựa chọn những bài tập gắn bó, gần gũi
với cuộc sống của học sinh.
Vi dụ: Bài tập 2 trang 57 sach Tiếng Việt 4 tập 1, yêu cầu viết họ
và tên 3 bạn nam, 3 bạn nữ trong lớp.
Hoa cà phê thơm đậm và ngọt nên mùi hương thương theo gió bay đi
rất xa. Nhà thơ Xuân Diệu chỉ một lần đến đây ngắm nhìn vẻ đẹp của cà phê
đã phải thốt lên:
Hoa cà phê thơm lắm em ơi
Hoa cùng một điệu với hoa nhài
Trong ngà trắng ngọc, xinh và sang
Như miệng em cươi đâu đây thôi….
Đây là bài tập đê rèn luyện về tinh từ và bài này hơi trừu tượng với
học sinh cho cac em phân tich đề bài trước vì yêu cầu của bài không quen
thuộc với học sinh. Tìm những từ biêu thị mức độ của đặc điêm tinh chất của
cac từ in nghiên cụ thê: Hoa cà phê thơm như thế nào? (thơm đậm và ngọt)
nên mùi hương bay đi rất xa. Lần lượt học sinh tìm (trả lơi ca nhân theo
phương phap động não):
Thơm - lắm
Trong - ngà
Trắng - ngọc
Như vậy cac em thấy quen thuộc với cach làm của dạng bài này.
e. Dạy các dạng câu.
* Câu hỏi: là câu nghi vấn dùng đê hoi về những điều chưa biết của
ngươi khac hoặc mình đê hoi mình. Cuối câu hoi có ghi dấu chấm hoi.
Vi dụ: Chiều nay cậu có đi tập nghi thức không? (dùng đê hoi ngươi
khac).
Sao mình lại ngố thế chứ?
Nhưng trong câu hoi thương học sinh chưa chú ý cach hoi sao cho
lịch sự không làm phiền lòng ngươi khac.
Vi dụ: Thưa cô vì sao cô thich mặc ao dài ạ?
Khi hoi ngươi khac không nên hoi những câu tại sao, vì sao những
câu hoi đó làm phiền lòng, câu hoi như buộc phải giải thich là không nên.
VN
Trong 3 kiêu câu trên thì phần đông cac em thương nhằm lẫn kiêu
câu Ai làm gì và câu Ai là gì?
Vi dụ: Bài tập 2, trang 58 sach Tiếng Việt 4. Dùng câu kê Ai là gì?
đê giới thiệu về từng ngươi trong ảnh chụp gia đình em.
Có một số em viết thế này: “Mình muốn giới thiệu với cac bạn từng
thành viên trong bức ảnh gia đình dê thương này. Đây là bố mình. Bố mình
làm ki sư chế tạo may móc. Trước đây mẹ làm thợ may, còn bây giơ mẹ là
đầu bếp. Bên trai bức tranh là anh trai mình là thủy thủ nhi. Còn mình là Út
nhất trong gia đình”.
Khi học sinh đặt câu chưa đúng giao viên cần nhắc lại kiêu câu Ai là
gì? cho cac em nắm và chỉ lại lỗi sai đê cac em sửa chữa cho đúng như:
“Mình muốn giới thiệu với cac bạn từng thành viên trong bức ảnh gia đình
dê thương này. Đây là bố mình. Bố mình là ki sư chế tạo may móc. Trước
đây mẹ là thợ may…trong gia đình”.
* Câu khiến: là câu dùng đê yêu cầu, đề nghị, mong muốn,…của
ngươi nói, ngươi viết với ngươi khac. Khi viết cuối câu khiến có dấu chấm
than(!) hoặc dấu chấm.
Vi dụ: Xin phép cô cho em vào lớp ạ!
Ngoài ra cac em cũng có thê đặt được câu khiến từ câu kê nhưng phải
thêm một số từ như: hãy, đừng, chớ, nên, phải vào trước động từ, thêm từ
lên, đi, thôi, nào,… vào cuối câu hoặc thêm từ đề nghị, xin, mong vào đầu
câu. Nhưng phải thay đôi giọng điệu phù hợp với mỗi câu khiến.
Vi dụ: Câu kê: Hằng đi học chuyên thành câu khiến:
Hằng hãy đi học!
Hằng nên đi học!
Hằng phải đi học!
mộng, ước muốn, ước ao…
Tóm lại: phương phap vấn đap được sử dụng trong tất cả cac tiết học
và phat huy được tinh chủ động, sang tạo của học sinh.
2. Phương pháp giải quyết vấn đề: là giao viên đưa ra những tình
huống gợi vấn đề điều khiến học sinh phat hiện vấn đề hoạt động tự giac chủ
động, sang tạo đê giải quyết vấn đề thông qua sang tạo tri thức rèn luyện kỹ
năng. Khi sử dụng phương phap này, giao viên cần chuẩn bị trước câu hoi
sao cho phù hợp với mục đich cac đối tượng học sinh, giao viên cần chuẩn
bị tốt ý kiến đê giải quyết vấn đề mà học sinh đưa ra.
Vi dụ: Khi dạy bài Mở rộng vốn từ “Đồ chơi - Trò chơi” giao viên
đưa ra một số thành ngữ - tục ngữ sau “Chơi với lửa”; “Ở chọn nơi, chơi
chọn bạn” đê khuyên bạn.
a. Nếu bạn em chơi với một số bạn hư.
b. Nếu bạn em thich trèo lên một chỗ cao chênh vênh, nguy hiêm.
Với tình huống a cac em có thê chọn thành ngữ, tục ngữ “Ở chọn nơi,
chơi chọn bạn”, với tình huống b cac em có thê chọn 1 hoặc 2 thành ngữ, tục
ngữ trên đều được.
Tóm lại: phương phap này có thê hiêu rằng cung cấp tình huống sẽ
có thê có nhiều cach giải quyết hay nhất đê ứng dụng học tập, trong cuộc
sống.
3. Phương pháp phân tích: là phương phap mà học sinh học dưới sự
tô chức của giao viên tiến hành tìm hiêu cac dấu hiệu theo định hướng bài
học, từ đó rút ra bài học. Giúp học sinh tìm tòi huy động vốn kiến thức cũ
tìm ra kiến thức mới tạo điều kiện cho học sinh tự phat hiện kiến thức.
Vi dụ: Khi dạy bài “Câu hoi và dấu chấm hoi” cho học sinh tìm cac
câu hoi trong bài tập đọc “Ngươi tìm đương lên tới cac vì sao” cac em tìm
được hai câu.
Vì sao quả bóng không có canh mà vẫn bay được? (1)
chì gạch chân những từ ngữ quan trọng, quan sat hình vẽ trong sach giao
khoa, đọc ghi nhớ,… Ngoài ra, còn sử dụng trang ảnh, vật thật và cac
phương tiện dạy học khac đúng lúc.
Tổ chức trò chơi hoc tập cho hoc sinh.
Nhằm nâng cao chất lượng của phân môn Luyện từ và câu, chúng tôi
đã sử dụng một số trò chơi trong mỗi tiết dạy. Nhơ vậy mà cac em tich cực
tham gia hoạt động học tập một cach tich cực, những em chậm chạp cũng
thấy năng động hơn. Những em có tinh tự ti cũng hòa nhập cùng cac bạn.
Chúng tôi nhận thấy việc tô chức trò chơi không những giúp cac en năng
động, sang tạo mà còn giúp cac em biết yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, cùng
nhau tiến bộ. Cac em hứng thú tham gia vào cac hoạt động học tập một một
cach tich cực. Có như vậy thì cac em mới nắm vững được kiến thức của từng
loại bài và vận dụng đê làm bài tập đạt hiệu quả. Sau đây là một số trò ch ơi
như:
Trò chơi “Ai tinh, ai nhanh” Ap dụng ở dạng bài: Mở rộng vốn từ
(tìm từ theo chủ điêm, hệ thống phân loại vốn từ).
VD: Bài tập 3, tuần 6. Bài “Mở rộng vốn từ: Trung thực – tự trọng.
Xếp cac từ ghép trong ngoặc đơn vào hai nhóm dựa theo nghia của tiếng
trung (Trung bình, trung thành, trung nghia, trung thực, trung thu, trung hậu,
trung kiên, trung tâm)”.
Trung có nghia là “ở giữa”
Trung có nghia là “một lòng
một dạ
Giao viên giao cho mỗi đội 1 bộ có cac tấm bìa có ghi cac từ ghép
cần sắp xếp. Cac em trong cùng đội tiếp nối nhau chọn tấm bìa có ghi cac từ
đê ghép vào đúng ở mỗi nghia. Mỗi từ đúng đạt một bông hoa. Cac bạn thực
TSHS
26
26
Thời
gian
Đầu năm
HKI
Hoàn thành
TS
%
10
38,5
17
65,4
Chưa hoàn thành
TS
%
16
61,5
9
34,6
Qua kết quả đạt được, chúng tôi nhận thấy với đề tài: “Kinh nghiêm
giup hoc sinh lớp 4B hoc tốt phân môn Luyên từ và câu” bước đầu mang
lại kết quả khả quan so với yêu cầu. Hầu như cac giơ Luyện từ và câu cac
em đều học tự tin, tiếp thu bài sôi nôi hoạt động nhẹ nhàng, chất lượng, đạt
hiệu quả. Qua đó, rèn cho cac em mạnh dạn thê hiện tình cảm của mình khi